SKKN một số giải pháp giúp trẻ 5 6 tuổi phát triển ngôn ngữ tại điểm trường na tao trường mầm non pù nhi - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Để tiến tới một đất nước văn minh, hiện đại, có nền kinh tế và chính trị
vững vàng, có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến thì đòi hỏi phải có những con
người tiên tiến, con người xã hội chủ nghĩa.
Vậy thế hệ kế thừa những thành tựu trên là ai? Câu trả lời không ai khác
đó chính là những mầm non tương lai của đất nước.
Trẻ sinh ra, chào đời với sự ngây thơ, ngộ nghĩnh và lớn lên nhờ vào dòng
sữa mẹ, không chỉ thế giọng nói vỗ về, tiếng hát và lời ru của mẹ là chất men
xúc tác hình thành ở trẻ một khả năng duy nhất chỉ loài người mới có: “Khả
năng dùng ngôn ngữ để giao tiếp”.
Để phát triển toàn diện cho trẻ, ngoài việc trẻ được cung cấp đầy đủ về thể
chất thì việc giáo dục ngôn ngữ là một phần không thể thiếu. Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ còn mang một tầm quan trọng hết sức lớn lao.
Khi trẻ còn đang trong thời kì bú mẹ thì phạm vi giao tiếp của trẻ mới chỉ
là những người thân trong gia đình. Rời bàn tay âu yếm của bố mẹ thì thầy cô
giáo là người cha, người mẹ thứ hai nâng niu, ấp ủ trẻ. Đây cũng là trách nhiệm
nặng nề không hề đơn giản đè nặng lên đôi vai của người giáo viên mầm non.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ giao tiếp một cách thuần thục và mạch
lạc là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục mầm
non, đó là phát triển ở trẻ khả năng nghe hiểu ngôn ngữ của người khác, khả
năng biết trình bày, thể hiện sự hiểu biết, suy nghĩ, ý muốn, nguyện vọng….của
mình cho người khác biết một cách có trình tự, có logic, có nội dung, đúng và
biểu cảm. Đối với trẻ mẫu giáo, nói mạch lạc là một nội dung tương đối khó, trẻ
có thể giao tiếp với bạn, với người lớn nhưng giao tiếp của trẻ chưa có trình tự,
chưa thể hiện sự hiểu biết, suy nghĩ của mình một cách logic, đúng và biểu cảm.
Vì vậy, khi được đặt một nhiệm vụ giao tiếp cụ thể, trẻ rất ngại trình bày, hoặc
nếu có trình bày, trẻ chỉ nói những từ đơn giản, ngắn gọn theo kiểu vuốt đuôi,
nói không rõ ràng. Thậm chí, có trẻ chỉ đứng lên mà không hề dám nói một từ
nào mặc dù sau đó trẻ chơi với bạn vẫn giao tiếp cho bạn hiểu được ý mình.
Chính vì ngôn ngữ trẻ còn hạn chế, chưa phong phú và mạch lạc, nên trẻ không

1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp dùng lời
- Phương pháp trò chuyện
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận.
Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ. Nó có chức năng là một phương
tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ được hình thành trong quá
trình hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân với người khác trong xã hội. Ngôn
ngữ mang bản chất xã hội, lịch sử và tính giai cấp.
Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, sự phát triển ngôn ngữ có sự
tương hỗ chặt chẽ giữa não và cơ quan phát âm. Nếu phát triển ngôn ngữ chậm
sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho
trẻ sớm, đúng lúc, phù hợp lứa tuổi là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là giai đoạn có
nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và đọc viết ban đầu
của trẻ. Ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tựu vĩ đại mà các giai đoạn
trước và sau không có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ
ngữ để bày tỏ nguyện vọng suy nghĩ, cảm xúc của mình khi còn rất nhỏ để
người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ, là điều kiện quan trọng để
trẻ tham gia vào mọi hoạt động và góp phần hình thành nhân cách trẻ.
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để
phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ chính là sự hiện hữu của tư
duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được chính là nhờ có phương tiện
ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Ngôn ngữ
phát triển làm cho tư duy phát triển. Ngược lại tư duy phát triển càng thúc đẩy
nhanh sự phát triển của ngôn ngữ.
Việc phát triển vốn từ, luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp gắn liền
với các môn học cũng như các hoạt động của trẻ. Mỗi từ cung cấp cho trẻ phải dựa

nhiều. Làm hạn chế khả năng tương tác của cha mẹ với con cái, giữa trẻ với môi
trường xã hội.
Với những khó khăn như thế tôi tự đặt ra cho mình một mục tiêu là phải
dần dần khắc phục và hướng dẫn trẻ phát triển ngôn ngữ một cách đúng đắn
nhất.
2.2.3. Kết quả khảo sát đầu năm như sau:
Tổng số trẻ: 25 trẻ

Tốt
Phân loại khả năng
Khả năng nghe hiểu ngôn
ngữ và phát âm
Vốn từ
Khả năng nói đúng ngữ
pháp
Khả năng giao tiếp

Khá

TB

4

Tỷ
lệ
%
16

4
4

10

40

1

4

Số
trẻ

Số
trẻ

Tỷ lệ
%

Số
trẻ

4

16

15

Tỷ
lệ
%
60

đó và đặt ra những câu hỏi. Buộc trẻ phải suy nghĩ và trả lời tình huống thầy
(cô) đưa ra. Một cuộc trò truyện ngắn cũng sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ, biết sắp
xếp các từ ngữ hợp lí để giải quyết vấn đề. Từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
Thầy có thể trò truyện với trẻ về chủ đề mà trẻ đang học, khuyến khích trẻ
thể hiện sự hiểu biết của mình về chủ đề trẻ đang học, giáo viên bao quát động
viên trẻ và chú ý giành thêm một chút thời gian cho trẻ nhút nhát hơn. Thầy đưa
ra những câu hỏi gợi mở tạo cho trẻ cảm giác an toàn, tự tin vào bản thân trẻ để
trẻ mạnh dạn đưa ra ý kiến riêng của trẻ.
- Giờ thể dục sáng.
Ngoài cho trẻ thực hiện các động tác thể dục giáo viên có thể đưa ra các
hoạt động nhỏ giúp trẻ được nói, được giao tiếp.
Ví dụ: Trên đường từ lớp học ra đến sân trường nơi tập trung để tập thể dục.
Thầy có thể cho trẻ vừa đi lấy dép của mình vừa đọc 1 bài thơ hoặc 1 bài vè nào
đấy! để bước ra sân tập.
Ví dụ: Khi tập các động tác thể dục thầy cũng có thể khuyến khích trẻ hát
theo bài hát đang mở.
* Ngoài ra cần làm phong phú lĩnh vực ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc
cho trẻ tham quan, dạo chơi, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, với nhiều người,
nhiều ngành nghề, trang phục,… Cho trẻ được tiếp xúc với tranh ảnh, sách báo,
các phương tiện nghe nhìn phù hợp: xem ti vi, video, nghe băng,… và linh hoạt
tận dụng các môi trường vật chất (cây, cỏ, nhà, đồ chơi, …) và môi trường ngôn
ngữ (sách, truyện, giáo viên, bạn bè trẻ…) có sẵn xung quanh trẻ để trò chuyện
với trẻ, từ đó khơi gợi kích thích trẻ trò chuyện, kể chuyện, trẻ đưa ra quan
điểm, ý kiến riêng của bản thân.
Ví dụ: Trong giờ thầy dẫn trẻ dạo chơi ngoài trời trẻ thấy có một con
chuồn chuồn bay và đậu trên cành cây, trẻ reo lên: “a! chuồn chuồn kìa, chuồn
chuồn đẹp quá”. Trẻ chạy theo định bắt chuồn chuồn, thầy gợi ý trẻ quan sát con
chuồn chuồn, đặt câu hỏi với trẻ:
4


Bắt chập lá tre
Nuôi lợn cho chăm
Bắt đè lá muống
Nuôi tằm cho rỗi
Bắt cuống lên hoa
Dệt cửi cho mau
Bắt gà mổ thóc
Nuôi trâu cho mập
5


Đi học cho thông
Ù à ù ập
Số trẻ chơi từ 6 đến 8 trẻ, lấy một cái cột làm chuẩn. Một trẻ làm “cái”
ngửa bàn tay ra cho các trẻ khác đặt ngón trỏ vào. Tất cả các trẻ đọc lời ca đến
hết thì trẻ làm cái “ập” thì nắm tay lại. Ai không rụt tay kịp thì phải bịt mắt cho
các bạn đi trốn, các bạn đi trốn hết trẻ tìm mở mắt ra đi tìm các bạn vừa đi vừa
hát bài hát trên.
Những trẻ đi trốn, tìm cách chạy mau về cột chuẩn, không để cho trẻ đi
tìm bắt được, chạy được về đến cột chuẩn nói một tiếng “Đùng”. Trẻ đi tìm nếu
không bắt được ai thì phải nhắm chơi lại. Trẻ đi trốn nếu bị trẻ đi tìm bắt được
thì thay trẻ đi tìm.Trò chơi tiếp tục.
* Sử dụng câu đúng ngữ pháp (đúng cấu trúc câu). Trong giờ đón trẻ,
trò chuyện sáng, giáo viên có thể tận dụng các đồ chơi trong lớp để rèn luyện
cho trẻ nói đúng ngữ pháp:
+ Giáo viên: Đưa ra con búp bê và yêu cầu: Mỗi bạn hãy nói một câu về
con búp bê này?
+ Trẻ: “Búp bê mặc váy”
“Búp bê có mái tóc vàng rất đẹp” (Trẻ đã nói đúng cấu trúc câu).
Nhưng có một số trẻ chưa nói đúng cấu trúc câu, tôi gợi ý thêm cho trẻ

Giáo viên trình chiếu power point chuyện: Chú đỗ con (quá trình phát
triển của cây từ hạt) và kể cho trẻ nghe câu chuyện kết hợp câu hỏi đàm thoại:
- Muốn có cây con thì việc đầu tiên người ta phải làm gì?
- Qua những giai đoạn nào thì hạt trở thành cây trưởng thành?
- Cây trưởng thành sẽ cho ra cái gì?
- Để cây mau lớn và phát triển tốt cần phải có những điều kiện nào?
+ Đàm thoại về nội dung câu chuyện để giúp trẻ khắc sâu nội dung câu
chuyện và kể lại truyện bằng ngôn ngữ mạch lạc. Sau khi kể cho trẻ nghe câu
chuyện: Ba cô gái giáo viên đặt câu hỏi đàm thoại với trẻ :
- Câu chuyện nói về điều gì?
- Trong chuyện có những nhân vật nào?
- Sóc đã đưa thư cho ba cô gái và cùng nói điều gì?
- Tại sao cô chị cả và chị hai bị biến thành Rùa và Nhện.
- Nếu là con, khi mẹ ốm con sẽ làm gì?
- Con đặt tên câu chuyện này là gì?
Trong quá trình đàm thoại với trẻ, giáo viên yêu cầu trẻ trả lời các câu hỏi
rõ ràng, mạch lạc, đúng cấu trúc câu, ngữ điệu,…để rèn luyện cho trẻ cách sử
dụng ngôn ngữ mạch lạc.
Dạy trẻ đóng kịch:
- Tổ chức cho trẻ chơi đóng kịch là một phương pháp tốt để phát triển
ngôn ngữ đối thoại cho trẻ. Nội dung kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn học
mà trẻ đã được làm quen. Trẻ làm quen với các mẫu câu văn học đã được gọt
giũa chọn lọc. Khi đóng kịch, trẻ cố gắng thể hiện đúng ngữ điệu, tính cách nhân
vật mà trẻ đóng, giúp cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái biểu cảm rõ rệt .
Ví dụ: Trẻ đóng kịch truyện: “Chú dê đen”
- Cháu Minh Quân đóng vai Dê đen: Tính cách dũng cảm, can đảm, mạnh
mẽ, tự tin; giọng phải đanh thép.
- Cháu Quỳnh Trang đóng vai Dê trắng: Thể hiện tính cách hiền lành,
nhút nhát, rụt rè; giọng nói nhỏ nhẹ.
- Cháu Hải đóng vai Chó sói: Tính cách hung dữ, giọng nói ồm ồm.

theo chủ đề một cách logic, diễn đạt phải rõ ràng, lưu loát. Nói độc thoại là một
hình thức cấp cao của ngôn ngữ mạch lạc. Dạy trẻ ngôn ngữ độc thoại trong giao
tiếp tự do có 2 cách:
- Làm mẫu: Hằng ngày, tùy tình huống giao tiếp, giáo viên nói với trẻ về
các sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày mà mình đã nhìn thấy, đã trải qua.
Giáo viên kể lại các sự kiện đó cho trẻ nghe bằng giọng tự tin, thoải mái hay vui
vẻ, hài hước để gây ấn tượng mạnh cho trẻ, tạo ở trẻ thói quen bắt chước, trao
đổi tự nhiên về những ấn tượng, cảm xúc, kinh nghiệm của mình với mọi người
xung quanh.
- Luyện tập: Để trẻ có thói quen nói một chuỗi lời nói trong giao tiếp hằng
ngày về một nội dung nào đó, giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ tự do trao đổi,
dành thời gian cho trẻ nói về mình, về bạn, về cảm xúc, suy nghĩ của mình.
Trong các giờ trò chuyện sáng, hoạt động chiều, giáo viên gợi ý trẻ nói bằng các
câu hỏi, lời hỏi thăm. (Hôm qua ở nhà con đi chơi không ? Làm gì? Con nhìn
thấy gì trên đường, con cảm thấy như thế nào khi được đi chơi?….)
Ví dụ: Bé Mai Chi nói với bạn: “Hôm qua bố chở mẹ và mình đi khám
Bác sĩ, mẹ mình có em bé rồi, mình sắp được làm chị rồi”.
2.3.5. Giải pháp 5. Dạy trẻ ngôn ngữ độc thoại trên giờ học
- Dạy trẻ kể lại tác phẩm văn học: Trên giờ học dạy trẻ kể lại tác phẩm
văn học, trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm nội dung của tác phẩm văn
học mà trẻ đã được nghe. Tuy nhiên, giáo viên không nên yêu cầu trẻ kể thuộc
lòng chi tiết nội dung của tác phẩm, mà chỉ yêu cầu trẻ kể lại nội dung chính của
tác phẩm. Trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ của tác phẩm kết hợp với ngôn ngữ của
chính trẻ dựa trên sự cảm thụ của tác phẩm để kể. Giáo viên khuyến khích trẻ kể
tự nhiên, thoải mái, sử dụng đúng ngữ điệu của nhân vật.
- Dạy trẻ tự kể chuyện: Dạy trẻ tự kể chuyện khó hơn so với dạy trẻ kể lại
chuyện. Để có thể tự kể chuyện, trẻ phải có vốn hiểu biết nhất định, ngôn ngữ
9



xem các chú tập luyện đi hành quân. Em còn được xem các chú bộ đội trồng rau.
Sau đó, chúng em cùng ngồi xung quanh nghe các chú đàn hát rất hay.

10


Gợi mở cho trẻ kể tiếp truyện: Giáo viên nên chọn những chuyện có nội
dung ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu đối với trẻ. Nội dung truyện nên có những
điểm thắt nút logic. Trước khi kể chuyện, giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể
cho trẻ: Chú ý lắng nghe xem truyện kể về ai? Đoán xem chuyện gì sẽ xảy ra
tiếp theo để trẻ chú ý và ghi nhớ có chủ định.
Ví dụ: Giáo viên kể cho trẻ nghe câu chuyện “Ba cô gái” đến đoạn Sóc
đưa thư đến nhà cô chị cả Sóc nói: “Chị cả ơi, mẹ chị đang ốm đấy, chị hãy về
thăm mẹ chị ngay đi”.
Thầy đặt câu hỏi: Theo con, khi nghe Sóc nói như thế, cô cả sẽ làm gì?
Cô nói gì với Sóc?
Có nhiều câu trả lời từ trẻ:
- “Chị cả nghe Sóc nói như thế, chị cả cám ơn Sóc đã đưa thư, chị chạy
nhanh về với mẹ, mua thuốc cho mẹ uống”.
- “Chị cả nói với Sóc cùng đi với mình đến bệnh viện kêu Bác sĩ đến nhà
chữa bệnh cho mẹ”.
- “Chị cả chạy nhanh về nhà và nhờ Sóc đi mua thuốc đem về nhà giúp
chị”.
So sánh việc sử dụng các phương pháp để dạy trẻ nói mạch lạc ở các năm
trước tôi nhận thấy: Năm nay, do được đầu tư, tìm hiểu kĩ các phương pháp dạy
trẻ nói mạch lạc qua tài liệu và áp dụng vào thực tế một cách có hệ thống để phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ từ dễ đến khó, có các phương pháp phù hợp cho
khả năng của trẻ từ yếu đến khá đến giỏi nên trẻ trong nhóm tích cực sử dụng
ngôn ngữ mạch lạc hơn mà không làm cho trẻ mất tự tin hay nhàm chán.Vì
những năm trước giáo viên chỉ làm theo kinh nghiệm, chủ yếu là trò chuyện với

nói sai của trẻ. Muốn vậy, phụ huynh khi trò chuyện với trẻ phải cố gắng phát
âm đúng, phải nói rõ ràng mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ, trẻ sẽ
bắt chước theo.
- Khuyến khích phụ huynh cung cấp kinh nghiệm sống cho trẻ. Tránh
không nói tiếng địa phương, cần tránh cho trẻ nghe những hình thái ngôn ngữ
không chính xác. Sử dụng đa dạng các phương pháp để dạy trẻ nói mạch lạc.
Ví dụ: Trong lớp, khi dạy trẻ câu chuyện: “Sự tích hoa hồng” giáo viên
cũng in nội dung câu chuyện và dán lên bảng tuyên truyền cho tất cả phụ huynh
cùng xem và yêu cầu phụ huynh phối hợp kể thêm cho trẻ nghe ở nhà hoặc lắng
nghe trẻ kể lại khi trẻ đã được nghe cô kể ở lớp. Sau đó, phụ huynh cùng trò
chuyện với trẻ về nội dung câu chuyện và có thể sửa cho trẻ cách nói sai, cấu
trúc câu sai...
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
* Đối với giáo viên:
Qua các biện pháp thực hiện hoạt động phát triển ngôn ngữ ở trẻ 5-6 tuổi
tôi đã rút ra một số kinh nghiệm :
Là giáo viên mầm non tôi xác định được trách nhiệm của bản thân đối với
trẻ. Tôi luôn xây dựng cho trÎ một môi trường ngôn ngữ nói tốt. Bởi tôi hiểu rõ
cơ chế để phát triển ngôn ngữ của trẻ là bắt chước ngôn ngữ của người khác.
Khi trẻ bắt chước ngôn ngữ của người lớn, trẻ không chỉ bắt chước cái hay mà
bắt chước cả cái dở. Vì thế tôi tự nhủ mình luôn phải nói đúng, làm đúng, thể
hiện đúng tư cách của người giáo viên, luôn gương mẫu ở mọi lúc mọi nơi, luôn
nhẹ nhàng, tình cảm, âu yếm, gần gũi trẻ trong những lúc nghỉ ngơi, thư giãn.
Bên cạnh đó tôi giành nhiều thời gian trang trí lớp học, các góc chơi, làm
đồ chơi sáng tạo từ những nguyên vật liệu mở. Ngoài ra, tôi thường trao đổi, tuyên
truyền với phụ huynh cố gắng giành thời gian để tâm sự với trẻ và lắng nghe trẻ
nói. Khi trò chuyện với trẻ phải nói rõ ràng, mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe
cho rõ.
Tôi luôn ý thức nâng cao chuyên môn bằng cách học hỏi kinh nghiệm các
đồng nghiệp và các tài liệu khoa học. Luôn năng động, sáng tạo trong cách


48
48

3
3

12
12

0
0

13

52

10

40

2

8

0

Số
trẻ
Khả năng nghe hiểu ngôn

lệ
%

0

- 88 % vốn từ của trẻ phát triển rõ rệt, ít sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ,
trẻ đã phân biệt được ý nghĩa một số từ.
- 88 % kinh nghiệm sống của trẻ đã phong phú hẳn lên trẻ hứng thú tham
gia học, phát biểu, kể chuyện và đóng kịch.
- 88 % trẻ phát âm chính xác hơn, trẻ nói nhiều câu có nghĩa đầy đủ, nói
câu mạch lạc hơn.
* Đối với đồng nghiệp:
- Với kết quả thu được ban đầu như thế, tôi nghĩ mình có thể triển khai
các biện pháp này cho các đồng nghiệp trong tổ của mình, thông qua các buổi
họp tổ chuyên môn để tất cả trẻ 5-6 tuổi trong trường tôi đều được phát triển
ngôn ngữ một cách tích cực.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
V.I.Lênin đã nói: “Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của con
người”. Trẻ dùng ngôn ngữ để trao đổi thông tin, diễn đạt nhu cầu, nguyện
vọng, tình cảm và để nhận thức…Hiểu rõ tầm quan trọng đó, tôi luôn tạo cho trẻ
một môi trường ngôn ngữ tốt, có chuẩn mực, chủ động, thuận lợi cho ngôn ngữ
của trẻ phát triển tốt, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ bước vào các bậc học cao hơn.
Nghề giáo viên – một nghề cao quý mà tôi đã từng ấp ủ từ thuở còn ấu thơ.
Và từ khi tôi mới chập chững vào nghề, tôi luôn tự nhủ mình để xứng đáng là
một người giáo viên, trước hết hãy tập "làm cha, làm mẹ". Yêu trẻ không chỉ
bằng lời nói, bằng suy nghĩ mà bằng chính hành động. Xuất phát từ tình yêu đó
mà trong sâu thẳm tâm hồn tôi luôn chứa chan tình cha, tình mẹ, bởi yêu nghề
nên yêu trẻ.
Tôi rất tự hào mình là người đầu tiên được đón các con vào ngưỡng cửa của

* Đối với phòng giáo dục:
Để thực hiện tốt hoạt động Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong giai
đoạn hiện nay thông qua việc thực hiện các biện pháp trên đã phần nào đạt được
một số kết quả như đã nêu.
Kính mong các cấp lãnh đạo tăng cường thêm các lớp tập huấn, bồi dưỡng
phát triển ngôn ngữ. Quan tâm nhiều hơn nữa trong việc đầu tư cơ sở vật chất
cho trường lớp ngày một khang trang để chất lượng giáo dục mầm non được tốt
hơn.
Trên đây là “Một số giải pháp giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi phát triển ngôn
ngữ” đã áp dụng thành công trên trẻ lớp tôi. Tôi hy vọng có thể ít nhiều góp
phần cho các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo và góp ý để từ đó giúp chúng ta
giáo dục trẻ mầm non hình thành những kiến thức, kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ
được tốt hơn. Rất mong được sự quan tâm góp ý của Hội đồng khoa học các cấp
để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA

Pù Nhi, ngày 12 tháng 04 năm 2019

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

TÔI CAM KẾT KHÔNG COPPY
Người thực hiện

Hà Văn Thạo

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO

2.3.6. Giải pháp 6. Phối hợp với phụ huynh………………..…………………..12
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ……………………………………...13

GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
3. KẾT LUẬN,SỞ
KIẾN
NGHỊ…………………………………………………...14

PHÒNG GD&ĐT MƯỜNG LÁT

3.1. Kết luận…………………………………………………………………....14
3.2. Kiến nghị…………………………………………………………………..14
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………...16

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP
GIÚP TRẺ 5-6 TUỔI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI ĐIỂM
TRƯỜNG NA TAO TRƯỜNG MẦM NON PÙ NHI HUYỆN
MƯỜNG LÁT

Người thực hiện: Hà Văn Thạo
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Pù Nhi
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

17

THANH HOÁ NĂM 2019


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status