Quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại trường tiểu học đông ngạc a, quận bắc từ liêm, thành phố hà nội - Pdf 57

VIN HN LM KHOA HC VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

H TH HNG

QUảN Lý CÔNG TáC CHủ NHIệM LớP
TạI TRƯờNG TIểU HọC ĐÔNG NGạC A, QUậN BắC Từ LIÊM
THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

H NI - 2019


VIN HN LM KHOA HC VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

H TH HNG

QUảN Lý CÔNG TáC CHủ NHIệM LớP
TạI TRƯờNG TIểU HọC ĐÔNG NGạC A, QUậN BắC Từ LIÊM
THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s: 8.14.01.14

LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

NGI HNG DN KHOA HC: TS. TRNG XUN C

H NI - 2019


Tiểu kết chương 2 .................................................................................................57
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
LỚP CỦA GIÁO VIÊN TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG NGẠC A,
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................58
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ..............58
3.2. Các biện pháp quản lý cụ thể .........................................................................60
3.3. Điều kiện thực hiện các biện pháp .................................................................71
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp ....................................................................74
3.5. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp phát
triển quản lý công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên trường tiểu học Đông
Ngạc A Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ............................75
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................81
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Diễn giải

1

CBQL

Cán bộ quản lý

3


HT

Hiệu trưởng

7

NV

Nhân viên

8

QL

Quản lý

13

SGK

Sách giáo khoa

12

THCS

Trung học cơ sở

11


Đất nước ta đang trong thời kì phát triển và hội nhập với các nước trên thế
giới, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay. Công tác giáo
dục và Đào tạo có vị trí vô cùng quan trọng nhất là đào tạo và đáp ứng được nguồn
nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển của xã hội trong cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ 4.
Để đạt được mục tiêu của ngành, phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học,
từng bước đổi mới phương pháp dạy học đối với GV, công tác quản lý đối với
CBQL theo định hướng phát triển năng lực, phù hợp với đối tượng, với từng cấp
học, lớp học. Ở mỗi cấp học, ngành học người giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò
quan trọng trong đó có thể nói GVCN là người quyết định mọi sự phát triển và tiến
bộ của lớp, người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh (HS).
Không những thế, đội ngũ GVCN còn là một lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Ban giám
hiệu. Ngoài việc trực tiếp giảng dạy ở lớp chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm trước hết
phải là nhà giáo dục, là người tổ chức hoạt động giáo dục, quan tâm tới từng học
sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, những biến động về tư tưởng,
nhu cầu, nguyện vọng của các em. Đồng thời, người giáo viên chủ nhiệm lớp bằng
chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các
phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. Mặt khác, họ còn là cầu nối giữa tập
thể học sinh với các tổ chức – xã hội trong và ngoài trường, là người tổ chức phối
hợp các lực lượng giáo dục. Người giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện cho
quyền lợi chính đáng của học sinh, bảo vệ học sinh về mọi mặt một cách hợp lý,
phản ánh trung thành mọi nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của học sinh với Ban giám
hiệu nhà trường, với các giáo viên bộ môn, với gia đình học sinh, với cộng đồng và
với các đoàn thể xã hội khác.
Trong công tác quản lý trường tiểu học, quản lý công tác chủ nhiệm có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, nó chính là yếu tố quyết định tới chất lượng của nhà

1





nói thì hình tượng có ý nghĩa rất quan trọng bởi “Mọi nhận thức đi từ cảm giác”,
“Nghiên cứu sự vật phải bằng quan sát chứ không phải bằng suy nghĩ”. Tuy nhiên,
về mặt nhận thức luận, đây là một điểm hạn chế. Ngoài ra, còn có 7 nguyên tắc tính
hệ thống, nguyên tắc tính vừa sức, nguyên tắc tính vững chắc của tri thức, nguyên
tắc tính tự giác, tích cực: Trong học tập, học sinh và nhà trường cần tạo ra sự ham
học (động cơ học tập) cho người học, phát huy mạnh mẽ các chức năng tâm lý nhận
thức (trí nhớ, hứng thú…) để lĩnh hội kiến thức. Học sinh nỗ lực tổ chức hoạt động
học tập của mình, dành thời gian tối đa có thể cho việc học tập. [17].
Ở Việt Nam, nghiên cứu về công tác chủ nhiệm ở các nhà trường phổ
thông đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm trên cả 2 phương diện lý
luận và thực tiễn. Tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với một số công
trình: “ Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”; “Một số vấn đề trong công
tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông hiện nay” (Nhà XB ĐH SP HN 2011). Các
tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ “Những tình huống
giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” NXB ĐH QG HN, 2000, Hà
Nhật Thăng chủ biên. Một số tác giả đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh
khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như: Bùi Ngọc Diệp, Lê Minh
Châu,… với “Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
ở trường tiểu học” NXB GD 2010.
Hiện nay, vấn đề này càng được chú trọng nhiều hơn và trở thành mối quan
tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà
nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình
nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của quản lý công tác chủ
nhiệm ở các cấp học, bậc học. Đây cũng là tư tưởng mang tính chiến lược về phát
triển giáo dục của Đảng ta: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp và quản lý
giáo dục đào tạo”. Hiện nay, quản lý công tác chủ nhiệm là một vấn đề mang tính
thời sự đã được quan tâm nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng
cao chất lượng dạy học trong nhà trường.

trường tiểu học Đông Ngạc A- quận Bắc Từ Liêm nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục và dạy học tiểu học trong tình hình hiện nay.

4


4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Quản lí công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trường tiểu học
Luận văn được nghiên cứu tại Trường Tiểu học Đông Ngạc A trong năm học
2018-2019
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Giáo viên chủ nhiệm là người đóng vai trò quan trọng trong nhà trường,
được Hiệu trưởng phân công chịu trách nhiệm phụ trách một lớp. Giáo viên chủ
nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện lớp học từ
giáo dục văn hóa cho đến giáo dục đạo đức nhân cách. Chính vì thế có thể nói giáo
viên chủ nhiệm là cầu nối đa chiều giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm lớp là thủ lĩnh, là linh hồn của lớp học, là người góp
phần không nhỏ hình thành và nuôi dưỡng nhân cách học sinh, những chủ nhân
tương lai của đất nước. Giáo viên chủ nhiệm như một nhà quản lý với các vai trò:
Người lãnh đạo lớp học, người điều khiển lớp học, người làm công tác phát triển
lớp học, người làm công tác tổ chức lớp học, thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng
và rèn luyện của học sinh, Một người giáo viên chủ nhiệm giỏi sẽ góp phần xây
dựng nên một tập thể lớp giỏi, nhiều tập thể lớp giỏi sẽ xây dựng nên một nhà
trường vững mạnh.
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Nếu
thực hiện thành công công tác chủ nhiệm sẽ góp phần giáo dục học sinh sau này trở
thành thế hệ trẻ năng động, sáng tạo và tài năng. Giáo viên chủ nhiệm phải là người
lãnh đạo, điều khiển lớp học, bao quát toàn bộ các phương diện của lớp học, thực
hiện việc kiểm tra, đánh giá sự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của học sinh.

nay còn nhiều bất cập và hạn chế về nội dung và phương pháp. Nếu tổ chức quản lý
công tác chủ nhiệm cho giáo viên trường tiểu học Đông Ngạc A bằng các biện pháp
quản lý phù hợp thì sẽ phát huy được năng lực quản lý công tác chủ nhiệm của giáo
viên, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học tại trường tiểu học Đông Ngạc
A, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

6


7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được thể hiện ở 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm của giáo viên tiểu học.
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm của giáo viên trong
trường Tiểu học Đông Ngạc A, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Chương 3. Các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trong
trường Tiểu học Đông Ngạc A, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

7


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CỦA
GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC
1.1. Trƣờng Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mà nhà nước với vai trò
chủ đạo thực hiện tổ chức đào tạo, giáo dục, thông qua đó cung cấp dịch vụ giáo
dục cho nhân dân. Tùy điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách an sinh của từng
quốc gia, việc phổ cập giáo dục được thực hiện ở từng cấp học. Tuy nhiên, các quốc
gia, đặc biệt các nước phát triển đều có chính sách đảm bảo cho giáo dục, tạo điều

ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc
học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một. [32]
1.1.1. Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học
Giáo dục tiểu học là một phần của giáo dục phổ thông. Mục tiêu của giáo dục
phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. [32]
1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của trường Tiểu học
Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân,
có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. Nhiệm vụ và quyền hạn của
trường tiểu học được quy định tại Điều 3 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT về Điều lệ
Trường tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cụ thể như sau:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục
tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành.
- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã
bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng.

9


Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của
các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công
của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình
tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân

pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục); nơi đầu
tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ
đạo cho trẻ em; nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và là nơi tạo ra cho trẻ em có
nhiều hạnh phúc. Tiểu học là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục phổ thông. Do
đó, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, nền tảng, toàn diện và
hệ thống; làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách của trẻ em, đáp
ứng mục tiêu giáo dục tiểu học. Giáo dục tiểu học có tính phổ cập. Giáo dục tiểu
học gắn với lợi ích của cộng đồng dân cư. Do đó, nó thể hiện tính phổ cập, đại
chúng. Giáo dục tiểu học được thực hiện có kết quả sẽ góp phần nâng cao dân trí
cho cộng đồng, vừa trực tiếp góp phần đào tạo nhân lực và cũng tạo ra điều kiện
thực tế để bồi dưỡng, phát hiện các nhân tài tương lai của đất nước. Tất cả đều có
cơ sở và phát triển trên nền tảng giáo dục tiểu học. Giáo dục tiểu học có tính nhân
văn, dân tộc và hiện đại. Trước hết, học sinh học xong tiểu học sẽ có trình độ văn
hóa nói chung, trình độ giáo dục phổ cập cấp tiểu học để học tiếp cấp trung học cơ
sở. Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất
nước và con người, biết đọc, biết viết, biết làm tính, biết tìm hiểu tự nhiên, xã hội và
con người. Chính vì vậy, trường tiểu học có rất nhiều dấu ấn để lại trong suốt cuộc
đời của mỗi con người.[6]
Nhiệm vụ và quyền hạn Theo Điều lệ trường tiểu học, tại điều 3 chương I
quy định nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học: Tổ chức giảng dạy, học tập và
hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông
cấp tiểu học do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành. Huy động trẻ em đi học
đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện
phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ
quan có thẩm quyền quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác
thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền.
Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong
nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách. Xây dựng,

11

học của cán bộ quản lý cấp Phòng và cấp trường đối với các trường tiểu học
12


chính là quản lý quá trình sư phạm tương tác giữa giáo viên, học sinh và yếu
tố môi trường tác động vào hoạt động dạy học và giáo dục theo chương trình
đã được quy định. Cán bộ quản lý cấp Phòng và cấp trường chịu trách nhiệm
quản lý toàn diện các mặt hoạt động trong nhà trường, mà trọng tâm là quản
lý quá trình giảng dạy – giáo dục, trong đó bao gồm một hệ thống cộng tác
như: đảm bảo chương trình, nội dung giảng dạy các môn, cải tiến việc dạy và
việc học, cung ứng những điều kiện dạy học. Ở trường tiểu học, giáo viên
phải dạy toàn diện các môn học, đòi hỏi cán bộ quản lý cấp Phòng và cấp
trường không những là người có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải có năng
lực chuyên môn và năng lực quản lý tốt để làm gương cho cán bộ, giáo viên
về phẩm chất đạo đức, giúp đỡ giáo viên về chuyên môn, quản lý có hiệu quả
các hoạt động của nhà trường. Cán bộ quản lý cấp Phòng và cấp trường quản
lý trường tiểu học phải thể hiện hai vai trò: người giáo viên và nhà quản lý. Vì
vậy, cán bộ quản lý cấp Phòng và cấp trường cần biết những kĩ năng nhất
định của giáo viên và những kĩ năng của nhà quản lý. Ta cần phải nhấn mạnh
các kĩ năng của nhà quản lý vì đấy là sự khác biệt của cán bộ quản lý cấp
Phòng và cấp trường so với giáo viên.
1.1.5. Yêu cầu đổi mới Giáo dục Tiểu học trong bối cảnh hiện nay
Yêu cầu của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là đào tạo được những
con người có đủ phẩm chất năng lực cần thiết, đáp ứng cho thị trường lao động của
xã hội hiện thời và tương lai. Những con người đó phải có đủ những năng lực để
làm việc trong môi trường kinh tế thị trường của một nước có nền công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phải đáp ứng được các thách thức của cuộc sống mới. Xu thế lao động
xã hội hiện nay là hợp tác toàn cầu, đa phương, thừa nhận những sự khác biệt, cho
nên những con người mới phải tận dụng những cơ hội đó để cùng phát triển, cùng
đấu tranh giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống, trong đó có cả thảm họa

học nhằm hình thành cho học sinh có những hiểu biết cơ bản và cần thiết về tự
nhiên, xã hội và con người. Thông qua các môn học Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên Xã hội nhằm rèn luyện cho học sinh có các kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và
tính toán phù hợp cấp tiểu học. Qua môn Thể dục hình thành thói quen rèn luyện
thân thể và giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường học tập sinh sống, có hiểu biết

14


ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật,.... Mục tiêu dạy học cấp tiểu học được xác
định theo năng lực học sinh, trong đó chú trọng tới các yếu tố hiểu biết về cuộc
sống; cân đối, hài hòa về thể chất và tinh thần; bước đầu thành thạo đọc, viết, tính
toán, tin học, tư duy, kĩ năng sống, có kĩ năng nhận biết và giải quyết vấn đề trong
cuộc sống hàng ngày; có kĩ năng, thái độ căn bản để chuẩn bị đối diện với những cơ
hội và thách thức trong cuộc sống ở thế kỉ XXI; có thái độ tôn trọng văn hóa truyền
thống và cuộc sống đa văn hóa; có tình yêu đối với người xung quanh, với đất nước.
Trường tiểu học là nơi đầu tiên trẻ tiếp xúc với phương pháp dạy học kiểu nhà
trường, vì vậy hoạt động dạy học tiểu học là dạy cho học sinh làm quen với các
phương pháp học để chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Trong
quá trình dạy học, giáo viên tiểu học là người giữ vai trò tổ chức, điều khiển hoạt
động của học sinh theo phương châm "Thầy tổ chức, trò hoạt động". Đây cũng là
nơi đầu tiên dạy cho học sinh cách học, biết hoạt động nhóm, biết cách tự học. [6]
1.2. Quản lí công tác chủ nhiệm của giáo viên tiểu học
1.2.1. Khái niệm quản lý và chức năng quản lý giáo dục
Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung.
C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất... Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.“Lao
động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục

cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý. Điều này đòi hỏi phải
biết định hướng đúng. Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác
động. Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu
quả. Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con
người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật. Có thể hiểu: Quản lý
là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung.”[25]
Trong một tổ chức để tất cả mọi người cùng thực hiện một mục tiêu chung
thì sẽ đòi hỏi phải có sự sắp xếp về những hoạt động cần thiết như kế hoạch, mục
tiêu, nhiệm vụ, phối hợp,hướng dẫn,... Những hoạt động đó là hoạt động quản lý.
Và người tiến hành tổ chức các hoạt động đó được gọi là người quản lý.

16


Quản lý theo tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin là hoạt động mang tính chủ
quan nhưng phải phù hợp với những quy luật khách quan và hoạt động tự giác của
con người. Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý
và khách thể quản lý luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường.
Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật. Vì vậy, người quản lý ngoài những
yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy cảm, linh hoạt trong công
tác lãnh đạo của mình. Từ những quan niệm trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động
có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn,
điều khiển đối tượng quản lý thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội với mục tiêu đưa hệ thống
giáo dục là một bộ phận của nó tiến đến mục tiêu đã xác định. Quản lý giáo dục
theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao
gồm các hoạt động giáo dục và có tính giáo dục của bộ máy nhà nước, của các tổ
chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục theo nghĩa h p bao
gồm: quản lý các hoạt động GD - ĐT diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện,

của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học
sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [22].
Nguyễn Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức
của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học –
giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo
dục nhà nước đề ra” [30].
Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà
trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ
trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [36].
Bùi Văn Quân: “Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội trong đó
diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực
hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để gây
ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm
thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong
việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục” [37].

18


Các quan điểm trên, tuy có những cách hiểu khác nhau, nhưng đã có sự
thống nhất ở những nội dung cơ bản về quản lý giáo dục là: Quản lý giáo dục là sự
tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục nhằm thực
hiện mục tiêu của giáo dục mà xã hội yêu cầu. Quản lý giáo dục là một hệ thống
những tác động có mục đích, kế hoạch, hợp quy luật để vận hành cả một hệ thống
hoạt động theo đúng yêu cầu đặt ra cho giáo dục. Quản lý giáo dục được thể hiện rõ
nhất ở hoạt động giáo dục trong nhà trường. Với sự thống nhất trên, có thể hiểu:
Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của người quản lý giáo dục
trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status