SKKN một số biện pháp dạy môn tập làm văn lớp 4 thể loại văn miêu tả theo hướng đổi mới - Pdf 57

MỤC LỤC
Danh mục
1.MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề dạy môn Tập làm văn lớp 4- Thể loại văn
miêu tả- Theo hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đông Tân
2.2.Thực trạng chung về vấn đề dạy phân môn Tập làm văn lớp 4 - thể
loại văn miêu tả theo hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đông Tân
2.3. Các giải pháp dạy tập làm văn lớp 4- Thể lạo văn miêu tả theo
hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đông Tân
2.3.1. Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để
từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên
lớp
2.3.2. Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu
tả ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này.
2.3.3. Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử
dụng các biện pháp và giải pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần
thiết.
2.3.4.Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân
môn thuộc môn Tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt phân môn tập làm văn
cần dạy tốt các phân môn Luyện từ và câu, Phân môn chính tả ,Tập đọc
2.3.5. Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
2.3.6. Hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung bài v¨n: (lựa chọn và
sắp xếp ý để miêu tả)
2.3.7. Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài:
2.3.8.Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài khi dạy tập làm văn lớp 4 -thể loại
văn miêu tả theo hướng đổi mới .

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Tập làm văn đóng vai
trò quan trọng, mang tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Đối với
học sinh tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em thiên về cảm tính, mỗi em có một
cách nhìn riêng về cùng một vấn đề, với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhỏ, học sinh
thích tìm tòi, học hỏi, khám phá cái mới trong nhận thức và trong cuộc sống xã hội.
Môn tập làm văn là một môn học chính trong chương trình lớp 4. Nhằm hình
thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: Nghe, nói, đọc, viết
để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông qua việc
dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác của tư duy .
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần
thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của
xã hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng
Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu,
nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người. Trong
đó phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân
môn thuộc môn Tiếng Việt (tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện). Chính vì
thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp
dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau. Chính vì vậy, bản
thân tôi năm học 2017- 2018 do nhà trường thiếu giáo viên tôi đảm nhận dạy lớp
4A, đón nhận chương trình đưa kỹ năng sống vào môn tập làm văn, môn đạo đức,
khoa học, nên bản thân cần phải nỗ lực phấn đấu đảm nhiệm chức trách của mình
đối với học sinh .
Ngay khi nhận lớp mới ở năm học 2017 – 2018, tôi thấy đa số học sinh viết
câu sai ngữ pháp, dùng từ chưa phù hợp với hoàn cảnh và đặc biệt là viết thiếu ý,
ngại phát biểu trong giờ học, dẫn đến chất lượng học tập phân môn Tập làm văn
chưa cao. Cho nên, việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học Tập làm văn theo

- Phương pháp thực nghiệm. Phương pháp thống kê toán học.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề dạy môn Tập làm văn lớp 4- Thể loại văn miêu
tả- Theo hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đông Tân
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn
Tiếng Việt. Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp
từ nhiều phân môn. Để làm được một bài văn, học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ
năng: nghe, nói, đọc, viết. Phải vận dụng các kiến thức về tiếng việt, về cuộc sống
thực tiễn.
Việc đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn, thể loại văn miêu tả ở lớp 4
Cho chúng ta thấy trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi phải là một sự sáng
tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất cụ thể rõ ràng. Còn với phân
môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra quy trình chung nhất cho mỗi loại
bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên khi lên lớp. Còn việc học thì sao?
Ngoài sách giáo khoa Tiếng Việt thì hiện nay có rất nhiều loại sách tham khảo cho
học sinh, giúp cho học sinh có cái nhìn đa dang, phong phú hơn. Song những cuốn
sách tham khảo của phân môn Tập làm văn lại thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn
chỉnh nên khi làm văn các em thường dựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao
chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm của mình. Cách cảm thụ, cách nghĩ của các
em không phong phú mà còn đi theo lối mòn khuôn sáo, tẻ nhạt. Từ những lý do
khách quan và chủ quan trên để khắc phục những hạn chế trong việc dạy Tập làm
văn ở Tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, tôi đã

3


chọn nghiên cứu dề tài: "Một số biện pháp dạy môn Tập làm văn lớp 4 - Thể loại
văn miêu tả theo hướng đổi mới ".
Tóm lại: Dạy tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học sinh tích

cận với phương pháp đổi mới khi dạy Tập làm văn thường xuyên hơn.
+ Khó khăn
Tiếng việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáo
viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú cần phải có vốn sống thực tế, người
giáo viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy. Biết gợi mở óc tò

4


mò, khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh, giúp cho các em nói viết thành văn bản,
ngôn ngữ quả không dễ.
b, Thực trạng đối với học sinh:
+ Thuận lợi
- Môn tiếng việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dung
phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạy học
hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em.
- Các em đã được học chương trình tiếng việt từ lớp 1, đặc biệt là các em ở
lớp 2, lớp 3 đã nắm vững kiến thức, kỹ năng của phân môn Tập làm văn như kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng tạo lập ngôn bản, kỹ năng kể chuyện miêu tả. Đây là cơ sở
giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp 4 - thể loại văn miêu tả
+ Khó khăn - Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau
quên, mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao.
- Kiến thức về cuộc sống thực tế của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng đến
việc tiếp thu bài học.
- Vốn từ vựng của học sinh chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hành
độc lập. Cụ thể là: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạo
trong thực hành viết văn chưa cao, thể hiện ở cách bố cục bài văn, cách chấm câu,
sử dụng hình ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh động.
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình. Ví dụ: Phần

SL
TL%
2
6.4%

Hoàn thành
SL
TL%
17
53 %

Chưa hoàn thành
SL
TL%
13
40.6 %

Qua khảo sát cho thấy học sinh chưa biết cách diễn đạt câu văn có hình ảnh, vốn
từ vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít, do vậy chất lượng bài viết của các em
chưa cao, ý văn nghèo nàn, câu văn lủng củng, học sinh quan sát đồ vật khi tả
không theo một trình tự hợp lý, chưa biết tìm ra những đặc điểm riêng để phân biệt
đồ vật này với đồ vật kia. Tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành còn nhiều. Kết quả này
cũng thể hiện phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được tính tích
cực của học sinh trong giờ học. Từ kết quả khảo sát như vậy, sau đây tôi xin đưa ra
một số giải pháp dạy môn Tập làm văn lớp 4 - thể loại văn miêu tả theo hướng đổi
mới
2.3. Các giải pháp dạy tập làm văn lớp 4- Thể lạo văn miêu tả theo hướng đổi
mới ở Trường Tiểu học Đông Tân
2.3.1- Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó
tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp

+ Phần bao quát (01 em).
+ Phần chi tiết (02 em).
+ Hoạt động liên quan (01 em).
Ví dụ 1: Kiểu bài tả về đồ vật: “Tả chiếc cặp sách”.
Yêu cầu thảo luận phần thân bài sau đây:
+ HS1: Tả bao quát, kích thước, màu sắc, chất liệu của cặp ?
+ HS2: Tả bên ngoài cặp gồm: mặt cặp, nắp cặp, quai đeo, ổ khóa.
+ HS3: Tả bên trong cặp có mấy ngăn ? Mỗi ngăn đựng gì ?
+ HS4: Nêu ích lợi chiếc cặp ?
Sau khi thảo luận xong đại diện các nhóm học sinh trình bày:
+ HS1: Cặp hình chữ nhật, làm bằng vải giả da. Dài hơn hai gang tay của em,
rộng khoảng một gang rưỡi. Cặp có nhiều màu rất đẹp.
+ HS2: Ở phía trên cặp có quai xách thật êm tay. Sau lưng là hai quai đeo.
Hai ổ khóa bằng sắt, mỗi khi đóng hoặc mở nghe “tách, tách” rất vui tai. Ngoài mặt
cặp có in hình chú chó đốm rất đẹp.
+ HS3: Phía bên trong có ba ngăn. Ngăn lớn đựng sách, ngăn thứ hai đựng
bảng con, đồ dùng khác …, ngăn thứ ba nhỏ nhất đựng bút, thước, và các đồ dùng
như: áo đi mưa, chai nước, …
+ HS4: Chiếc cặp giúp em đựng sách vở không bị rơi rớt và không bị mưa
ướt.
2.3.2.Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ngay
từ tiết đầu tiên của thể loại bài này.
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối tượng
nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép,
chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận
xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái
riêng biệt của mỗi người.
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: "Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với
cái chân thật". Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng
tạo của người viết nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết "bịa" một

trũn xoe, giũn, d góy), dựng cỏch núi nhõn hoỏ qu si phi mỡnh lm cho s
miờu t thờm gn gi, sinh ng.
T t ngoi vo trong
- Vớ d: Cỏi vnh, cỏi ỏo u lm bng nan tre. Hai cỏi tai nú bng tre gi mu
nõu. Mi tai cú mt cỏi l trũn xoe. Lỳc no, tai cựng tnh tỏo nghe ngúng. Ci
cú hai hm rng bng g d. U gi l dm. Rng cú nhiu, ken vo nhau.
( Cỏi ci tõn, Ting Vit 4 tp 1)
T t xa n gn.

8


Ví dụ: “…Tôi vội ra khoang trước nhìn. Xa xa từ vệt rừng đen, chim cất
cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn kiến từ trong lòng đất chui ra, bò li ti đen ngòm
trên da trời. Càng đến gần, những đàn chim bay đen kít trời …Mỗi lúc tôi càng
nghe tiếng chim kêu náo động như tiếng xúc những rổ đồng tiền…”
( Trích Đất rừng Phương Nam , Đoàn Giỏi )
b. Tả theo trình tự thời gian.
Quan sát diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, từ mùa này
sang mùa khác, từ tháng này sang tháng khác… Cái gì xảy ra trước ( có trước) thì
miêu tả trước, cái gì xảy ra sau ( có sau ) thì tả sau. Trình tự này thường được vận
dụng trong bài văn tả cảnh vật, hiện tượng tự nhiên ( tả cảnh ) hay tả cảnh sinh hoạt
của người.
Ví dụ: “… Buổi chiều, xe dừng lại một thị trấn nhỏ, Nắng phố huyện vàng
hoe. Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo
sặc sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn,
người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt…”
( Đường đi Sa Pa, Nguyễn Phan Hách, TV4, tập 2 )
c. Tả theo trình tự tâm lý:
Thấy đặc điểm gì nổi bật, thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (

to lộp bộp rơi xuống mái nhà. Có em thấy mưa tuôn rào rào, xối xả trên mái nhà
mặt đường, muôn nghìn hạt mưa đổ xuống .
Trong quan sát, giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát sự vật ở nhiều thời
điểm, hoàn cảnh, trạng thái, nhiều hoạt động khác nhau để tìm ra cái riêng, cái mới
trong văn miêu tả .
Ví dụ : Quan sát con vật :
Quan sát con mèo ngủ, sưởi nắng, bắt chuột, rình mồi, khi leo cây, để thấy
được những nét khác nhau từ ánh mắt, bước đi, cách vẫy đuôi, tiếng kêu...của nó,
cụ thể hơn nữa bình thường con mèo kêu meo meo nhưng khi đánh nhau, khi vồ
chuột và cả khi sợ nó lại kêu ngao ... gừ... Mèo ngủ cũng có nhiều cách ngủ, khi thì
cắm đầu xuống giấu trong hai chân trước, khi lại ngửa mặt, vênh râu lên. Trời nóng,
lạnh, khi ốm, khoẻ mèo có những chỗ ngủ, cách nằm ngủ khác nhau.
2.3.3. Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng các
biện pháp và giải pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
Muốn một bài văn hay, có "hồn", có chất văn thì các em phải có vốn từ ngữ
phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp, Chính vì vậy
giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc, luyện từ và câu và
cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói chuyện trong các tiết sinh
hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo các chủ đề, chủ điểm, khi có một
từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn
có thể sử dụng một cách dễ dàng.
Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu
học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp
so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay
những từ biểu lộ tình cảm.
* Khi làm một bài văn miêu tả về con mèo chúng ta cần miêu tả:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc.
Giáo viên hỏi: Em nào nhận xét cách đặt câu của bạn? Học sinh có thể nhận xét:
bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc.
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của

vậy muốn có bài văn hấp dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh
trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và
trình bày rõ ràng, sạch sẽ.
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết
cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là kỹ năng
sản sinh văn bản dưới dạng nói của học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình cảm,
giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập
cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Ví dụ: Tuần 15: Chủ điểm “ Tiếng sáo diều”
Tập đọc: Bài Cánh diều tuổi thơ - Tiếng việt 4 - Tập 1 –Trang 146
Tác giả đã miêu tả cánh diều bằng nhiều giác quan. Mắt nhìn cánh diều mềm
mại như cánh bướm; Tai nghe tiếng sáo diều vi vu....
Chính tả: Tiếng việt 4 - Tập 1-Trang 147
Bài tập 3: Miêu tả một trong các đồ chơi hoặc trò chơi nói ở bài tập 2
Bài tập này học sinh có thể miêu tả chiếc ô tô; tàu hoả, chong chóng ....
Kể chuyện : Kể chuyện đã nghe đã đọc- Tiếng việt 4- Tập 1-Trang 148
Bài tập 1: Hãy kể một câu chuyện mà em đã được đọc hay được nghe có nhân vật
là những đồ chơi của trẻ em

11


Với đề bài này học sinh có thể kể những câu chuyện như “ Chú lính chì dũng cảmAn-đéc –xen” ; “ Chú đất nung - Nguyễn Kiên ....”
Tóm lại các phân môn của Tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung riêng,
phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn bổ
sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân môn
khác. Với phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những phân
môn khác, muốn học tốt Tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn lại.
2.3.5. Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường thu

lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người

12


vit vi i tng miờu t. Thc t cho thy hc sinh thng hay lit kờ cm xỳc
ca mỡnh lm phn kt lun khụ cng, gũ bú, thiu tớnh chõn thc. Ch yu cỏc
em thng lm kt bi khụng m rng, kt bi nh vy khụng sai nhng cha
hay, cha hp dn ngi c. Vỡ vy ũi hi ngi giỏo viờn phi gi ý hc
sinh bit cỏch lm phn kt bi cú m rng bng cm xỳc ca mỡnh mt cỏch
t nhiờn thụng qua nhng cõu hi m, sau ú cho cỏc em nhn xột, sa sai v
cht lc cú c nhng kt bi hay.
Vớ d : Cõy go cú th sng n nghỡn nm. Nú l nhõn chng thm lng ca
dũng i. Cụ giỏo em núi th. i hc v, ng trờn bờn ũ, hoc i xa v, ngm
nhỡn ba cõy go, em thy lũng bn chn xụn xao. Cõy go l hn quờ, l tỡnh quờ
vi y.
Vn chng khụng phi l s ỳng, sai vi lm vn ỳng thụi cha phi
thm m cm xỳc ca ngi vit. Song tỡnh cm khụng phi th gũ ộp bt buc,
tỡnh cm y phi chõn thc, hn nhiờn, xut phỏt t chớnh tõm hn cỏc em. Bi vn
khụng th hay nu thiu cm xỳc ca ngi vit, cm xỳc khụng ch bc l phn
kt bi m cũn th hin tng cõu, tng on ca bi. Vỡ vy giỏo viờn cn chỳ ý
rốn cho hc sinh cỏch bc l cm xỳc trong bi vn mt cỏch thng xuyờn liờn
tc, t tit u tiờn ca mi loi bi n nhng tit luyn tp xõy dng on vn,
tit vit bi v ngay trong tit tr bi na.
2.3. 6. Hng dn hc sinh xõy dng ni dung bi văn :( la chn v sp xp ý
miờu t)
Ni dung bi y , phong phỳ l yờu cu khụng th thiu c ca mt bi
tp lm vn tt. Vi yờu cu ny ta cn tin hnh qua cỏc bc: tỡm ý, lp dn bi
chi tiết theo b cc 3 phn (m bi, thõn bi, kt bi). cỏc t ng ni liờn kt
cõu cht ch, trụi chy. Từ ngữ miêu tả phải thích hợp, câu văn có

-Tả đồ vật : Ví dụ: Đề bài: “ Tả một đồ chơi mà em thích”. Tôi cho các em làm
theo các gợi ý sau:
- Muốn miêu tả đồ vật, trước hết phải quan sát đồ vật đó là đồ vật gì? ( búp bê,
gấu bông, con quay, cái chong chóng,..)
- Quan sát theo một trình tự hợp lí.
+ Nhìn bao quát:
+ Quan sát từng bộ phận ( bên ngoài/ bên trong, bên trên/ bên dưới, đầu/ mình/
chân tay,..)
- Nên quan sát bằng nhiều giác quan.
+ Dùng mắt để xem hình dáng, kích thước, màu sắc,...của đồ vật như thế nào.
+ Dùng tay để biết đồ vật mềm hay rắn, nhẵn nhụi hay thô ráp, nặng hay nhe.,...
+ Dùng tai để nghe đồ vật khi được sử dụng có phát ra tiếng động không, tiếng
động ấy như thế nào.
- Cố gắng tìm ra những đặc điểm riêng của đồ vật, phân biệt nó với những đồ vật
khác, nhất là những đồ vật cùng loại.
- Tả cây cối: Từ gợi ý của các bài văn mẫu, biết lập dàn ý miêu tả một cây ăn trái
quen thuộc theo hai cách đẫ học: Tả lần lượt từng bộ phận của cây hoặc tả lần lượt
từng thời kì phát triển của cây.
c. Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ, ấn tượng về đối tượng miêu tả theo
kiểu mở rộng hoặc không mở rộng.
Có nhiều cách kết bài khác nhau cho một bài văn miêu tả nhưng đều phải xuất
phát từ nội dung chính mà các em vừa khai thác được ở phần thân bài. Để thực hiện
tốt điều này chúng ta có thể gợi mở:
2.3.7. Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài:
Tất cả những công việc, từ những việc làm thông thường hàng ngày đến việc
nghiêm túc đều thực hiện theo một chu trình nhất định, bắt đầu từ việc lập kế hoạch
đến việc triển khai thực hiện kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá lại
những việc đã làm so với kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá lại

14

yếu của mỗi hoạt động. Soạn bài là việc làm đầu tiên, tất yếu của người giáo viên,
Bài soạn chính là bản kế hoạch của giờ lên lớp, ngày nay được gọi là kế hoạch bài
học.
Để có được kế hoạch bài học cụ thể, rõ ràng có chất lượng, có tác dụng thiết
thực, đem lại hiệu quả cao, người giáo viên phải huy động tối đa tất cả năng lực,
phẩm chất của mình như năng lực hiểu biết và chế biến tài liệu, năng lực hiểu học
sinh, năng lực ngôn ngữ…lòng yêu nghề, niềm tin sự nhiệt tình và lòng đam mê
nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển hoá được những kiến thức của
sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là giáo án được thực
hiện hoá qua bài giảng trên lớp giúp học sinh hiểu bài tốt hơn.
Qua nghiên cứu thực tế tôi có thể mạnh dạn đưa ra quy trình dạy tiết Tập làm
văn lớp 4 - thể loại văn miêu tả theo hướng đổi mới như sau :

15


I. Mục đích yêu cầu :
- Nêu mục đích yêu cầu của bài học
II. Đồ dùng dạy học :
- GV chuẩn bị dồ dùng dạy học phù hợp với nội dung, yêu cầu bài học
III. Các hoạt động dạy học chủ yếu :
Hoạt động 1: Cũng cố kiến thức đã học ở tiết trước
Hoạt động 2: Giới thiệu nội dung bài dạy
Hoạt động 3: ( Đối với loại bài lý thuyết ) Hình thành khái niệm
- Phân tích ngữ liệu : + Học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập
+ Giáo viên tổng kết ý kiến và kết luận
- Ghi nhớ kiến thức: Học sinh nêu lại phần ghi nhớ trong SGK
Hoạt động 4: Hướng dẫn luyện tập
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập thực hành một số bài tập trong tiết học

được rất nhiều kết quả khả quan: học sinh tập hào hứng hơn, mạnh dạn hơn, vốn từ
của học sinh phong phú hơn câu văn giàu hình ảnh. Sau khi áp dụng những biện
pháp trên vào dạy Tập làm văn lớp 4A tôi ra đề bài sau :
Đề bài: Tả một con vật lần đầu tiên em thấy trên họa báo hay trên truyền
hình phim ảnh ( Tiếng việt 4 - Tiết Tập làm văn – trang 149 )
Kết quả thu được như sau:
Lớp
4A

Số học
sinh
32

Hoàn thành tốt
SL
TL%
8
25%

Hoàn thành
SL
TL%
24
75 %

Chưa hoàn thành
SL
TL%
0
0



khó, học sinh lớp 4 tuy đã gần cuối cấp tiểu học nhưng việc làm văn cũng mới
dừng ở mức độ "tập", nội dung chương trình lại hoàn toàn mới .Không phải ai sinh
ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn chương mà khả năng ấy phải được
bồi đáp dần qua năm tháng, qua trang sách và những bài giảng hàng ngày của thày
cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học sinh thì chính mỗi giáo viên phải định
hướng, gợi mở cho các em phương pháp học tập như những cây non được ươm
trồng cần bàn tay con người chăm sóc, vun xới thì nó sẽ trở nên tươi tốt. Với học
sinh lớp 4, các em không thể vừa bắt tay vào viết văn đã có được những dòng văn
hay mà văn hay là kết quả của một quá trình rèn luyện liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Văn
hay không thể có được ở những học trò lơi là đèn sách. Với tinh thần đó, việc rèn
kỹ năng làm văn vừa để nhằm mục đích nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng
cao ý thức tự rèn luyện của học sinh. Đó chính là động lực thúc đẩy tôi hoàn thành
bài tập nghiên cứu khoa học này.
3.2. Kiến nghị
+ PGD cần thường xuyên có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên
+ Tạo điều kiện để giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại sách
tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn.
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều thành
tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Những chuyên đề bồi dưỡng không nên mang nặng tính hình thức ,cần thực tế
phù hợp hơn
+ Thường xuyên tổ chức đánh giá việc đổi mới phương pháp dạy học để nang
cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Trên đây là một số suy nghĩ tìm tòi của tôi trong quá trình dạy học sinh thực hành
tập làm văn. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu, và trình độ, kinh nghiệm có
hạn nên những vấn đề nêu trên không khỏi những sai sót.
Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status