VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TÂN
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...56
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay ...........................................56
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay .....................................................57
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật xử lý hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam .......................................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế
thị trường sẽ không phát triển nếu không có cạnh tranh, và để thúc đẩy cạnh
tranh thì quảng cáo là một yếu tố hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Do đó, hoạt
động quảng cáo không chỉ đơn thuần là một hành vi thương mại mà nó cũng là
một biện pháp, một hành vi cạnh tranh không thể thiếu trong kinh doanh.
Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được hình thành cùng với sự chuyển
hướng của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường,
quảng cáo là một hành vi thương mại tuy không còn mới mẻ, nhưng hiện tại có
rất loại hình quảng cáo khiến lĩnh vực này đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh
hưởng đến hoạt động cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp nước ngoài và làm xấu môi
trường kinh doanh của Việt Nam. Pháp luật điểu chỉnh với những hoạt động này
còn bất cập. Cụ thể là các văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động quảng cáo
được qui định ở luật quảng cáo 2012, pháp luật điều chỉnh cạnh tranh ở luật cạnh
tranh 2003 có hiệu lực 1/7/2005 Luật Cạnh tranh có hiệu lực góp phần tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều hình thức quảng cáo không lành
trong lĩnh vực quảng cáo theo pháp luật hiện nay, vì luật cạnh tranh 2018 có hiệu
lực là ngày 1/7/2019 hiện tại khi làm luận văn vẫn chưa có hiệu lực cho nên
chưa nắm rõ tình hình thực trạng của luật, mặt khác luật cạnh tranh 2004 vẫn còn
nhiều điểm bất cập,chưa hợp lý, chưa rõ ràng cụ thể và thiếu tính thực thi vì vậy
đề tài nghiên cứu “Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là cần thiết và có ý nghĩa.
3. Mục đích và nhiệmvụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứ : Phát hiện những nguyên nhân, bất cập, mâu thuẫn,
chồng chéo, những vấn đề còn chưa rõ ràng hay bất hợp lý, thiếu khả năng thực
thi trong thực tiễn của các quy đinh pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo
nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh. Từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp
tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
cũng như pháp luật về quảng cáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
2
Một là: Làm rõ những vấn đề về mặt lý luận, về mặt khái niệm, vai trò,
những tác động của quảng cáo đối với sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường.
Hai là: phân tích, nghiên cứu pháp luật thực định về quảng cáo, tính hiệu
quả của cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo.
Ba là: Phát hiện, phân tích những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong nội
dung các qui định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành các qui định đó và đề
xuất kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu:
Thứ nhất luận văn nghiên cứu các qui định pháp luật điều chỉnh nhũng hành vi
người tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại tại Việt Nam.
Luận văn có thể sử dụng để tham khảo, xây dựng giải pháp nhằm khắc
phục tìnhtrạng quảng cáo gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có kết cấu gồm ba chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo và pháp luật điều chỉnh
Chương 2: Thực trạng chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo ở Việt Nam theo quy định của pháp luật
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay
4
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.
a. Khái niệm về cạnh tranh
Khi nền kinh tế thị trường xuất hiện thì khái niệm cạnh tranh ra đời. Nền
sản xuất hàng hóa ra đời cùng với cạnh tranh và trở thành đặc trưng của kinh tế
thị trường. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế vừa là môi trường,
vừa là động lực nội tại thúc đẩynền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị
trường, các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế có quyền tự do kinh
- Chủ thể là các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh trong cùng một
thịtrường liên quan;
- Các chủ thể cạnh tranh đểu có chung một mục đích sinh lời.
Tóm lại, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều có
chung một mục đích là phát triển sản xuất kinh doanh. Hoạt động cạnh tranh
luôn diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định. Do vậy, cạnh tranh
được xem là một hiện tượng xã hội mang bản chất kinh tế và xã hội riêng có.
Bản chất kinh tế củacạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị
trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh
doanh của mỗi chủ thể cạnhtranh trong quan hệ đối với những người lao động
trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh.
Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ:
Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để
chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh
giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.
b. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế-xã hội, cạnh tranh có tính hai mặt,
hai mặt mâu thuẫn nhưng cùng thống nhất trong một hiện tượng khách quan.
Cạnh tranh có tính tích cực khi nó là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển thông
6
qua việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm....
Nhưng nó sẽ là tiêu cực khi trở thành công cụ để triệt tiêu nhau giữa các doanh
nghiệp bằng nhũng thủ đoạn mà không phải bằng chính năng lực cạnh tranh thực
sự của mình. Dựa vào mục đích và tính chất của các phương thức thực hiện hành
vi cạnh tranh đó, người ta phân cạnh tranh thành hai loại: hành vi cạnh tranh biểu
hiện tính tích cực là cạnh tranh lành mạnh và những hành vi biểu hiện tính tiêu
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” [9].
Tóm lại, dù được định nghĩa dưới hình thức nào thì những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh thường được thể hiện dưới các kiểu điển hình như:
Xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp (sử dụng không xin phép tên doanh
nghiệp; nhái nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng... của doanh nghiệp khác đã được
đăng ký; nhái kiểu dáng, bao bì sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nhầm lẫn
cho khách hàng…); Quảng cáo so sánh, quảng cáo gian dối gây nhầm lẫn;
Khuyến mại bất hợp pháp; Dèm pha bôi nhọ đối thủ; Xâm phạm bí mật kinh
doanh; Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp khách hàng; Cản trở, can thiệp
vào sự lựa chọn của khách hàng trong quá trình mua bán hàng hoá...
Những hành vi này đều dẫn đến hậu quả là vì lợi ích của mình mà gây tổn
hại đến lợi ích của người khác. Nên nó là một hành vi cần phải điều chỉnh bởi
pháp luật để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh.
1.1.2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo.
1.1.2.1 Khái niệm quảng cáo, vị trí, vai trò của quảng cáo.
a. Khái niệm và đặc điểm của quảng cáo.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh như hiện nay thì một trong
những việc thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp không thể thiếu là quảng cáo.
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc
giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt
động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn
truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa
thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
8
9
Theo Điều 2 của Luật Quảng cáo của nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa định nghĩa: “ Quảng cáo là việc mà một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trả
tiền cho việc giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của họ một cách trực tiếp hay giántiếp
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng dưới mọi hình thức để thông
tintrên diện rộng” [11].
b. Đặc điểm của quảng cáo.
Mặc dù có nhiều khái niệm pháp lý khác nhau về quảng cáo thương
mại,nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thể hiện được nhũng đặc điểm cơ bản
saucủa hành vi quảng cáo:
+ Quảng cáo là hoạt động quảng bá, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của nhà
sản xuất.Trong nền kinh tế sản xuất, không có sản phẩm nào sản xuất ra lại tự nó
đi đến tay người tiêu dùng và được người tiêu dùng chấp nhận một cách vô điều
kiện.Bất kỳ một nhà sản xuất nào muốn tiêu thụ được hàng hoá đều phải có hoạt
động quảng bá, giới thiệu về sản phẩm của mình về tính năng, chất lượng, mẫu
mã nhận biết của sản phẩm. Giới thiệu hàng hoá, dịch vụ ở đây được hiểu là giới
thiệu về các tính năng, công dụng, sự thiết yếu của sản phẩm đối với người tiêu
dùng. Chính vì vậy, hoạt động quảng cáo sẽ có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực
kinh tế xã hội khác,như liên quan đến vấn đề sở hữu công nghiệp (nhãn mác
hàng hoá, kiểu dáng côngnghiệp...),y tế (chất lượng sản phẩm), văn hoá (hình
thức giới thiệu có vi phạm đạo đức xã hội, truyền thống văn hoá dân tộc hay
không)...
+ Quảng cáo được thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo.Quảng
cáo là một khái niệm trừu tượng tổn tại dưới dạng âm thanh, chữ viết,lình ảnh.
Do đó, phải được thể hiện trên một vật mang thông tin nhất định là phương tiện
quảng cáo. Các phương tiện quảng cáo ở đây được hiểu là phương tiện thông tin
đại chúng như radio, truyền hình, báo chí, bảng, biển, panô, áp phích.. .hay các
ảnh hưởng giữa các hàng hoá thuộc cùng một loại sản phẩm, nó tác động trực
tiếp đến sự lựa chọn của người tiêu dùng. Do vậy, quảng cáo thương mại với vị
trí là một hoạt động xúc tiến thương mại nhằm phát triển hoạt động kinh doanh,
là một hành vi cạnh tranh quantrọng không thể thiếu trong kinh doanh. Với vị trí
đó, quảng cáo có vai trò rất quan trọng trong cạnh tranh, cụ thể là:
11
- Quảng cáo có vai trò xúc tiến thương mại, quảng cáo tên tuổi của doanh
nghiệp, của sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ
đó,quảng cáo tạo nên sự đe doạ đối thủ cạnh tranh, tạo vị thế độc quyển cho
hàng hoá, dịch vụ của mình trên thương trường. Để đạt được mục đích nói trên,
quảng cáo sẽ tác động theo hai xu hướng đến môi trường cạnh tranh: quảng cáo
trung thực và quảng cáo gian dối. Quảng cáo trung thực có tác động tích cực đến
thị trường thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh
nghiệp. Ngược lại, quảng cáo gian dối là một biểu hiện của hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có tác động xấu đến quyền tự do kinh doanh của các doanh
nghiệp khác và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
- Quảng cáo khuyên khích nhu cầu và quyết định của khách hàng vào
hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp. Vai trò ban đầu của quảng cáo là chức
năng truyền tải thông tin về hàng hoá và dịch vụ đến người tiêu dùng. Thị hiếu
người tiêu dùng thường quyết định phương pháp, cách thức tiếp cận của nhà sản
xuất. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thì người tiêu dùng cũng như
người bán hàng có rất nhiều cách tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và đa dạng.
Vì vậy, trong kinh doanh các doanh nghiệp phải cực kỳ tỉnh táo, cần có những
nghệ thuật quảng cáo tinh vi.Ngày nay, quảng cáo đã trở thành vai trò định
hướng cho tiêu dùng. Điều này làm che mờ các khái niệm truyền thống về quảng
cáo do người tiêu dùng ngày càng có xu hướng sử dụng sàn phẩm, dịch vụ không
phải vì chức năng của nó mà vì vai trò của nó. Quảng cáo có thể tạo ra sự lệ
pháp. Theo đó, quảng cáo không lành mạnh thường là những quảng cáo không
hợp pháp.Pháp luật là một tiêu chí để phân biệt quan hệ pháp luật, hành vi pháp
luật rõ ràng nhất, những hành vi mà pháp luật cho phép là những hành vi hợp
pháp, và ngược lại. Tuy nhiên, pháp luật không phải là một cái áo quá rộng để
bao trùm hế tmọi hành vi quảng cáo được xem là không lành mạnh. Thực tế có
những hành vi quảng cáo không vi phạm pháp luật nhưng lại vi phạm các quy
phạm đạo đức cũng bị coi là hành vi quảng cáo để cạnh tranh khống lành mạnh.
Đây là lý do phải có sự kết hợp trong điều chỉnh các hành vi quảng cáo không
lành mạnh bằng quy phạm pháp luật và các quy phạm đạo đức, tập quán sẽ được
phân tích ở phần sau của luậnvăn.
+ Căn cứ vào nội dung: quảng cáo trung thực và quảng cáo gian dối. Đây
là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định hành vi quảngcáo nào
là hành vi cạnh tranh lành mạnh hay hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Theo
14
đó, quảng cáo không lành mạnh là những hành vi quảng cáo gian dối, sai sựthật
bằng các thủ pháp như so sánh, đưa thông tin quảng cáo quá lời...với mụcđích xâm
hại trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và đối thủ cạnhtranh.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
Theo quan điểm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, “ điều chỉnh
pháp luật là việc Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng các phương tiện pháp lý
đặc thù quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật, hành
vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác
dộng đến các quan hệ xã hội theo phương hướng nhất định.
Hiểu theo nghĩa này, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh
chế điều chinh phù hợp với qui luật vận động của nó mới đạt được hiệu quả pháp
luậtnhư mong muốn.
1.2.2.1. M ục đích điều chỉnh
- Ngăn chặn các hành vi quảng cáo sai trái bằng việc quy định các quyền
và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quảng cáo.
các chủ thể có căn cứ pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình,
tránh vi phạm pháp luật và có thể tố giác hành vi phạm luật;
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh và xử lý vi phạm nhằm mục đích răn
đe, giáo dục;
- Xây dụng nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử trong kinh doanh và các hoạt
động liên quan đến quảng cáo.
- Nhằm xây dựng trật tự kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động quảng cáo,
khuyến khích cạnh tranh và phát triển kinh doanh một cách lành mạnh thông qua việc
bảo vệ quyền lợi của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, trật tự quản lý nhà nước.
1.2.2.2. Phạm vỉ điểu chỉnh.
Phạm vi điều chinh của pháp luật là phạm vi các quan hệ xã hội được
pháp luật nói chung điều chỉnh. Xác định phạm vi điều chỉnh là xác định “ranh
giới” của việc sử dụng pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Giới
hạn cho phép đó chứa đựng khả năng lựa chọn hành vi của các chủ thể. Việc xác
16
định phạm vi điều chỉnh đối với bất kỳ một lĩnh vực pháp luật nào cũng có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó định hướng cho sự phát triển của đối tượng điều chỉnh.
Và nói một cách khác phạm vi điều chỉnh của pháp luật được xác định bằng
chính các quan hệ giữa các chủ thể phát sinh bởi nhóm các hành vi thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực đó.
Phạm vi điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo là phạm vi các quan hệ xã hội được pháp luật quảng
1.2.3.1. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh
Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp là yếu tố rất
quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng là đảm bảo quyền
con người. Cùng với sự phát triển, quyền con người được đảm bảo, quyền tự do
kinh doanh tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ và được bảo vệ bằng
khuôn khổ pháp lý... Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh là một trong những lý
luận kinh điển của các học thuyết kinh tế trên thế giới mà điển hình nhất là của
Adam Smith (1723-1790)là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn
người Scotland; là nhân vật mở đường cho phát triển lý luận kinh tế, người cho
rằng hoạt động kinh tế của con người là hoạt động tự do, do “bàntay vô hình”
dẫn dắt hoặc do quy luật khách quan chi phối. Theo ông, đảm bảo tự do kinh tế
chính là bảo đảm sự tự do cạnh tranh giữa các chủ thể thamgia thị trường trong
đó có việc bảo đảm quyền tự lựa chọn của người tiêu dùngtrong xã hội. Hoạt
động của nền kinh tế là sản xuất cái gì? cho ai? Sản xuấtnhư thế nào? Tất cả đểu
được giải quyết thông qua thị trường. Tuy nhiên, theoP.A Samuel son – nhà kinh
tế học, ông cho rằng hệ thống kinh tế thị trường không phải là hệ thống hỗn độn
vô chính phủ mà là một trật tự kinh tế. Để điều chỉnh nền kinh tế thị trường phá
ttriển hiệu quả, công bằng và có trật tự thì không thể thiếu được “ bàn tay vô
hình” của thị trường và “ bàn tay hữu hình” của Nhà nước. Bởi vì: “ Cơ chế thị
trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó, Nhànước
điều tiết thị trường bằng các chính sách thuế, chi tiêu, trật tự phân phối lưu thông
và luật lệ. Cả hai bên thị trường và Nhà nước đều có tính chất thiết yếu. Điều
hành một nền kinh tế không có Nhà nước hoặc không có thị trường thì cũng như
con người định vỗ tay bằng một bàn tay.
18
Hình ảnh minh họa
Tóm lại, quyền tự do kinh doanh là quyền bất khả xâm phạm của mỗi chủ
bị phân biệt đối xử. Quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh tế
được thể hiện trên hai khía cạnh, bình đẳng khi tham gia vào các quan hệ kinh
doanh và quyền bình đẳng khi giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong cùng một
điều kiện như nhau, các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo được hưởng
quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau.
Quyền bình đẳng trước pháp luật còn là quyền không bị pháp luật phân
biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Pháp luật luôn
đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không
bình đẳng đó bằng việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Pháp
luật là thước đo chuẩn mực của bình đẳng, là công cụ để bảo đảm sự bình đẳng
giữa con người với con người. Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử
lý bằng các chế tài theo quy định của pháp luật. Quyền bình đẳng trước pháp luật,
không bị pháp luật phân biệt, đối xử còn là quyền được hưởng tất cả các quyền
con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh. Quyền được pháp luật
bảo vệ một cách bình đẳng là nhu cầu đòi hỏi cần có phương tiện, công cụ pháp
lý từ phía Nhà nước. Vì vậy, pháp luật ghi nhận các quyền bình đẳng và tạo ra cơ
chế bảo vệ quyền đó khi nó bị xâm phạm, với việc mọi hành vi vi phạm đều phải
bị xử lý như nhau trước pháp luật.
Quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể được thể hiện trên hai
khía cạnh, bình đẳng khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh và quyền bình
đẳng khi giải quyết các tranh chấp nảy sinh.Trong quan hệ pháp luật về quảng
cáo, các chủ thể tham gia vào quan hệ này bao gồm:
20
- Quan hệ giữa chủ thể kinh doanh có sản phẩm quảng cáo và Nhà nước,
trong mối quan hệ này, tính bình đẳng thể hiện ở chỗ các nhà sản xuất đều được
tham gia hoạt động quảng cáo của mình như nhau, không ai được ưu đãi hơn vê
mặt số lượng, nội dung, thời lượng quảng cáo.. .tuân thủ theo các quyền và nghĩa