VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH
VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH
VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...56
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật xử lý hành viạ nhc tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay.......................................... 56
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý hành viạ nhc tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay.................................................... 57
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật xử lý hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt.............Nam.........................73
KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 79
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế
thị trường sẽ không phát triển nếu không có cạnh tranh, và để thúc đẩy cạnh
tranh thì quảng cáo là một yếu tố hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Do đó, hoạt
động quảng cáo không chỉ đơn thuần là một hành vi thương mại mà nó cũng là
một biện pháp, một hành vi cạnh tranh không thể thiếu trong kinh doanh.
Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được hình thành cùng với sự chuyển
hướng của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường,
quảng cáo là một hành vi thương mại tuy không còn mới mẻ, nhưng hiện tại có
rất loại hình quảng cáo khiến lĩnh vực này đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh
hưởng đến hoạt động cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp nước ngoài và làm xấu môi
trường kinh doanh của Việt Nam. Pháp luật điểu chỉnh với những hoạt động này
còn bất cập. Cụ thể là các văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động quảng cáo
được qui định ở luật quảng cáo 2012, pháp luật điều chỉnh cạnh tranh ở luật cạnh
tranh 2003 có hiệu lực 1/7/2005 Luật Cạnh tranh có hiệu lực góp phần tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Ngoài ra có ít công trình nghiên cứu về Cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực quảng cáo theo pháp luật hiện nay, vì luật cạnh tranh 2018 có hiệu lực là
ngày 1/7/2019 hiện tại khi làm luận văn vẫn chưa có hiệu lực cho nên chưa nắm
rõ tình hình thực trạng của luật, mặt khác luật cạnh tranh 2004 vẫn còn nhiều
điểm bất cập,chưa hợp lý, chưa rõ ràng cụ thể và thiếu tính thực thi vì vậy đề tài
nghiên cứu “Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương
mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là cần thiết và có ý nghĩa.
3.
Mục đích và nhiệmvụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứ : Phát hiện những nguyên nhân, bất cập, mâu thuẫn,
chồng chéo, những vấn đề còn chưa rõ ràng hay bất hợp lý, thiếu khả năng thực
thi trong thực tiễn của các quy đinh pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo
nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh. Từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp
tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
cũng như pháp luật về quảng cáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
2
Một là: Làm rõ những vấn đề về mặt lý luận, về mặt khái niệm, vai trò,
những tác động của quảng cáo đối với sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường.
Hai là: phân tích, nghiên cứu pháp luật thực định về quảng cáo, tính hiệu
quả của cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo.
Ba là: Phát hiện, phân tích những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong nội
dung các qui định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành các qui định đó và đề
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu
dưới góc độ lý luận kinh tế cụ thể làCạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Luận văn có thể
được sử dụng làm tài liệu trong tham khảo trong việc điều chỉnh hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp,
người tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại tại Việt Nam.
Luận văn có thể sử dụng để tham khảo, xây dựng giải pháp nhằm khắc
phục tìnhtrạng quảng cáo gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có kết cấu gồm ba chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo và pháp luật điều chỉnh
Chương 2: Thực trạng chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo ở Việt Nam theo quy định của pháp luật
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay
4
bình ổn giá thành hoặc giảm giá bán và tăng lợi nhuận.
5
Về vấn đề "cạnh tranh" ở Việt Nam, một số nhà khoa học cho rằng, cạnh
tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa - dịch vụ (mua và bán). Mục đích
trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành
lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố "đầu vào" trong chu trình sản xuất - kinh
doanh và nâng cao giá "đầu ra", sao cho giành được mức lợi nhuận cao nhất với
mức chi phí hợp lý nhất.
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau và định nghĩa có thể là khái
quáthay cụ thể đi nữa thì nhìn chung, cạnh tranh có những điểm đặc trưng sau:
-
Là sự ganh đua, tranh giành quyền lợi, ảnh hưởng;
Chủ thể là các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh trong cùng một
thịtrường liên quan;
-
Các chủ thể cạnh tranh đểu có chung một mục đích sinh lời.
Tóm lại, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều có
chung một mục đích là phát triển sản xuất kinh doanh. Hoạt động cạnh tranh
luôn diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định. Do vậy, cạnh tranh
được xem là một hiện tượng xã hội mang bản chất kinh tế và xã hội riêng có.
Bản chất kinh tế củacạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị
trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh
Tôn trọng đạo đức kinh doanh được nhà nước và xã hội chấp
nhận;
Kết hợp hài hoà lợi ích của người kinh doanh với lợi ích của
những
ngườikhác, lợi ích của nhà nước và xã hội.
Hành vi cạnh tranh vi phạm một trong các tiêu chí trên được coi là cạnh
tranh không lành mạnh. Cạnh tranh không lành mạnh làm triệt tiêu đối thủ cạnh
tranh, lừadối khách hàng ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng cũng như
có tác động xấu đến môi trường kinh doanh. Do vậy, pháp luật mỗi nước có cách
gọi khác nhau đối với hành vi này nhưng nhìn chung đều phân biệt cạnh tranh
thành: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có tính chất tương đối và luôn
thay đổi do các hành vi cạnh tranh luôn thay đổi, rất đa dạng và phức tạp cùng
với sự vận động của nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, việc xác định cạnh tranh
lành mạnh hay không lành mạnh còn phụ thuộc vào quan niệm, truyền thống văn
hoá, đạo đức và tập quán kinh doanh. Do đó, về mặt lập pháp, thay vì đưa ra một
khái niệm lập pháp về cạnh tranh không lành mạnh, đa số pháp luật về cạnh
tranh các nước dã liệt kê trong văn bản pháp luật về cạnh tranh nước mình những
hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh và quy định các chế tài xử Lí.
Theo Khoản 2, Điều 10,Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào
7
trái với các hoạt động thực tiễn trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương
mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”
Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam quy định:
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua
hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp
bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Thi trường là khu vực và không gian trao đổi hàng hoá. Nhưng tự
chúng,hàng hoá không thể đi tới thị trường và trao đổi với nhau được, điều đó
chỉ đượcthực hiện thông qua những chủ thể với những quan hệ kinh tế đan xen
phát sinhtrong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng mà sợi dây liên kết với
nhau là traođổi hàng hoá. Đê thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hoá diễn ra nhanh
hơn, hiệu quảhơn, biện pháp tác động trực tiếp chính là quảng cáo.Cho đến nay,
quảng cáo là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoahọc, được coi là một
hiện tượng xã hội gắn liền với hình thái thị trường của mỗiquốc gia.
Khái niệm về quảng cáo được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế:
Trong Xã hội chủ nghĩa quảng cáo là để báo tin đúng đắn về hàng hoá đã
có, về tínhnăng và phẩm chất của hàng hoá. Quảng cáo dùng để khêu gợi những
thị hiếu củangười tiêu dùng, tuyên truyền những hàng hoá mới để có thể nâng
cao trình độ tiêudùng của nhân dân” .
Theo Từ Điển Black’s Law: “ Quảng cáo là việc khuyến cáo, thông báo,
đềnghị, giới thiệu hay đưa ra thông tin để gây sự chú ý của công chúng bằng bất
kỳmột phương tiện nào như bằng miệng hay bằng văn bản hoặc áp phích do
người bán thực hiện bằng bất kỳ cách nào để đáp ứng yêu cầu kinh doanh, không
bị giới hạn về số lương, lời nói và được in trên báo hay các sản phẩm khác hoặc
trên radio hay truyền hình hoặc những hình thức truyền tải thông tin như tờ rơi,
dấu hiệu,catalo hay thư từ ... hay những nhãn hiệu đính kèm”
Dưới góc độ pháp lý:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 của Việt Nam quy định
“Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục
đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới
thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.”[11]
Quảng cáo được thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo.Quảng
cáo là một khái niệm trừu tượng tổn tại dưới dạng âm thanh, chữ viết,lình ảnh.
Do đó, phải được thể hiện trên một vật mang thông tin nhất định là phương tiện
quảng cáo. Các phương tiện quảng cáo ở đây được hiểu là phương tiện thông tin
đại chúng như radio, truyền hình, báo chí, bảng, biển, panô, áp phích.. .hay các
vật thể di động như ô tô, tàu hoả, xe điện, xe đẩy hàng rong... Quảng cáo được
thực hiện thông qua nhiều phương tiện quảng cáo khác nhau, nhưng việc thực
hiện thông qua phương tiện thông tin đại chúng là một đặc trưng ưu thế của
10
quảng cáo so với các hình thức xúc tiến thương mại khác như triển lãm, hội chợ,
trưng bày hàng hoá.
+
Đối tượng của quảng cáo là khách hàng.Nhiệm vụ của quảng cáo
là đưa
thông tin về sản phẩm đến với khách hàngnhằm bán được nhiều hàng hoá, nên
đối tượng tác động trực tiếp của quảng cáo chính là khách hàng. Khách hàng ở
đây có thể hiểu là bán hàng kinh doanh hay người tiêu dùng. Trong đó, bán hàng
kinh doanh có thể coi là đối tượng trung gian,còn người tiêu dùng mới là đối
tượng tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
+
Mục đích của quảng cáo là vì uy tín của sản phẩm, của doanh nghiệp, vì
lợi nhuận.Mục đích của quảng cáo là thuyết phục và thông tin cho dân chúng,
gửi tới họ các thông điệp. Nếu dân chúng nhận được một thông điệp sai sự thật,
thì trong lẩn tới có khả năng họ sẽ không lưu tâm nữa. Nếu như thông điệp gây
nghiệp. Ngược lại, quảng cáo gian dối là một biểu hiện của hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có tác động xấu đến quyền tự do kinh doanh của các doanh
nghiệp khác và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
-
Quảng cáo khuyên khích nhu cầu và quyết định của khách hàng vào
hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp. Vai trò ban đầu của quảng cáo là chức
năng truyền tải thông tin về hàng hoá và dịch vụ đến người tiêu dùng. Thị hiếu
người tiêu dùng thường quyết định phương pháp, cách thức tiếp cận của nhà sản
xuất. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thì người tiêu dùng cũng như
người bán hàng có rất nhiều cách tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và đa dạng.
Vì vậy, trong kinh doanh các doanh nghiệp phải cực kỳ tỉnh táo, cần có những
nghệ thuật quảng cáo tinh vi.Ngày nay, quảng cáo đã trở thành vai trò định hướng
cho tiêu dùng. Điều này làm che mờ các khái niệm truyền thống về quảng cáo do
người tiêu dùng ngày càng có xu hướng sử dụng sàn phẩm, dịch vụ không phải vì
chức năng của nó mà vì vai trò của nó. Quảng cáo có thể tạo ra sự lệ thuộc của
khách hàng vào hàng hoá, dịch vụ được cung cấp.
-
Quảng cáo mang tính định hướng thẩm mỹ, kích thích sáng tạo của các
doanh nghiệp, làm đa dạng hoá phương thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Vai trò này của quảng cáo là hệ quả của vai trò khuyến khích nhu cầu người tiêu
dùng nói ở trên. Bởi lẽ quảng cáo muốn thu hút khách hàng chú ý đến sản phẩm,
dẫn dụ người tiêu dùng thì nó phải thể hiện được sức hấp dẫn, lôi cuốn nội dung
cũng như hình thức của quảng cáo. Theo một học giả người Pháp thì người ta
mua một sản phẩm tức là người ta mua một sự thích thú. Phải chăng vì lý do đó
12
bao trùm hế tmọi hành vi quảng cáo được xem là không lành mạnh. Thực tế có
những hành vi quảng cáo không vi phạm pháp luật nhưng lại vi phạm các quy
phạm đạo đức cũng bị coi là hành vi quảng cáo để cạnh tranh khống lành mạnh.
Đây là lý do phải có sự kết hợp trong điều chỉnh các hành vi quảng cáo không
lành mạnh bằng quy phạm pháp luật và các quy phạm đạo đức, tập quán sẽ được
phân tích ở phần sau của luậnvăn.
+ Căn cứ vào nội dung: quảng cáo trung thực và quảng cáo gian dối. Đây
là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định hành vi quảngcáo nào
là hành vi cạnh tranh lành mạnh hay hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Theo
14
đó, quảng cáo không lành mạnh là những hành vi quảng cáo gian dối, sai sựthật
bằng các thủ pháp như so sánh, đưa thông tin quảng cáo quá lời...với mụcđích xâm
hại trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và đối thủ cạnhtranh.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
Theo quan điểm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, “ điều chỉnh
pháp luật là việc Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng các phương tiện pháp lý
đặc thù quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật, hành
vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác
dộng đến các quan hệ xã hội theo phương hướng nhất định.
Hiểu theo nghĩa này, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo tại Việt Nam là việc Nhà nước định
ra luật và ban hành pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực quảng cáo để dựa vào pháp luật điểu chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
-
Ngăn chặn các hành vi quảng cáo sai trái bằng việc quy định các quyền
và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quảng cáo.
các chủ thể có căn cứ pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình,
tránh vi phạm pháp luật và có thể tố giác hành vi phạm luật;
-
Giải quyết các tranh chấp phát sinh và xử lý vi phạm nhằm mục đích răn
đe, giáo dục;
Xây dụng nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử trong kinh doanh và các
hoạt
động liên quan đến quảng cáo.
-
Nhằm xây dựng trật tự kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động quảng cáo,
khuyến khích cạnh tranh và phát triển kinh doanh một cách lành mạnh thông qua việc
bảo vệ quyền lợi của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, trật tự quản lý nhà nước.
1.2.2.2. Phạm vỉ điểu chỉnh.
Phạm vi điều chinh của pháp luật là phạm vi các quan hệ xã hội được
pháp luật nói chung điều chỉnh. Xác định phạm vi điều chỉnh là xác định “ranh
giới” của việc sử dụng pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Giới
hạn cho phép đó chứa đựng khả năng lựa chọn hành vi của các chủ thể. Việc xác
16
cạnh tranh. Việc xác định được rõ đối tượng điểu chỉnh của pháp luật đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh có ý nghĩa quyết định trong việc xác định
đối tượng áp dụng pháp luật điều chỉnh chúng.
Tuy nhiên, bên cạnh việc xác định được mục đích, phạm vi và đối tượng
điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo, việc xác định những nguyên tắc điều chỉnh để hình thành nên chuẩn
mực phù hợp với đặc thù của lĩnh vực cần điều chỉnh là vô cùng quan trọng.
Những nguyên tắc điều chỉnh pháp luật này sẽ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình
17
xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể một cách logic, đạt được hiệu quả khi
áp dụng vào thực tiễn.
1.2.3. Nguyên tắc điều chỉnh
pháp luật về hành vi cạnh tranh không mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo
1.2.3.1. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh
Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp là yếu tố rất
quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng là đảm bảo quyền
con người. Cùng với sự phát triển, quyền con người được đảm bảo, quyền tự do
kinh doanh tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ và được bảo vệ bằng
khuôn khổ pháp lý... Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh là một trong những lý
luận kinh điển của các học thuyết kinh tế trên thế giới mà điển hình nhất là của
Adam Smith (1723-1790)là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn
người Scotland; là nhân vật mở đường cho phát triển lý luận kinh tế, người cho
rằng hoạt động kinh tế của con người là hoạt động tự do, do “bàntay vô hình”
dẫn dắt hoặc do quy luật khách quan chi phối. Theo ông, đảm bảo tự do kinh tế
doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” [13].
Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh tế theo quy định
của Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý để ghi nhận quyền tự do kinh doanh của
người dân, giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện kinh doanh các ngành, nghề mà
pháp luật không cấm. Quyền tự do kinh doanh được coi là nguyên tắc của các
nguyên tắc khác trong môi trường pháp lý kinh doanh. Quảng cáo thương mại là
một hành vi kinh doanh, do vậy nguyên tắc này cũng được coi là nguyên tắc xương
sống của các quy phạm pháp luật điều chỉnh những hành vi này [15].
19
1.2.3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể tham giavào hoạt
động quảng cáo.
Bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản, được thể
chế hóa trong nhiều văn kiện quốc tế và quốc gia. Nguyên tắc bình đẳng trước
pháp luật phản ánh những nội dung căn bản, đó là, tất cả mọi chủ thể tham gia
hoạt động quảng cáo có vị thế ngang nhau trước pháp luật và có quyền không bị
phân biệt đối xử. Quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh tế được
thể hiện trên hai khía cạnh, bình đẳng khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh
và quyền bình đẳng khi giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong cùng một điều
kiện như nhau, các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo được hưởng quyền và
nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau.
Quyền bình đẳng trước pháp luật còn là quyền không bị pháp luật phân
biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Pháp luật luôn
đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình
đẳng đó bằng việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Pháp luật là
thước đo chuẩn mực của bình đẳng, là công cụ để bảo đảm sự bình đẳng giữa con
người với con người. Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng