I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học nói chung và dạy phân môn Tập
làm văn nói riêng là một vấn đề vô cùng quan trọng. Trong khi đó Tập làm văn
là phân môn tổng hợp cao nhất của tất cả các phân môn Tiếng Việt khác ở bậc
Tiểu học: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Mục tiêu của cả người
dạy và người học là “có cảm xúc” trong mỗi tiết học văn. Người giáo viên giúp
cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong các bài văn, bài thơ, cuộc sống
xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Song một
thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong các cấp học mà đặc biệt là bậc
Tiểu học, phần lớn học sinh viết văn rất khô khan.
Qua thực tế dạy phân môn Tập làm văn lớp 4, tôi nhận thấy bài viết của các
em hầu như chỉ diễn đạt nội dung. Câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ
chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Đây là điều tất nhiên, vì ở lứa tuổi này vốn
sống và vốn kiến thức của các em còn hạn hẹp. Đứng trước thực tế đó, tôi rất
băn khoăn và trăn trở: “Làm thế nào để giúp các em yêu thích phân môn Tập
làm văn ? Giúp các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của cảnh
vật, thiên nhiên đất nước ? Giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm xúc của cá nhân,
mở rộng tâm hồn và phát triển nhân cách ?”.
Qua nhiều năm dạy lớp 4 tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh nghiệm
của mình để khơi dậy những tiềm năng văn học đang ẩn giấu trong mỗi học
sinh. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày một vài kinh nghiệm
Một số biện pháp Nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
2. Mục đích nghiên cứu:
a, Giúp HS lớp 4:
- Rèn kĩ năng quan sát tìm ý, xây dựng nội dung bài văn.
- Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt lưu loát, mạch
lạc.
- Rèn kĩ năng viết văn giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Bồi dưỡng tình cảm yêu mến, gắn bó, biết trân trọng những gì xung quanh các
em.
- Tiến hành đồng thời với phương pháp kiểm tra toán hoc và phương pháp tổng
hợp số liệu. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng bài văn miêu tả của từng học sinh,
tôi mô tả và thống kê chất lượng bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các
số liệu đã thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Miêu tả là lấy "nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện chân tướng của sự vật ra".
Trong văn miêu tả người ta không đưa ra những nhận xét chung chung, những
lời đánh giá trừu tượng về sự vật. Mà văn miêu tả phải vẽ ra các sự vật, sự việc,
hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Giúp cho
người nghe, người đọc nhìn rõ chúng, tưởng tượng được ra chúng như đang nhìn
tận mắt, sờ tận tay. Tuy nhiên miêu tả không phải là một bức ảnh chụp lại hay
một bản sao chép vụng về mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế,
những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát. (Từ
điển Tiếng Việt Đào duy Anh)
Với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh các lớp 4, việc hình thành và phát triển
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là vô cùng quan trọng được thể hiện ở tất cả các
môn học và nổi bật nhất là ở môn Tiếng Việt. Do đó việc dạy Tập làm văn ở
Tiểu học góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo
2
điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tốt các môn
học khác như văn bản viết các em có được từ phân môn Tập làm văn đã thể hiện
những hiểu biêt thực tế, những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt mà các em đã được
học ở môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng và các môn
học khác.
Trong đời sống, muốn người khác công nhận ra những điều mình đã nhìn thấy,
đã sống, đã trải qua... chúng ta phải miêu tả. Trong văn học, các câu chuyện, các
cuốn tiểu thuyết, thậm chí ngay cả trong văn nghị luận hay văn viết thư, nhiều
3
Sĩ số
HS
25
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
9-10
7- 8
5- 6
3- 4
1- 2
SL
5
20%
1
4%
Qua bài làm của các em tôi nhận thấy rằng: Số lượng bài làm hay của học
sinh rất ít. Nhiều bài diễn đạt lủng củng, bố cục không chặt chẽ, dùng từ thiếu
chính xác, câu văn không đúng ngữ pháp, cách sử dụng biện pháp so sánh và
nhân hoá chưa phù hợp, bài viết thiếu cảm xúc. Kết quả như vậy là chưa đạt yêu
cầu đề ra và là nỗi lo của tôi. Từ thực trạng trên, để công việc dạy và học đạt kết
quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
3. Các biện pháp giải quyết:
Biện pháp 1: Giúp học sinh lĩnh hội kiến thức văn học.
Dựa vào chương trình tiểu học, đã thiết kế chương trình tập làm văn lớp 4
loại văn miêu tả theo cấu trúc:
+ Khái niệm miêu tả: 1 tiết/ kì 1.
+ Miêu tả đồ vật: 6 tiết/ kì 1; 4 tiết/ kì 2.
+ Miêu tả cây cối: 11 tiết / kì 2.
+ Miêu tả con vật: 8 tiết / kì 2.
Cả năm học 30 tiết loại văn miêu tả / 62 tiết.
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn, bài văn. Nó có
một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hiểu, sử dụng đúng, sử dụng hay mới
có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình. Vậy mà vốn từ của các
em rất ít. Điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Những kiến thức lơ mơ, thiếu
vốn từ làm thế nào có thể viết văn hay được. Bằng mọi cách phải bổ sung vào
vốn từ ít ỏi của các em bằng sự phong phú của Tiếng Việt. Cách làm nhanh nhất
Ví dụ : Khi dạy đến bài " Hoa học trò " Tiếng Việt 4, trang 43.
Trong phần tìm hiểu bài tôi giúp các em cảm nhận được cái hay, cái độc đáo qua
cách dùng từ của Xuân Diệu.
Để giúp người đọc cảm nhận được số lượng hoa phượng ra nhiều và rất đẹp,
ông đã sử dụng một loạt các điệp từ, điệp ngữ để diễn tả điều đó.
Phượng không phải là một đoá, không phải vài cành; phượng đây là cả một
loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phẩn tử của xã hội
thắm tươi; người ta quên đoá hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán
hoa lớn xoè ra như ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
Tóm lại: Ta thấy các từ ngữ miêu tả trong các bài Tập đọc rất đa rạng và
phong phú, chúng được sử dụng rất hay, sinh động, gây ấn tượng. Cách sử dụng
các biện pháp nghệ thuật trong các bài Tập đọc cũng rất sáng tạo. Bằng cách
này tôi đã giúp học sinh tích luỹ thêm vốn từ và học cách sử dụng chúng, đồng
thời thông qua các bài Tập đọc tôi cũng giúp các em hiểu thêm rằng để một bài
văn miêu tả hay thì cần phải sử dụng các biện pháp nghệ thuật hợp lí.
Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách chọn từ ngữ và sử dụng từ ngữ.
Ở loại văn miêu tả, kiến thức cho học sinh bao gồm một số hiểu biết ban đầu
về đặc điểm chính của bài dạy cụ thể:
+ Thế nào là miêu tả?
+ Quan sát để miêu tả cho sinh động.
+ Trình tự miêu tả.
5
+ Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả.
Song song với việc tích lũy vốn từ qua phân môn Tập đọc. Trong tiết luyện
viết đoạn văn tôi thường xuyên hướng dẫn các em củng cố về từ ngữ qua dạng
bài luyện từ, từ dễ, từ khó.
* Điền từ để câu văn giàu hình ảnh: Chọn các từ ngữ sau điền vào chỗ trống
cho thích hợp (long lanh như thuỷ tinh; vàng óng; liến láu; căng mọng; cao vút;
văn, vừa khiến cho các em thoải mái trong giờ học, vừa nhớ lâu.
6
Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh viết câu có kết cấu đơn giản.
Tháp cao nào cũng phải xây dựng từ dưới mặt đất. Để viết được những câu
văn mang tính nghệ thuật trong kết cấu, trước tiên học sinh cần nắm được câu
trong dạng đơn giản nhất, đó là những dạng câu học sinh đã được học: Câu kể
(Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?), câu khiến, câu hỏi, câu cảm.
Dạy những loại câu này đối với học sinh không khó. Ta chỉ cần hướng dẫn
tốt tiết Luyện từ và câu. Trong chương trình xác định các yêu cầu cơ bản học
sinh cần nắm được và thường xuyên củng cố thật nhiều.
Câu có hai bộ phận chính: Chủ ngữ và vị ngữ.
- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?
- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Như thế nào? Là gì?
Đi đôi với việc dạy lý thuyết tôi cho học sinh luyện viết câu, phân tích thật
nhiều, lấy ngay các từ học sinh tích luỹ được trong tiết Tập đọc để đặt câu:
Ví dụ: Sau khi học xong bài tập đọc “ Sầu riêng” Tiếng việt 4, tập 2:
+ Tôi hướng dẫn để học sinh tích luỹ được các từ: ngọt ngào, quyến rũ, quyện
và học cách sử dụng chúng. Để các em hiểu nghĩa của các từ này tôi yêu cầu các
em đặt câu có từ vừa tích lũy được và phân tích:
Dạ hương / ngọt ngào lan toả khắp khu vườn.
CN
VN
Vườn hoa / quyến rũ lũ ong bướm rập rờn bay đến.
CN
VN
Mít chín / thơm nồng, ngọt sắc như vị của trứng gà quyện với mật ong già.
CN
VN
Ví dụ:
- Cánh hoa đỏ thắm. Cánh hoa mịn như nhung.
- Hoa lan màu đỏ. Hoa cúc vàng. Hoa huệ màu trắng.
- Đóa hồng hồn nhiên, rực rỡ. Đóa hồng căng đầy sức sống.
- Chú mèo cuộn mình. Nó lăn tròn như quả bóng.
- Chiếc cặp giản dị, mộc mạc. Chiếc cặp rất tiện lợi.
Tôi hướng dẫn học sinh thay thế nhiều câu thành một câu. Bằng cách làm
này, bài văn sẽ không bị lặp lại từ và bớt đi sự cứng nhắc khô khan kể lể. Học
sinh viết câu văn hấp dẫn hơn.
- Cánh hoa đỏ thắm, mịn như nhung.
- Hoa lan, hoa cúc, hoa huệ đua nhau khoe sắc.
- Đóa hồng hồn nhiên, rực rỡ căng đầy sức sống.
- Chú mèo cuộn mình, lăn tròn như quả bóng.
- Chiếc cặp tuy giản dị, mộc mạc nhưng rất tiện lợi.
Sau khi được tập luyện nhiều, học sinh có thói quen kết hợp ý để diễn đạt.
Bài văn không rời rạc, khô khan bởi chỉ được viết từ các câu đơn.
Biện pháp 5. Hướng dẫn học sinh viết câu văn có sử dụng biện pháp nghệ
thuật.
Muốn bài văn hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật. Học sinh
lớp 4 kiến thức về lĩnh vực này còn hiểu lơ mơ, hời hợt. Nếu giáo viên không
dạy, học sinh khó mà nắm bắt được. Để đưa nghệ thuật vào trong văn có rất
nhiều biện pháp. Nhưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biện pháp
nghệ thuật phù hợp nhất là so sánh, nhân hóa.
8
1, Hướng dẫn học sinh viết câu văn có hình ảnh so sánh:
Tôi đã hướng dẫn học sinh tìm các câu có các hình ảnh so sánh:
Ví dụ:
- Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ.
giống bông hướng dương song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của bông hoa.
Từ đó giúp học sinh hình thành sự hiểu biết. Khi so sánh muốn làm cho một sự
vật đẹp hơn phải so sánh với sự vật khác giống nhưng đẹp hơn, có những nét
độc đáo, nổi bật hơn và ngược lại.
9
Việc này học sinh phải được luyện tập thường xuyên, vì nếu không luyện
tập thì các kiến thức đó cũng mai một dần. Sau đây là một vài dạng bài tập mà
tôi đã xây dựng trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”:
a, Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.
Tôi giới thiệu một số hình ảnh cụ thể cho học sinh quan sát (các hình ảnh này
các em đã học ở phân môn Tập đọc).
" Thân dừa bạc phếch tháng năm.
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.
Đêm hè, hoa nở cùng sao.
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh."
"Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng
chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt
long lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng
mùa thu."
So sánh như vậy giúp các em cảm nhận được điều gì mới mẻ của sự vật?
Dạng bài này không khó đối với học sinh nhưng không phải học sinh nào cũng
cảm nhận được cái đẹp cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉ nhận ra
hình ảnh so sánh. Tôi gợi ý cho mỗi học sinh tự chọn chi tiết cụ thể của đối
tượng cần miêu tả, rồi tìm những từ ngữ, ý văn, câu văn, hình ảnh so sánh mà
mình cảm thấy phù hợp, hay có thể sử dụng để miêu tả chi tiết đó của đối tượng.
+ Lớp nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp.
+ Vận dụng chính những từ ngữ, câu văn, ý văn được lớp đánh giá cao theo ý
thích của riêng mình đưa vào bài của mình, tạo ra nét riêng trong chính bài làm
án khác nhau nhưng đều làm đúng yêu cầu bài tập:
- Lá cọ tròn xoe ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như (bàn tay vẫy hoặc một
mặt trời mới mọc).
- Hoa bỏng treo lủng lẳng từng chùm trên cây như (những chiếc đèn lồng nhỏ
xíu hoặc chùm quả…).
- Ngựa lao nhanh trên đường đua tựa như (những mũi tên bay trong gió hoặc
những viên đạn rời khỏi nòng súng…).
- Đôi cánh mẹ gà xoè ra như (hai mái nhà hoặc chiếc ô vững chãi…) che chở
cho các chú gà con.
- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là (ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con hoặc ngôi sao dẫn
đường cho con đi lên phía trước…).
- Nụ hồng trông giống hệt những (chiếc tháp) bé bé, xinh xinh.
Với dạng bài này tôi giúp học sinh thường xuyên luyện tập chọn từ điền
thoải mái, không áp đặt. Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khen
học sinh chọn từ để cho học sinh hứng thú học văn.
d, Tập so sánh.
Nâng cao hơn, tôi yêu cầu các em tìm hình ảnh so sánh và tự diễn đạt câu.
Tôi đưa ra những sự vật ví dụ như:
- Hoa thược dược, hoa cẩm chướng, hoa loa kèn, hoa xoan…
- Con đường, bãi cỏ, đồng lúa chín…
- Tàu dừa, vầng trăng (tròn, khuyết), mặt hồ…
Loại bài tập này khó hơn, nó đòi hỏi học sinh có trí tưởng tượng phong phú
lẫn kĩ năng diễn đạt mới có thể chọn ra những câu văn hay. Bởi vậy, tôi thường
đưa ra những câu tham khảo khi học sinh đã trình bày hết ý kiến mà vẫn chưa
có được những câu văn có thể tích luỹ được để làm tư liệu. Ví dụ:
- Hoa xoan bồng bềnh như một chùm mây tim tím ngủ quên trên cành.
11
- Bãi cỏ như một tấm thảm khổng lồ xanh mơn mởn.
đi trong bộ áo xám đen nhường sắc
non xanh cho hoa, cho lá.
- Bông hồng nhung vươn cao.
- Cô hồng nhung kiêu hãnh vươn
cao, hình như nó rất tự hào với sắc đẹp
của mình.
- Nắng chiếu đầy vòm lá.
- Những tia nắng tinh nghịch đùa
trên vòm lá.
Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung một
câu trả lời: Câu văn ở cột B hay hơn câu văn ở cột A.
- Nó hay hơn vì sao?. Nhiều học sinh lúng túng trước câu hỏi này. Tôi nghĩ
giáo viên cần lí giải: Câu ở cột B hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa:
12
Chị gà mái mơ, chị chuối, bé gà, cô hồng nhung… trở nên sinh động, đáng yêu
vì đã có những suy nghĩ, tính cách của con người.
Sau khi các em nắm bắt được tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệu
cho các em cách nhân hoá sự vật.
a. Gọi vật như gọi người.
Chúng ta có thể gọi tên sự vật như khi gọi tên người: Cô trăng, chị gió, bác
mặt trời, anh gà trống, chị mái mơ, bác mèo mướp, chị chuối tiêu…
b. Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật.
- Xu xi hồn nhiên.
Dựa vào những câu chuyện đã được nghe, những bộ phim hoạt hình đã được
xem thì những bài tập trên không khó lắm đối với học sinh. Tuy nhiên giáo viên
cần lưu ý chủ đề viết. Có thể gợi ý học sinh như sau:
- Bác mặt trời toả tia nắng ban mai hồng tươi.
- Chị gió tinh nghịch nô đùa cùng đám lá.
- Mèo mướp lười biếng nằm sưởi nắng ở dưới sân.
- Cô gà mái đảm đang dẫn đàn con đi kiếm mồi.
- Chị chim sâu chăm chỉ lách chách chuyền cành.
- Hồng nhung lộng lẫy trong chiếc áo đỏ thắm mịn màng.
- Cúc vàng ủ rũ nhìn các bạn đi hội xuân. Nó không còn bộ quần áo nào lành
lặn cả.
- Hễ kiếm được miếng mồi nào chị mái mơ cũng lục tục gọi bầy con đến
nhường cho chúng.
- Chị dang đôi cánh ấm áp ủ bầy con nhỏ.
- Từ ngày nuôi lũ con, bộ lông chị gà cứ xơ xác hẳn đi.
- Chị gà rất giàu kinh nghiệm, chị chẳng bao giờ dẫn đàn con đến gần rãnh
nước.
Bằng cách luyện tập này thì việc vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài tiến
bộ rõ rệt.
Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh viết bài văn hoàn chỉnh.
Mục tiêu lớn nhất của việc dạy văn là chất lượng của bài viết. Một bài viết
hay là một bài văn được kết hợp hài hoà nhiều yếu tố: Nội dung, nghệ thuật,
cảm xúc. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao để bài văn của học sinh cần
có tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy trong mỗi tiết làm văn ta tập trung giải quyết
3 nhiệm vụ.
1. Xây dựng nội dung.
Phong phú về nội dung là yêu cầu đầu tiên của một bài viết tốt. Giải quyết
nhiệm vụ này tương đối khó nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ. Khi dạy, giáo viên
cần lưu ý hệ thống câu hỏi trong SGK vì chương trình văn được soạn cho trình
độ đại trà, đối với học sinh có năng khiếu ta có thể bổ sung thêm. Đích đầu tiên
tích cực trong cuộc sống. Tưởng tượng tạo nên những hình ảnh rực rỡ, phản ánh
rõ ước mơ, lí tưởng của con người. Đối với văn miêu tả, tưởng tượng có vai trò
đặc biệt quan trọng. nhờ có tưởng tượng mà tất cả hình ảnh, màu sắc, âm thanh
đều có thể được tái hiện trước mắt chúng ta. Tất cả những chi tiết đặc trưng nhất
của sự vật trong thực tế không phải lúc nào cũng bộc lộ, nhưng nhờ có tưởng
tượng mà sự vật mới hiện ra với những nét đặc trưng của nó.
Văn miêu tả nhằm giúp người đọc hình dung ra sự vật, sự việc một cách sinh
động, cụ thể. Vì thế khi viết văn, người ta thường dùng liên tưởng so sánh. Nhờ
có liên tưởng, so sánh mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, óc sáng
tạo của người đọc. Do đó, khi hướng dẫn học sinh quan sát, giáo viên cần
hướng dẫn học sinh phát hiện ra những nét giống nhau giữa các sự vật hiện
tượng. Hay nói cách khác, khi quan sát, học sinh phải hình dung được trong đầu
xem hình ảnh mình vừa quan sát được giống với những hình ảnh nào mà mình
đã biết.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh quan sát cây bàng, giáo viên có thể đặt ra hệ
thống câu hỏi giúp học sinh liên tưởng và so sánh:
- Nhìn từ xa, cây bàng trông như thế nào? Dáng cây ra sao?
- Rễ cây trên mặt đất trông như thế nào? Nhìn rễ cây em có liên tưởng đến hình
ảnh gì? Màu sắc của lá thay đổi theo mùa như thế nào?
Với hệ thống câu hỏi như trên, học sinh không những viết ra những điều mình
quan sát được mà còn có thể viết ra những câu văn giàu hình ảnh.
Ngoài ra, giáo viên còn có thể đọc cho học sinh nghe những đoạn văn, đoạn
thơ có nhiều hình ảnh so sánh và liên tường hay.
Ví dụ đoạn văn tả về quả cam: Chao ôi! Trông những quả cam mới thích mắt
làm sao! Mới ngày nào quả còn nhỏ xíu như trái bóng ten nis, da dày và xanh
lét. Vậy mà giờ đây, nhờ được uống sương mai và tắm trong nắng sớm cùng
nguồn dinh dưỡng mát lành từ đất mẹ mà chúng như được thay áo mới. Trong
những tán lá xanh mướt mỡ màng còn thấm đẫm sương đêm, lấp ló những trái
cam vàng óng, với lớp da mỏng căng mượt. Mỗi lần cô gió ngang qua trêu đùa,
các chú cam tinh nghịch lại cười rúc rích và khẽ đung đưa thân hình tròn lẵn
Bởi vậy tôi hướng dẫn các em lồng được tình cảm của mình vào từng ý văn,
không tả một cách chung chung. Tôi gợi ý cụ thể như sau:
- Hoa hồng đẹp đến khó tả được. Khi ngắm nhìn hoa em cảm thấy như thế nào?
(Hoa đẹp lộng lẫy say đắm lòng người.)
- Em cảm nhận được mùi hương của hoa như thế nào? ( Hoa toả hương thơm
thật đặc biệt. Hương thơm của hoa quả là một kì tích của tạo hoá dành ban tặng
cho loài hoa này. Thơm không nồng mà là hương thơm thoang thoảng dịu mát.)
- Hương chuối chín thơm lừng gợi cho em cảm giác như thế nào? (Thèm được
ăn ghê lắm).
- Được ăn trái ngon em có suy nghĩ gì về người trồng? (Biết ơn người đã trồng).
Tương tự như vậy tôi cần hướng dẫn học sinh đưa ra những suy nghĩ, nhận
xét cảm xúc của mình trước một vật, sự việc. Bài văn sẽ không đơn giản là sự
liệt kê. Nó thấm đẫm các suy nghĩ, cảm xúc của người viết.
Kết hợp được 3 yếu tố trên: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc thì bài văn của
học sinh cũng đạt tới một thành công lớn. Nó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho ta vun
trồng những năm học tới.
III. KẾT LUẬN VÀ KẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài, áp dụng trực tiếp vào 25 học sinh lớp 4B
do tôi chủ nhiệm, tôi nhận thấy rằng: Các em bắt đầu có hứng thú và đam mê
với phân môn Tập làm văn. Giờ học diễn ra nhẹ nhàng và sinh động hơn. Các
em chủ động, tự giác trong việc hình thành kiến thức. Vốn từ ngữ miêu tả của
các em ngày càng phong phú hơn cả về số lượng và chất lượng. Cách sử dụng từ
của các em chính xác hơn. Trong khi viết văn các em đã biết cách sử dụng các
biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá... Bài viết giàu cảm xúc hơn.
Sau khi đã sử dụng các biện pháp trên, kết quả khảo sát như sau.
Sĩ số HS
Điểm
SL
TL
10
40%
13
52%
2
8%
0
0%
Để mỗi giờ dạy Tập làm văn đạt hiệu quả cao, người giáo viên phải biết sáng
tạo, phối hợp hài hoà nhiều yếu tố. Hơn thế nữa, người giáo viên còn cần tận
tâm với nghề, với bài dạy để tự rút kinh nghiệm sau mỗi tiết học. Không phải ai
sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn chương mà khả năng ấy phải
được bồi đắp dần qua năm tháng, qua trang sách và những bài giảng hàng ngày
của thầy cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học sinh thì chính mỗi giáo
viên phải định hướng, gợi mở cho các em phương pháp học tập. Như những cây
non được ươm trồng cần bàn tay con người chăm sóc, vun xới thì nó sẽ trở nên
tươi tốt. Để dạy văn được tốt, trước tiên: Hãy suy nghĩ thật kỹ, dạy thật tốt các
phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện. Bởi chúng có tác động trực
bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4 và
đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ song không tránh được những thiếu
sót. Vậy tôi rất mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và đóng góp chân thành
của các cấp lãnh đạo, các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường và bạn bè
đồng nghiệp để tôi giảng dạy ngày một tốt hơn, góp một phần công sức nhỏ bé
của mình nhằm nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 29 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết
Ninh Thị Hoa
20
21