Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghi n c u Chính sách và Quản lý, Tập 34, Số 3 (2018) 1-7
Chảy chất xám tại chỗ trong bối cảnh cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0: Một số vấn đề đặt ra*
Đào Thanh Trường*
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, 336 Nguyễn Trãi, , Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 28 tháng 9 năm 2018, Chấp nhận đăng ngày 30 tháng 3 năm 2018
Tóm tắt: Chảy chất xám không còn là câu chuyện của ri ng quốc gia nào, nó đã trở thành một vấn
đề chung của thế giới. Câu chuyện của chảy chất xám với thuật ngữ “brain drain” được sử dụng
bắt đầu từ năm 1963, khi Hiệp hội hoàng gia Anh thấy sự suy giảm chất xám của các nhà khoa
học từ Anh sang Mỹ, gây nguy hiểm cho nền kinh tế của Anh. Sau đó, thuật ngữ này được sử
dụng rộng rãi để mô tả sự di chuyển của các chuy n gia, nhà khoa học từ các nước th ba [1].
Hay như ở Nga, chảy chất xám còn được gọi th m bằng các t n khác nhau như: đánh cắp
chất xám (brain theft) hay câu chất xám (brain bait). Thực chất đây không phải là vấn đề
mới, đặc biệt vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 khi Peter Đại đế thực hiện chính sách thu
hút các chuy n gia có tài năng làm việc tại Nga. Vào đầu thế kỷ 20, trong cuốn “Tư bản và
Công nhân”, V.I. Lenin đã đưa ra kết luận rằng “Nga ngày càng bị bùi lại phía sau, đưa
cho ngoại quốc những người làm việc tốt nhất, trong khi Mỹ ngày càng tiến nhanh hơn, thu
hút những phần dân số năng động và tài năng nhất của thế giới”[2]. Mặc dù được viết năm
1913 nhưng đến nay lời nhận định đó vẫn còn có giá trị.
Đó là những câu chuyện của những thế kỷ trước, bây giờ thế giới đã đổi khác rất nhiều, cả
tr n chiều cạnh lý luận và thực tiễn. Bài viết của tác giả sẽ so sánh quan điểm về chảy chất
xám, xem xét các biểu hiện của chảy chất xám trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 và đưa ra
những vấn đề về chảy chất xám tại chỗ ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: chảy chất xám, cách mạng công nghiệp 4.0, di động xã hội
trong những thập kỷ qua. Cháy máu chất xám
được xem là một trong những nguy n nhân gia
tăng khoảng cách giữa các quốc gia phát triển
và đang phát triển. Các quốc gia phát triển thu
hiện tượng nhân lực chất lượng cao ra nước
ngoài học tập, tu nghiệp, sinh cơ lập nghiệp tại
nước đó, họ cống hiến kiến th c, tài năng họ có
được cho quốc gia mà họ đến. Cùng với tự do
thương mại, xóa bỏ ranh giới, sự “di cư chất
xám” giữa các nước đã trở thành một hiện
tượng mang tính khách quan của thời đại. Dưới
cách tiếp cận của kinh tế học thì sự phân phối
này là hợp lý vì nó tuân theo “quy luật cung cầu” của thị trường lao động. Nói cách khác,
chất xám sẽ chuyển dịch đến nơi mà hiệu năng
sử dụng nó cao nhất. Nó giống với câu nói mà
ông cha ta vẫn thường nói “nước chảy chỗ trũng”.
Hiện tượng chảy chất xám được mô tả dưới
hai hình th c: Th nhất, những cá nhân được
đào tạo trong nước nhưng di cư ra nước ngoài
làm việc để có m c lương hay cơ hội nghề
nghiệp tốt hơn. Hình th c này còn được gọi là
lãng phí chất xám vì quốc gia gốc mất nguồn
lực đầu tư vào đào tạo nhưng không được sử
dụng [3]; Th hai, những cá nhân đi học tập,
tu nghiệp ở nước ngoài rồi ở lại sinh sống, làm
việc. Theo Từ điển Britannica, chảy chất xám
được định nghĩa: "Việc di cư của những cá
nhân được đào tạo tại một quốc gia đến một
quốc gia khác làm việc vì lý do m c lương và
điều ki n sống tốt hơn”. Kazlauskiene và
Rinkevieius (2006) cho rằng, nguy n do của
việc di cư là sự ch nh lệch về m c lương giữa
các quốc gia [4]. Cơ hội phát triển tốt hơn cũng
là một lý do di cư của nhân lực có kỹ năng.
luôn có nhu cầu và mong muốn được dịch
chuyển đến những nơi mà lợi ích được tối đa
hóa. Giống như các hiện tượng khác, chảy
chất xám tại chỗ cũng có tác động tích cực và
ti u cực theo các chiều cạnh và quan điểm
khác nhau. Dưới khía cạnh các tác động
dương tính, có thể thấy hiện tượng chảy chất
xám tại chỗ sẽ tạo ra một sự thăng bằng về
mặt lực lượng nhân lực khoa học, bù đắp
được sự thiếu hụt nhân lực khoa học trong
những năm gần đây trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội của đất nước. Trong quá
trình tiến hành nghiên c u nội dung này, tác
giả đã có nhiều cơ hội được quan sát và ghi
chép cũng như có các c liệu để nhận thấy
sự thiếu hụt về nhân lực khoa học đặc biệt là
nhân lực khoa học có trình độ, chất lượng
cao hiện nay. Có những ngành nghề, những
lĩnh vực chuyên môn chỉ có một hay một
số chuyên gia, nhưng nhu cầu thực tế về
giảng dạy, nghiên c u cũng như tiến hành các
công việc có liên quan đến lĩnh vực chuyên
môn là rất lớn. Do vậy, hiện tượng làm thêm,
tham gia cộng tác với các cơ quan ngoài tổ
ch c, chảy chất xám tại chỗ diễn ra như một
tất yếu của dòng chảy chất xám để bù đắp tự
nhiên vào các “lỗ hổng chất xám” đang còn
thiếu hụt trong lực lượng lao động. Việc tận
dụng chất xám này làm tăng cường hiệu suất
chất xám và hiệu suất làm việc của quốc
1990.
Biểu hiện th hai: Hiện tượng một số
cán bộ đang công tác tại các vụ, viện, trung tâm
nghi n c u, các cơ quan nhà nước nhưng lại
làm bán thời gian cho các tổ ch c, các công ty
nước ngoài cũng có thể được coi là chảy chất
xám.
Biểu hiện th ba: Chảy chất xám diễn ra
ở các đối tượng sinh vi n cao đẳng đại học và
học sinh trung học chuy n nghiệp. Nhiều sinh
vi n tốt nghiệp loại ưu không chấp nhận ở lại
trường, hoặc về công tác tại các vụ, viện, trung
tâm nghi n c u. Nhiều học sinh trung học
chuy n nghiệp có tay nghề cao sau khi ra
trường cũng có hiện tượng tương tự.
Biểu hiện th tư: Một số trí th c công
tác tại các cơ quan khoa học đầu não được cử đi
học tập hoặc công tác ở nước ngoài, nhưng sau
đó lại ở lại nước đó làm việc theo đúng chuy n
môn đã được đào tạo.
Biểu hiện th
3
năm: Vấn đề suy giảm
chất xám hay mất dần chất xám cũng được coi
là chảy chất xám. Hiện trạng suy giảm chất xám
quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ,
tăng trưởng dài hạn li n tục về đầu tư nước
ngoài và nguồn lực quốc tế, và sự hình thành
tr n phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu với
hình th c mới về các mối li n kết quốc tế giữa
các công ty và các quốc gia và thay đổi bản
chất của cạnh tranh toàn cầu…”. Dưới góc độ
khoa học quản lý có thể hiểu toàn cầu hóa là
quá trình hình thành hệ thống các quan hệ li n
kết giữa các tổ ch c trong nhiều lĩnh vực tr n
phạm vi toàn cầu.
4
Đ.T. Trường / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghi n c u Chính sách và Quản lý, Tập 34, Số 3 (2018) 1-7
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng gia tăng. Đây vừa là quá
trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu
tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốc
gia. Để tồn tại và phát triển trong môi trường
cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những y u cầu
về tăng năng suất lao động, thường xuy n đổi
mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới
công nghệ, đổi mới phương th c tổ ch c quản
lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn. Đặc biệt,
trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành
tựu to lớn của công nghệ thông tin - truyền
thông, xu hướng phổ cập Internet, phát triển
nhiều phương hướng, chiến lược cho việc phát
triển nguồn nhân lực KH&CN nhưng cũng đem
lại những mối đe dọa li n quan đến chảy chất
xám cho Việt Nam. Và Việt Nam cần xác định
rằng việc chảy chất xám là một điều hiển nhi n
cần phải chấp nhận trong bối cảnh hội nhập
quốc tế này. Nếu không có những định hướng
chính sách kịp thời và đúng đắn, Việt Nam sẽ
rơi vào “bẫy” thiếu hụt nguồn nhân lực
KH&CN chất lượng cao trong một tương lai
không xa ngay cả khi Việt Nam có đủ “số
lượng” nhân tài nhưng “chất lượng” lại được
tận dụng ở nơi khác.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã
ban hành một số văn bản li n quan đến chính
sách thu hút nhân tài, nhân lực chất lượng cao
trong lĩnh vực khoa học và công nghệ như sau:
Nghị định 87/2014/NĐ-CP quy định về thu hút
cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ
(KH&CN) là người Việt Nam ở nước ngoài và
chuy n gia nước ngoài tham gia hoạt động
KH&CN tại Việt Nam; Nghị định 40/2014/NĐCP quy định về việc sử dụng, trong dụng cá
nhân hoạt động KH&CN; và hiện đang dự thảo
Nghị định về chính sách thu hút, tạo nguồn cán
bộ từ sinh vi n tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa
học trẻ. Ngoài ra, còn có Quyết định
322/2000/QĐ-TTg
và
Quyết
nước ta còn ít về số lượng và hạn chế về năng
lực, chưa đáp ng được y u cầu của sự phát
triển đất nước. Việc phân bố nhân lực và cơ cấu
trình độ chưa hợp lý theo vùng, miền và lĩnh
vực hoạt động. Tình trạng hẫng hụt đội ngũ
chưa được khắc phục, thiếu nhân lực khoa học
trẻ. Thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các “kỹ sư
trưởng”, "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu
cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao.
Chưa sử dụng và thu hút được trí tuệ của lực
lượng trí th c, chuy n gia khoa học Việt Nam ở
nước ngoài. Phần lớn nhân lực khoa học và
công nghệ hiện đang tập trung làm việc ở khu
vực nhà nước, trong khu vực tư nhân và doanh
nghiệp còn rất thấp. Tinh thần hợp tác nghi n
c u và kỹ năng làm việc nhóm của cán bộ khoa
học và công nghệ còn chưa cao, khó hình thành
được các nhóm nghi n c u mạnh li n ngành.
Thiếu sự hợp tác giữa các nhà khoa học đ ng
đầu các nhóm nghi n c u. Số lượng các nhà
khoa học đầu ngành, có trình độ chuy n môn
cao và hiện đang tham gia các hoạt động nghi n
c u khoa học mang tính chuy n nghiệp là rất ít
và ngày càng suy giảm. Trong khi đó, các cán
bộ khoa học trẻ lại không được tạo động lực để
phấn đấu theo đuổi và gắn bó với sự nghiệp
khoa học lâu dài. Số lượng cán bộ KH&CN
đông, số tổ ch c KH&CN nhiều, nhưng không
có các tập thể khoa học mạnh, các tổ ch c
KH&CN đạt trình độ quốc tế.
c u xuất sắc để giúp tạo môi trường học thuật
chuy n nghiệp, tiếp cận và phát triển các ý
tưởng nghi n c u.
- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế về khoa
học và công nghệ và những tác động mạnh mẽ
của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhân lực
KH&CN chất lượng cao có th m nhiều cơ hội
di động xã hội, thông qua việc di động trực tiếp
hoặc gián tiếp qua các công cụ kỹ thuật số.
Cuộc cạnh tranh về nguồn nhân lực ngày càng
trở n n gay gắt, đòi hỏi các quốc gia đang phát
triển phải đối mặt với tình trạng chảy chất xám.
Quá trình đào tạo trong nước chưa đủ đáp ng
nhu cầu nâng cao trình độ quốc tế hóa, chuẩn
hóa nguồn nhân lực, kèm theo quá trình di động
xã hội không kèm tái đầu tư chất xám của các
nhóm nhân lực khoa học và công nghệ chất
lượng cao đang đặt Việt Nam trước thách th c
thay đổi.
Triết lý của các chính sách hiện nay chính
là đánh giá chất lượng nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ chất lượng cao thông qua lực
lượng lao động tại chỗ. Các biện pháp quản lý
hành chính với di động xã hội đối với nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao
làm gia tăng rào cản tâm lý, sự ng phó của lực
lượng lao động này với các hoạt động quản lý
của tổ ch c. Trong bối cảnh Cuộc Cách mạng
Công nghiệp 4.01, các tổ ch c ảo (vitual
organizations) trong lĩnh vực khoa học và công
Member States of the Eurasian Economic Union
(EAEU). RUDN Journal of Economics, 25(4),
trang 510-517.
[4] Mattoo, A., Neagu, I. và Özden, Ç. (2008). Brain
waste? Educated immigrants in the US labor
market. Journal of Development Economics,
87(2), trang 255-269.
[5] Kazlauskienė, Aušra và Rinkevičius, Leonardas
(2006). The Role of Social Capital in the HighlySkilled Migration from Lithuania. Journal of
Engineering Economics, 49(4), trang 69-75.
[6] Salt, J. (1997). International Movements of the
Highly. Skilled. OECD Social, Employment and
Migration Working. Papers, No. 3, OECD
Publishing, Paris.
Some Issues on Brain Drain in the Context of the Fourth
Industrial Revolution 4.0
Dao Thanh Truong
1
VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Abstract: Brain drain has become a common problem in the world instead of just a national story.
The story of brain drain was first used in 1963, when the Royal Society of England saw the decline in
the numbers of scientists, in which they moved from the UK to the United States and endangered the
economy of England. This term is widely used to describe the movement of experts and scientists
from third countries. As in Russia, brain drain is also called by different names such as brain theft or
_______
1