Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật đất đai từ thực tiễn huyện thanh trì, thành phố hà nội - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG HỮU BẢN

BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG HỮU BẢN

BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2019


nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội...................................50
2.3. Thực tiễn bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thực tiễn tại
huyện Thanh Trì...........................................................................................58
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.................................................................................63
KẾT LUẬN....................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................82


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp được đánh giá là một trong những ngành nghề mũi nhọn
truyền thống của Việt Nam với gần 70% dân số làm nghề nông. Theo thống kê
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm 2018
mặc dù phải đối mặt với 14 loại hình thiên tai gây thiệt hại về kinh tế hơn
2.356 tỷ đồng nhưng khu vực nông - lâm - thuỷ sản vẫn đạt mức tăng trưởng
cao nhất trong giai đoạn 2012 – 2018. Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng của
ngành nông nghiệp ước đạt 29,54 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm
2017, bằng 73% kế hoạch năm và vượt 1,3% mục tiêu quý III đã đề ra [21,
tr1].
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nhà nước chủ trương
đẩy mạnh hoạt động nông nghiệp theo hướng tập trung, tăng cường áp dụng
các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất và hiệu quả khai thác
đất nông nghiệp hiện có. Đồng thời, để tạo điều kiện cho các ngành công
nghiệp phát triển, Nhà nước cũng có chính sách chuyển đổi một phần diện
tích đất nông nghiệp sang phục vụ các hoạt động công nghiệp, xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật. Thực hiện chủ trương này, Nhà nước phải tiến hành thu hồi
đất nông nghiệp của người dân và bồi thường tương ứng với diện tích thu hồi.

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là một vấn đề mang
tính lý luận và tính thời sự nóng bỏng nên đã thu hút nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, nhà lập pháp cũng như các tổ chức, cá nhân hoạt động
liên quan đến lĩnh vực này. Do đó, tính đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp trên nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể liệt kê một số công trình
nghiên cứu đáng chú ý như sau:

2


- Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và kinh nghiệm của một số quốc gia
trên thế giới: Trong nhóm này, có thể đề cập đến bài viết “Vấn đề lý luận
xung quanh khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của TS Nguyễn
Quang Tuyến trong Tạp chí Luật học, số 1/2009; Bài viết “Pháp luật về bồi
thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc –
Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất” của TS Nguyễn Quang Tuyến và THS.
Nguyễn Ngọc Minh trong Tạp chí Luật học, số 10/2010; ……
- Nhóm công trình nghiên cứu về hệ thống quy phạm pháp luật Việt
Nam điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
có: Bài viết “Một số ý kiến trao đổi về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai sửa đổi”
của TS. Nguyễn Thị Nga trong Hội thảo khoa học góp ý Luật đất đai sửa đổi
tại thành phố Hà Nội vào ngày 12/04/2013; Luận án “Pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” của TS. Phạm Thu
Thủy tại Đại học Luật Hà Nội năm 2014; Bài viết “Pháp luật về trình tự, thủ
tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy
sinh trong quá trình áp dụng” của TS. Nguyễn Thị Nga trong Tạp chí Luật

Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Đưa ra định
hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và
nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất .
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trong thời gian vừa qua đã tương đối
đầy đủ, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất. Tác giả luận văn có sự tham khảo các kết quả nghiên cứu trong
các công trình này vào quá trình tìm hiểu các vấn đề của đề tài luận văn.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua hoạt động nghiên cứu các vấn đề lý luận và hệ thống quy định
pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
4


nghiệp, người viết mong muốn tìm ra những điểm bất cập, hạn chế liên quan
đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đồng thời đề xuất những giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nói riêng, cho Việt Nam nói
chung.
Căn cứ mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chính gồm:
(i) Làm sâu sắc thêm một số vấn đề lý luận chung về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp;
Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước

(ii)




Phạm vi nghiên cứu bao gồm nhưng không giới hạn bởi những khía cạnh sau:
vấn đề lý luận chung liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp, quy định pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp…
5.

Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo mục đích nghiên cứu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu
của đề tài, luận văn sử dụng xuyên suốt phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
chính sách đất đai.
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế, lịch sử … để nâng cao hiệu
quả của hoạt động nghiên cứu, đánh giá và bình luận các khía cạnh của vấn đề
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

6


6. Ý nghĩa lý luận thực tiễn
Luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo có sự kết hợp giữa tính
pháp lý và tính thực tiễn, giúp cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm có
cách nhìn sâu sắc hơn về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp. Đặc biệt, thông qua hoạt động phân tích, đánh giá, bình luận các quy
định pháp luật cùng thực tiễn thi hành tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội,

1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một loại đất có tính đặc trưng riêng biệt so với các
loại đất khác trong hệ thống đất đai. Theo quan niệm truyền thống của người
Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa
màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực. Tuy
nhiên, trên thực tế, việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không
chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi
gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm … [9, tr 303].
Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) có định nghĩa
về đất nông nghiệp như sau: “Đất nông nghiệp: Tổng thể các loại đất được
xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi,
nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh
thái, cung ứng sản phẩm cho ngành công nghiệp và dịch vụ” [10, tr427].
Áp dụng cách giải thích của Từ điển luật học, Luật đất đai năm 1987 –
Luật đất đai đầu tiên của Việt Nam – đã ghi nhận: “Đất nông nghiệp là đất
được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, kể cả nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt,
chăn nuôi” (Điều 23). Bên cạnh đất nông nghiệp, dựa trên mục đích sử dụng,
luật đất đai còn phân biệt thêm năm loại đất khác gồm: đất lâm nghiệp, đất
khu dân cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Kế thừa tinh thần của Luật
đất đai 1987, Luật đất đai 1993 tiếp tục công nhận cách định nghĩa về đất
nông nghiệp nêu trên. Có thể thấy, thời điểm này, đất nông nghiệp chỉ là một
8


trong sáu loại đất thuộc hệ thống đất đai quốc gia và có sự tách biệt rõ ràng
với đất lâm nghiệp. Điều này đã đem đến nhiều khó khăn cho người sử dụng
đất khi phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để có thể xây dựng mô hình
trang trại kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng rừng. Bởi trong quá trình
khai thác đất và nâng cao hiệu quả sản xuất, căn cứ chủ trương của Đảng, các

sau:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất quan trọng và không thể
thay thế trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
Thực tế cho thấy, toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp (đặc biệt liên
quan đến trồng trọt) đều cần thực hiện trên một diện tích đất nông nghiệp có
độ màu mỡ phù hợp. Với vai trò là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng quan
trọng, đất đai là một môi trường sống không thể thiếu cho sự phát triển của
hoa màu, cây lương thực. Cho đến hiện nay, mặc dù khoa học đã có những
bước tiến vượt bậc nhưng vẫn không có bất cứ sản phẩm hoặc tư liệu nào có
thể thay thế vai trò của đất trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào
chất lượng đất và cách thức khai thác, cải tạo đất của người sử dụng đất
Đất nông nghiệp là sản phẩm của tự nhiên và bị giới hạn trong một
khoảng không gian xác định, không thể tăng lên về số lượng. Tuy nhiên, sức
sản xuất của đất nông nghiệp lại vô hạn, tùy thuộc vào cách thức khai thác, sử
dụng và chăm sóc đất của người sử dụng đất. Trường hợp đất nông nghiệp
được bảo vệ, cải tạo tốt sẽ góp phần nâng cao năng suất của hoạt động nông
nghiệp và ngược lại, nếu đất nông nghiệp không được chăm sóc tốt, năng suất
cũng như chất lượng nông sản cũng sẽ giảm sút.
Có thể thấy, nếu như giá trị của đất sử dụng vào những mục đích khác
như đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất sản xuất kinh doanh công nghiệp…. phụ
thuộc vào vị trí của đất thì đối với đất nông nghiệp, giá trị của đất lại phụ
10


thuộc vào độ màu mỡ, phì nhiêu và sự chăm bón, cải tạo của người sử dụng
đất. Vì vậy, người sử dụng đất cần có những biện pháp chăm sóc, cải tạo đất
phù hợp để đảm bảo hiệu quả sử dụng đất và nâng cao năng suất khai thác đất.
Thứ ba, đất nông nghiệp có thể chuyển đổi để phục vụ nhiều mục đích
khác nhau

thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng” [10, tr173]. Khái niệm đã phần nào thể hiện rõ bản chất của hoạt động
thu hồi đất nói chung là chấm dứt quyền sử dụng của người sử dụng đất bằng
một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này đã
khẳng định quyền định đoạt của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu
đối với đất đai. Tuy nhiên, khái niệm vẫn chưa bao quát được toàn bộ các
trường hợp thu hồi đất do khái niệm còn sử dụng phương pháp liệt kê các
trường hợp bị thu hồi đất.
Hay căn cứ quy định tại khoản 5 điều 4 Luật đất đai năm 2003: “Thu hồi
đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy
định của Luật này”. Khái niệm đã phản ánh đúng về chủ thể có thẩm quyền
thu hồi đất là Nhà nước (thông qua quyết định hành chính của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền). Tuy nhiên, khái niệm đang hạn chế phạm vi đối
tượng có thể bị Nhà nước thu hồi đất trong đó phải kể đến hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất – chủ thể sử dụng đất bị thu hồi đất phổ biến nhất hiện nay.
Khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong cách định nghĩa của Luật đất đai
2003, Luật đất đai năm 2013 đã ghi nhận:“Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao

12


quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật
về đất đai” (Khoản 11 Điều 3).
Từ khái niệm “thu hồi đất” nói chung, có thể hiểu khái niệm “thu hồi
đất nông nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất
nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho các chủ thể sử
dụng đất theo quy định pháp luật đất đai” [24, tr29]. Như đã phân tích, vấn

Tóm lại, có thể hiểu một cách đầy đủ về khái niệm bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất như sau:
“Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng, phát triển kinh tế, phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất
do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất tuân theo những quy
định của pháp luật đất đai” [24, tr37].
Đất nông nghiệp là một trong những loại đất cơ bản của hệ thống đất đai
nên áp dụng tương tự cách hiểu trên:
“Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế, phải bù đắp những tổn hại về
đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho người
sử dụng đất tuân theo những quy định của pháp luật đất đai” [28, tr37].
1.2 Lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp
Trong tiến trình phát triển của Việt Nam hiện nay, việc thu hồi một phần
đất nông nghiệp để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích
quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc và cộng đồng là một trong
14


những xu thế tất yếu, cần thiết. Với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, nhu cầu về quỹ đất để thực hiện các hoạt động công nghiệp, xây
dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị ngày càng cao. Theo số liệu khảo sát
về diện tích của các loại đất ở Việt Nam hiện nay, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ
cao hơn hẳn so với các loại đất khác. Bởi đến thời điểm hiện tại, nông nghiệp
vẫn là một ngành nghề chủ lực của Việt Nam và đa số người dân của Việt


cho quan điểm trên. Hàng loạt vụ khiếu kiện hành chính của người dân liên
quan đến hoạt động thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
đã diễn ra trên phạm vi cả nước. Thậm chí có nhiều vụ việc được đẩy lên
thành “điểm nóng” với những cuộc biểu tình đông người tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc ngay tại nơi có đất bị thu hồi. Chính điều này đã
khiến các nhà lập pháp và cơ quan thực thi pháp luật cần nghiêm túc xem xét
lại và có những điều chỉnh quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất cho phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy việc điều chỉnh vấn đề thu hồi
và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp bằng pháp luật là một
yêu cầu tất yếu. Khi pháp luật có những quy định cụ thể về vấn đề thu hồi, bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (như các trường hợp thu hồi
đất nông nghiệp, thẩm quyền thu hồi, trình tự, thủ tục thu hồi và chế độ bồi
thường, hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất), bản thân các cơ quan thực thi
pháp luật sẽ có căn cứ pháp lý rõ ràng để triển khai hoạt động thu hồi, bồi
thường cho người dân. Đồng thời, người dân có đất thuộc diện bị thu hồi cũng
có cơ sở thực hiện quyền giám sát, đấu tranh với những hiện tượng tham
nhũng, tiêu cực để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, góp phần bảo đảm
kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp
Trong bất cứ lĩnh vực nào, pháp luật luôn được xem là một trong những
phương thức hiệu quả để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và lĩnh vực
16


bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp cũng không phải là một
trường hợp ngoại lệ. Theo cách hiểu cơ bản nhất, pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà

mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì
được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi
Nội dung nguyên tắc quy định, khi bị thu hồi đất nông nghiệp, người sử
dụng đất được hưởng một trong hai chế độ sau: (i) Giao đất có cùng mục đích
sử dụng với loại đất thu hồi (đây được xem là chế độ ưu tiên); (ii) Trường hợp
không có đất cùng mục đích sử dụng để bồi thường, Nhà nước sẽ bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi (giá đất cụ thể tùy thuộc vào
từng thời điểm và do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành). Nguyên tắc này
thể hiện tính linh hoạt trong hoạt động bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp, tạo cơ chế rộng mở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền được
lựa chọn phương án bồi thường cho phù hợp với tình hình thực tế của từng địa
phương.
Theo đó, việc bồi thường bằng đất nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho
người dân có tư liệu để tiếp tục hoạt động nông nghiệp, không phải chuyển
đổi nghề nghiệp và nơi sinh sống. Do đó, bồi thường bằng đất có cùng mục
đích luôn là phương án được ưu tiên áp dụng trong các trường hợp bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.
Tuy nhiên, đặt vào tình hình thực tiễn, việc bồi thường bằng đất nông
nghiệp có tính khả thi tương đối thấp do quỹ đất nông nghiệp của nước ta hiện
nay còn rất hạn hẹp. Thực tế cho thấy, phần lớn quỹ đất nông nghiệp đã được
phân chia hết cho người dân sử dụng với thời hạn tương đối dài (thậm chí khi
hết thời hạn được giao, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất, người sử dụng
đất có quyền đề nghị gia hạn).
18


Trong khi đó, theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, quỹ đất nông nghiệp lại đang đặt trong xu hướng thu hẹp lại để
chuyển đổi sang phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế cộng đồng, xây

hiệu quả cao và triệt tiêu mầm mống của tranh chấp, khiếu khiện của người
dân.
Thứ tư, trường hợp người sử dụng đất thuộc diện được bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai với
Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực
hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả
ngân sách Nhà nước
Đây là một nguyên tắc chung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi các loại đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Căn cứ quy định
pháp luật hiện hành, khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai
bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến
thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp. Thực tiễn triển khai cho thấy, dù đã có các
quy định về việc xử lý vi phạm trong trường hợp chậm hoặc không thực hiện
nghĩa vụ tài chính cũng như các cơ quan nhà nước thường xuyên đôn đốc
nhắc nhở về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nhưng
hiện tượng chậm hoặc không thực hiện các nghĩa vụ tài chính vẫn diễn ra
tương đối phổ biến. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính là một trong những
nghĩa vụ quan trọng hàng đầu của người sử dụng đất, là căn cứ thể hiện quyền
sử dụng đối với đất. Do đó, để đảm bảo tính công bằng giữa những người sử
dụng đất, khi chấm dứt quyền sử dụng đất thông qua việc bị Nhà nước thu
hồi, người sử dụng đất có trách nhiệm hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ còn tồn
đọng. Thay vì người sử dụng đất phải nộp một khoản tiền nghĩa vụ tài chính
còn tồn đọng để được nhận khoản tiền bồi thường, Nhà nước sẽ trực tiếp khấu
trừ trên khoản tiền bồi thường mà người sử dụng đất dự kiến được nhận.
20


Theo đó, điểm b khoản 1 Điều 30 Luật đất đai 2013 quy định: “Trường
hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu
hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status