SKKN một số biện pháp phát triển kỹ năng ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi dân tộc thiểu số tại trường MN quang hiến, huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa - Pdf 57

MỤC LỤC
Mục

NỘI DUNG

Trang

Mục lục

1

I

MỞ ĐẦU

2

1

Lý do chọn đề tài

2

2

Mục đích nghiên cứu

3

3


Các biện pháp và tổ chức thực hiện

7

4

Kết quả đạt được

15

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

17

1

Kết luận

17

2

Kiến nghị

17

Tài liệu tham khảo

19


dễ dàng tiếp cận với các hoạt động học khác như: Hoạt động làm quen với toán,
văn học, âm nhạc và tạo hình..., đặc biệt là thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học trẻ được nghe cô đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch tạo cho trẻ
được hoạt động nhiều, giúp trẻ phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, ngoài ra
còn giúp trẻ cảm nhận cái hay, cái đẹp, giúp phân biệt cái tốt, cái xấu xung
quanh trẻ. Bởi vì ở lứa tuổi này được ví như tờ giấy trắng, trẻ đến lớp như mở
đầu trang giấy, cô giáo in lên những hình ảnh, cung cấp những vốn từ, những
nhân vật, cử chỉ hành động khác nhau. Thông qua những bài thơ, những câu
chuyện giúp trẻ mở mang những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên và xã hội và giúp
trẻ phát triển ngôn ngữ, tạo tiền đề tốt nhất cho trẻ trước khi vào lớp 1.
Trong thực tế, phần lớn trẻ em người dân tộc thiểu số đều ở vùng sâu, vùng
xa, vùng kinh tế khó khăn, trước khi đến trường mầm non đều sống trong môi
trường với ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu là tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình mà
không phải là tiếng Việt. Do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ
không có hoặc không biết chữ viết, môi trường giao tiếp tiếng Việt ít. Khi đến
trường trẻ thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và luôn có thói quen đó
trong các hoạt động vui chơi, giao lưu trò chuyện và ngay cả trong các hoạt
2


động học. Trẻ biết ít và có thể không biết tiếng Việt, khả năng nghe và nói tiếng
Việt rất kém nhất là khi trẻ ra khỏi trường học.
Ví dụ: Khi tìm hiểu khám phá về một số con vật nuôi trong gia đình cụ thể
là con gà, khi gọi tên "con gà" trẻ sẽ nói thành "con kha" và khi nhận xét về các
đặc điểm trẻ thường hay nói lớ sang ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ. Hoặc khi diễn đạt bí
từ và chưa hiểu, trẻ sẽ nói trực tiếp bằng ngôn ngữ thứ nhất...
Như chúng ta đã biết, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của sự hình thành và phát triển nhân
cách trẻ. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo ở trường mầm non tốt có
tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo. Mặt khác hiện nay

tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025.
Tiếp đó, Bộ giáo dục và đào tạo kí quyết định số: 2805/QĐ-BGDĐT ngày 15
3


tháng 8 năm 2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh Thanh Hóa ký quyết định
1628/QP-UBND ngày 23 tháng 5 năm 2017 và Ủy ban nhân dân huyện Lang
Chánh ban hành kế hoạch số 45/KH-UBND thực hiện Đề án "Tăng cường chuẩn
bị tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn
2016 - 2020, định hướng đến 2025". Nhằm mục tiêu "tập trung tăng cường tiếng
Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, bảo đảm các em
có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo
dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội
tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và
phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của
đất nước".
Để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng với mục tiêu trên, một trong
những nội dung quan trọng đó là dạy trẻ 5 - 6 tuổi "Kỹ năng nói mạch lạc ngôn
ngữ tiếng Việt" chuẩn bị tốt cho việc học tiếng Việt tiếp theo ở lớp một. Dạy
tiếng Việt cho trẻ mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì ngôn ngữ của
trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trọng vào
việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn khoa học
khác như toán, khám phá, tạo hình, âm nhạc....
Về căn bản học tiếng Việt đối với trẻ dân tộc thiểu số là học ngôn ngữ thứ
hai, khi đi học ở trường mầm non trẻ nói chung đã có vốn hiểu biết và kỹ năng
ban đầu về hoạt động ngôn ngữ nói biết sử dụng tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ thứ
nhất) để giao tiếp hàng ngày nên khi học, sử dụng tiếng Việt (ngôn ngữ thứ hai)
trẻ gặp những khó khăn sau:
- Trẻ học tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt.

cho trẻ thích đi học và hứng thú học tiếng Việt, làm tiền đề để thích ứng với việc
tập đọc, tập viết ở lớp 1. Tạo cơ hội khuyến khích trẻ bộc lộ khả năng sáng tạo
của cá nhân. Quá trình giao tiếp tiếng Việt thông qua tất cả các môn học, thông
qua mọi hoạt động của trẻ, việc giao tiếp cần diễn ra ở mọi lúc mọi nơi với môi
trường hoạt động phong phú. Thông qua các hoạt động trực tiếp giúp trẻ tiếp thu
kiến thức mới và học tiếng Việt một cách rễ dàng, thúc đẩy quá trình giao tiếp.
Từ những cơ sở trên bản thân đã nghiên cứu thực trạng và thực hiện một số
biện pháp phát triển kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ lớp Lá
A1(mẫu giáo 5 - 6 tuổi) ở trường mình đạt hiệu quả.
2. Thực trạng:
Trường mầm non Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa thuộc
địa bàn xã Quang Hiến. Trường cách Trung tâm xã 1km, là xã 30a của huyện
nên điều kiện kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn. Trong năm học 2017 - 2018
nhà trường có 16 nhóm lớp với 325 học sinh. Trong đó nhà trẻ 6 nhóm và mẫu
giáo 10 lớp.
Năm học 2017 - 2018, bản thân tôi được nhà trường phân công phụ trách
lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1. Tổng số trẻ trong lớp là 25 cháu, trong đó có 17 cháu
dân tộc Mường, 6 cháu dân tộc Thái và 2 cháu dân tộc Kinh nhưng cũng sống tại
các thôn bản. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học bản thân tôi và nhà
trường gặp những thuận lợi và khó khăn sau đây:
2.1. Thuận lợi:
- Nhà trường có 1 khu nên thuận lợi trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
cũng như tổ chức các hoạt động của chuyên môn và nhà trường.
- Trường là trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I, đạt kiểm định chất lượng
giáo dục cấp độ 2 nên cơ sở vật chất nhìn chung đảm bảo cho việc học tập cũng
như ăn ở bán trú của học sinh.
- Cán bộ quản lý của nhà trường và tổ chuyên môn luôn tạo điều kiện thuận
lợi cho việc dạy và học của cô và trẻ.
- Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho mọi hoạt động phong phú hấp dẫn, thu hút trẻ.
- 100% cán bộ quản lý, giáo viên đều có trình độ chuẩn và trên chuẩn, nhiệt

+ Giáo viên thường dạy đại trà theo chương trình đã lên kế hoạch, chưa chú
trọng vào các hoạt động cá nhân trẻ, nhất là những trẻ phát triển chậm về ngôn
ngữ cũng như các lĩnh vực khác..
+ Ít thời gian đầu tư vào các hoạt động giáo dục, chưa tạo môi trường mở
để trẻ được hoạt động trải nghiệm.
- Đối với phụ huynh
+ Địa phương là xã 30a thuộc xã nghèo của huyện Lang Chánh, nên điều
kiện kinh tế của địa phương còn nghèo và sự đầu tư của phụ huynh trong việc
chăm sóc cũng như ủng hộ về tài chính trong việc mua sắm trang thiết bị còn
hạn chế.
+ Phụ huynh chủ yếu là người dân tộc thiểu số, ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
chiếm ưu thế nên việc phát âm và dạy tiếng Việt cho trẻ gặp không ít khó khăn.
6


+ Một số bậc phụ huynh chưa chú ý đến việc trẻ phát âm chưa chính xác
hay ngọng, sai âm, sai dấu… để kịp thời sửa sai và uốn nắn cho trẻ.
+ Chưa phối hợp với giáo viên trong công tác giáo dục, còn phó mặc việc
học của con em cho giáo viên và nhà trường.
+ Chưa hiểu được sự cần thiết của kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng
Việt đối với trẻ.
+ Đa số phụ huynh đi làm xa để con cái cho ông bà chăm sóc. Chính vì vậy
cũng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cũng như việc chăm sóc dạy dỗ các cháu.
+ Một số bậc phụ huynh chưa nhận thức tầm quan trọng của bậc học mầm
non, vẫn còn có tình trạng trẻ chưa đi học chuyên cần do thời tiết thay đổi.
2.3. Quá trình điều tra thực tiễn:
- Là một giáo viên đứng lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi nhiều năm, bản thân nhận
thấy tầm quan trọng của việc làm giàu vốn từ tiếng Việt và phát triển ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ, thường xuyên tổ chức cho trẻ được nghe, được hiểu, được nói
một cách có hiệu quả tạo tiền đề cho việc học Tiếng Việt của trẻ khi vào lớp 1.

60

10

40

2

Kỹ năng nói

25

14

56

11

44

3

Làm quen với đọc, viết

25

14

56


nói và khuyến khích trẻ nói ở mọi lúc, mọi nơi về những chủ đề gần gũi trong
7


cuộc sống của trẻ, đồng thời mời các phụ huynh hay các anh chị...(những người
biết tiếng Việt) đến trò chuyện giao tiếp với trẻ để khắc phục sự nhút nhát của
trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được nghe và nói.
Bên cạnh đó tổ chức các trò chơi, sinh hoạt tập thể văn hóa văn nghệ để trẻ
có nhiều cơ hội thể hiện mình, khuyến khích sự sáng tạo của trẻ khi sử dụng câu
từ, không bắt trẻ nói đúng ngay khi dạy mà kiên trì, nhẫn nại cùng với các hoạt
động làm quen với tiếng Việt trong tuần để hướng trẻ nói đúng, phát âm chuẩn
tiếng Việt.
Ngoài ra tôi còn sưu tầm thêm các bài thơ, ca dao, đồng dao, các câu truyện
dân gian mang đậm sắc thái văn hóa địa phương để đọc cho trẻ nghe, khuyến
khích trẻ đọc theo và đọc thuộc những đoạn phù hợp từ đó kích thích trẻ giao
tiếp và tự tin khi nói tiếng Việt. Nếu trẻ gặp khó khăn khi diễn đạt tôi gợi ý trẻ
một vài từ, cố gắng để trẻ tự trình bày tiếng Việt bằng lời nói của mình.
Do đặc điểm nhận thức của trẻ chủ yếu thông qua các hình ảnh trực quan,
trẻ lĩnh hội và tiếp thu kiến thức chủ yếu thông qua hoạt động vui chơi. Chính vì
vậy việc tạo môi trường để tổ chức hoạt động cho trẻ vô cùng quan trọng, một
môi trường đẹp, phù hợp sẽ thu hút trẻ đến lớp, cũng như hứng thú tham gia vào
các hoạt động một cách tích cực. Vì vậy, tôi cũng đầu tư xây dựng môi trường
chữ viết tiếng Việt trong lớp học.
Thông qua mảng chủ đề và các góc hoạt động ở mỗi chủ điểm tôi cùng trẻ
lựa chọn những tên gọi, hình ảnh linh hoạt, gần gũi với trẻ, phù hợp chủ đề, chủ
điểm để minh họa, đồng thời khuyến khích trẻ cùng cô đặt tên và thay thế theo
từng chủ đề. Tên gọi thường sử dụng là các chữ cái in thường để trẻ dễ nhận
biết, như vậy sẽ thu hút được sự chú ý của trẻ, từ đó mục đích làm quen, ôn
luyện chữ, cung cấp vốn từ đạt hiệu quả tối đa.
Ví dụ: Đối với chủ đề "Gia đình" cô có thể trò chuyện, hỏi trẻ cách đặt tên

các chữ để trẻ được tiếp xúc và thấy được mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết.
9


Với trẻ dân tộc thiểu số cuộc sống hằng ngày được gắn với môi trường
thiên nhiên, với cỏ, cây, hoa, lá,và những con vật, đồ dùng, đồ chơi quen thuộc
để trẻ được tự do tham gia, khám phá trải nghiệm. Vì vậy, tôi còn xây dựng
thêm môi trường ngoài lớp học như thông qua góc thiên nhiên, góc thư viện
xanh, góc địa phương, góc vận động, hay tham gia giao thông ... trong đó chú ý
hơn ở "góc địa phương" để cho trẻ thấy gần gũi như ở gia đình, bản làng trẻ. Ở
các góc này tôi cùng trẻ sưu tầm và huy động sự đóng góp của phụ huynh các
loại hoa, cây cỏ, đồ dùng vật dụng gần gũi, quen thuộc, hoặc các loại vật liệu
thiên nhiên sẵn có, các loại phế liệu để tân dụng làm đồ dùng, đồ chơi và bố trí
sắp xếp phù hợp, được gắn chữ viết hoặc các ký hiệu, hình vẽ biểu trưng hoặc
chú thích bằng tiếng Việt, nhằm giúp trẻ có cơ hội làm quen với chữ viết ở mọi
lúc mọi nơi.

Ảnh: Góc Địa phương
3.2. Biện pháp 2:
Thông qua hoạt động học và các hoạt động mọi lúc mọi nơi.
Các hoạt động học ở trường mầm non, chủ yếu nhằm mục đích cho trẻ làm
quen với các kỹ năng, nề nếp học tập như ở trường tiểu học. Trong giờ hoạt
động học trẻ được cung cấp kiến thức một cách có kế hoạch, có mục đích. Nội
dung hình thành kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ được giáo
viên truyền tải gần như chủ yếu trong hoạt động học.
10


Mục đích chính là cho trẻ làm quen với các chữ cái, cho trẻ làm quen với
chữ cái theo các nhóm chữ và đặt vào chủ đề. Tôi tìm các từ chứa nhóm chữ

tập trung vào sự trao đổi có ý nghĩa, thay vì dạy trẻ những âm thanh hay lặp lại
những từ cụ thể, trẻ sẽ trao đổi về một thứ mà trẻ thích với cha mẹ, cô giáo,
người thân hoặc bạn bè. Hay trẻ có thể xem tranh và kể thành một câu chuyện
mà trẻ thích. Trong giờ đón hoặc trả trẻ, tôi thường tạo cơ hội cho trẻ được tiếp
xúc với các đồ vật, sự vật hiên tượng và yêu cầu trẻ đưa ra những ý kiến của
mình. Bởi vì ở giai đoạn này trẻ phát triển mạnh mẽ cả về ngôn ngữ và tư duy,
hơn thế nữa trẻ thích thể hiện khả năng của bản thân trước mặt cô giáo và các
bạn.
11


Ví dụ: Trong hoạt động tìm hiểu về đồ dùng trong gia đình. Tôi cho trẻ tiếp
xúc với các đồ dùng và trò chuyện gợi ý trẻ giới thiệu đồ dùng trẻ thích, trẻ có
thể cầm "cái cốc" và giới thiệu: Đây là cái cốc mà mẹ đã mua cho em khi đi Siêu
thị, nó được làm bằng nhựa, nó có màu vàng rất đẹp, hằng ngày em thường dùng
cốc để uống nước và đánh răng.
Chính vì vậy việc miêu tả sự vật, hiện tượng có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng để phát triển sự phong phú đa dạng về ngôn ngữ cho trẻ. Mỗi trẻ có một
cách nói khác nhau. Qua đó trẻ có cơ hội tưởng tượng rất phong phú và đa dạng,
trẻ được nói lên ý hiểu của mình và nghe ý kiến của bạn, trẻ tích lũy được thêm
nhiều vốn từ, trẻ tưởng tượng ra nhiều nội dung và trẻ trình bày nhiều mẫu câu,
kiểu câu khác nhau...
Kể chuyện theo tranh là phát huy tính sáng tạo cho trẻ, cô giới thiệu các
bức tranh và giúp trẻ làm quen với các nhân vật, giúp trẻ khám phá những điều
mới trong các bức tranh. Tổ chức cho các bé thảo luận nhóm để sáng tạo cho câu
chuyện của mình.
Trước tiên cần chuẩn bị một câu chuyện phù hợp có tranh minh họa đẹp,
thu hút trẻ, cô giới thiệu các nhân vật trong tranh và kể câu chuyện theo thứ tự
các bức tranh đó. Sau đó cô khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện hoặc kể theo một
cách khác mà trẻ hiểu, có thể đổi thứ tự các bức tranh theo sự sáng tạo của trẻ.

giúp giáo viên truyền tải các nội dung giáo dục đến trẻ một cách tự nhiên, thoải
mái nhẹ nhàng. Có nhiều trò chơi có thể sử dụng như: Chơi lô tô, chơi dán chữ,
tạo hình chữ với nguyên vật liệu, album chữ cái (trong đó trẻ sưu tầm cắt, dán
nhiều loại, nhiều kiểu in hoa, in thường, viết hoa, viết thường của các chữ cái đã
học trên báo, tạp chí để dán vào album của mình)...
Như chúng ta đã biết đặc điểm của trẻ mầm non là chóng nhớ, chóng quên.
Chính vì vậy kiến thức mới cung cấp cho trẻ nếu không ôn luyện trẻ sẽ quên
ngay khi lĩnh hội kiến thức khác. Vì vậy, việc sử dụng các trò chơi để ôn luyện
là một biện pháp quan trọng. Thông qua trò chơi trẻ được phối hợp các hoạt
động của tay, mắt tạo tiền đề cho kỹ năng đọc viết, được thực hành ngôn ngữ,
dùng ngôn ngữ để nói ra những ý nghĩ của mình và học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm
với bạn... Sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ, tạo cho trẻ trạng thái học nói
tự nhiên, là con đường nhanh nhất để trẻ bắt trước, tập nói và ghi nhớ lâu những
từ ngữ mới học được.
Ví dụ: Trong trò chơi lắp ghép "Ngôi nhà".
- Các bộ phận để lắp ghép sẽ tương ứng với thứ tự lần lượt các chữ cái như:
+ Mái nhà chứa chữ N
+ Thân nhà chứa chữ G
+ Cửa chính chứa chữ Ô
13


+ Cửa sổ chứa chữ I
Trong quá trình lắp ghép trẻ sẽ biết được kí hiệu các chữ, thứ tự các chữ
trong từ và đọc được từ.
3.5. Biện pháp 5: Cho trẻ tiếp xúc với sách.
Đọc sách mỗi ngày cung cấp cho trẻ em cơ hội phát triển khả năng tưởng
tượng về nhân vật, môi trường, diễn biến, tình tiết nội dung câu chuyện. Khi
những câu chuyện trở nên quen thuộc sẽ giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp
điệu của ngôn ngữ nghệ thuật, làm quen với cách diễn đạt của ngôn ngữ văn

chức các hoạt động học cho trẻ. Sau khi đón con về nhiều phụ huynh cũng
không trò chuyện với trẻ về những những gì mà con được hoạt động ở trường
mà chủ yếu để các con tự chơi hoặc xem các phương tiện hiện đại như ti vi, điện
thoại.
Gia đình và nhà trường là hai nhân tố vô cùng quan trọng trong việc chăm
sóc giáo dục trẻ. Vì vậy, là giáo viên chủ nhiệm tôi thường xuyên trao đổi với
các bậc phụ huynh về tình hình sức khỏe cũng như học tập của các cháu, nhất là
những cháu nhút nhát, những cháu có khả năng nhận thức kém hơn các bạn
trong lớp. Chính vì điều này tôi nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của phụ
huynh rất nhiều, từ đó trẻ của lớp tôi phụ trách khả năng nhận biết chữ cái cũng
như các mặt hoạt động khác của ngôn ngữ tiếng Việt được tốt hơn.
Ngoài những tài liệu sách vở của trẻ trên lớp theo quy định của bậc học, tôi
còn tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh xây dựng "góc học tập" cho
trẻ tại nhà với bàn ghế phù hợp có bút chì, sáp màu, giấy, tranh, sách, bảng chữ
cái... được sắp xếp gọn gàng để trẻ cùng học tập với các thành viên trong gia
đình, nhắc trẻ ngồi đúng tư thế, cách cầm bút, giữ vở, giở sách rèn thói quen và
sự hứng thú trong học tập
Đồng thời tôi còn in các bài thơ câu chuyện phát tay cho các phụ huynh khi
đón con về, thường xuyên khuyến khích phụ huynh đọc truyện thơ bằng tiếng
Việt cho trẻ nghe để giúp trẻ nhớ tên truyện, thơ; tên các nhân vật trong truyện,
hiểu được nội dung và có thể đọc thuộc thơ, kể lại được câu chuyện cho người
khác nghe. Trường hợp bố mẹ không biết đọc thì có thể động viên các phụ
huynh kết hợp theo nhóm để phụ huynh nào biết thì đọc cho trẻ nghe, ngoài ra
nhà trường còn tư vấn và vận động các trưởng thôn, trưởng bản có các chương
trình phát thanh hay các buổi sinh hoạt tập thể như thi kể chuyện, hát múa, lễ hội
tại thôn bản bằng tiếng Việt cho trẻ, để trẻ có nhiều cơ hội giao lưu, sử dụng
tiếng Việt.
Chúng tôi còn tuyên truyền đến các bậc phụ huynh ủng hộ các phế liệu, các
nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để làm đồ dùng đồ chơi và các góc hoạt
động cho trẻ.

cực chủ động hơn.
Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển
kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp Lá A 1 (5 6 tuổi) trong năm học và đạt kết quả như sau:
ST
T
1
2
3
4

Kết quả đạt được cuối giai đoạn 2 như sau:
Đạt
Nội dung khảo sát
Tổng số trẻ
Số trẻ
%
Kỹ năng nghe
25
25
100
Kỹ năng nói
25
25
100
Làm quen với đọc, viết
25
25
100
Sự hứng thú học tập
25

kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt thì sẽ rất khó khăn trong sự hình
thành kỹ năng đọc, viết thực thụ.
Bản thân thấy rằng việc hình thành và phát triển kỹ năng nói mạch lạc ngôn
ngữ tiếng Việt cho trẻ là cả quá trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên
phải kiên trì, bền bỉ, khắc phục khó khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần
thiết để biến việc học đọc, học viết thành nhu cầu của trẻ, việc học chữ càng hấp
dẫn càng thu hút sự chú ý của trẻ.
Để đạt được kết quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua quá trình
thực hiện tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển kỹ
năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ, không ngừng học tập để nâng
cao trình độ chuyên môn, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình
giảng dạy.
- Tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo hấp dẫn với trẻ và phù hợp với nội
dung của bài dạy.
- Luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, tạo điều kiện quan tâm
đến trẻ, giúp trẻ phát huy hết tiềm năng của mình.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh để nắm được khả
năng của trẻ từ đó có kế hoạch phát triển kỹ năng nói mạch lạc ngôn ngữ tiếng
Việt phù hợp.
2. Kiến nghị:
Tôi mong lãnh đạo các cấp quản lí giáo dục ngày càng quan tâm hơn đến
bậc học mầm non, đặc biệt là việc thực hiện chế độ chính sách để đáp ứng nhu
cầu cuộc sống, tăng cường cải tạo cơ sở vật chất, đầu tư các trang thiết bị dạy
học để giáo viên có nhiều điều kiện trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, quan
tâm hơn nữa đến chế độ chính sách cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
để giúp các em có điều kiện đến trường được tốt hơn. Giáo viên là lực lượng
nòng cốt tạo nên sự phát triển của nhà trường, chính vì vậy cần xây dựng kế
hoạch để giáo viên có điều kiện được đi thăm quan các môi trường sư phạm và
được xem nhiều tiết dạy thực hành để học hỏi trau dồi kinh nghiệm hơn nữa./.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT HUYỆN LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
NÓI MẠCH LẠC NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT CHO TRẺ 5 - 6
TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG MẦM
NON QUANG HIẾN - LANG CHÁNH - THANH HÓA.

Người thực hiện: Phạm Lệ Thùy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Quang Hiến
SKKN thuộc lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ

20

THANH HÓA NĂM 2018




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status