MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng học sinh của lớp viết bài văn miêu tả khi chưa
TRANG
1
1
2
2
2
2
2
3
áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Một số giải pháp rèn kĩ năng cho học sinh lớp 4 làm tốt
6
bài văn miêu tả
2.3.1. Đối với giáo viên đứng lớp
2.3.2. Đối với học sinh
2.4. Hiệu quả việc áp dụng các biện pháp vào dạy học
3. Kết luận và kiến nghị
hợp các kiến thức đã học ở các phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và
câu, Kể chuyện, … đồng thời tạo cơ sở để các em học tốt các thể loại văn khác
như văn kể chuyện, tường thuật, tả cảnh sinh hoạt, … góp phần cùng các môn
học khác giúp phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy cho học
sinh. Các em có thể “vẽ” lại sự vật, hiện tượng trong thực tế một cách sinh
động thông qua ngôn ngữ của mình giúp người nghe, người đọc hình dung
được các sự vật, hiện tượng ấy. Từ nhận thức trên cho thấy các em làm tốt bài
văn miêu tả cũng có nghĩa là đã hoàn thành tương đối tốt các phân môn khác.
Bằng cách miêu tả các em trau dồi ngôn ngữ nói và viết cho mình. Từ đó mà
phát triển tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách
cho học sinh.
Nhiều năm giảng dạy học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Thiết Ống 1, tôi
thấy phần đa các em ngại học Tiếng Việt nhất là Tập làm văn, gây ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động giáo dục và chất lượng giáo dục. Mà hiện tại giáo
viên trong tổ nói riêng và nhà trường nói chung vẫn chưa tìm ra giải pháp hữu
hiệu để nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh. Hơn nữa, cũng
chưa có tài liệu nghiên cứu nào hướng dẫn sâu sát giải pháp khắc phục khó
khăn và dạy viết văn miêu tả hiệu quả cho học sinh.
Vấn đề này khiến tôi suy nghĩ, trăn trở suốt trong nhiều năm qua, làm sao
để nâng cao chất lượng giảng dạy Tập làm văn, nhằm tháo gỡ những khó khăn
của thầy và trò khi dạy và học mảng kiến thức về viết văn miêu tả. Với mong
muốn nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học, trao đổi những kinh nghiệm
trong việc dạy Tiếng Việt ở Tiểu học đặc biệt là phân môn Tập làm văn phần
viết văn miêu tả, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp rèn
kĩ năng làm tốt văn miêu tả cho học sinh lớp 4A ở Trường Tiểu học Thiết
Ống 1.”
Để hoàn thành SKKN này tôi đã áp dụng những kinh nghiệm tích luỹ
được trên chính đối tượng học sinh lớp mình phụ trách – lớp 4A trường Tiểu
học Thiết Ống 1. Tổng số học sinh: 30 em.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
vinh của đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của
nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản, cần thiết
về khoa học và cuộc sống. Mặt khác, giáo dục còn góp phần hình thành và bồi
dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là giáo dục Tiểu học, đây là bậc
học mang tính chất nền móng để các em tiếp tục học tiếp các bậc học cao hơn.
Ở Tiểu học, Tiếng việt là môn học giữ vị trí quan trọng, bởi nó là công cụ để
giao tiếp và tư duy. Không một quốc gia nào không chăm lo đến việc dạy tiếng
mẹ đẻ trong nhà trường Tiểu học. Đó là môn học góp phần hình thành và phát
triển ở học sinh 4 kỹ năng: nghe – nói – đọc – viết. Trong môn Tiếng Việt thì
phân môn Tập làm văn lại chiếm 1 vị trí khá quan trọng.
Chương trình Tập làm văn lớp 4 có 3 dạng bài được thiết kế tổng cộng 62
tiết/năm. Cụ thể như sau:
- Dạng văn Kể chuyện : 19 tiết.
- Dạng văn miêu tả : 30 tiết.
- Các loại văn bản khác: 13 tiết .
Như vậy chiếm phần lớn trong phân môn Tập làm văn ở lớp 4 là văn
miêu tả. Trong đó dạng bài văn tả cây cối thuộc thể loại văn miêu tả gồm 11 tiết
chiếm 37% tổng số tiết trong văn miêu tả và chiếm 18,6 % trong tổng số tiết
TLV của chương trình.
3
Ta thấy sự phân bố các tiết trong văn miêu tả cây cối được trình bày rất
lô gich, mỗi tiết được luyện tập một nội dung từ đơn giản đến phức tạp. Số
lượng văn tả cây cối chiếm nhiều tiết so với tổng số tiết văn miêu tả nên việc
rèn kĩ năng viết văn miêu tả nói chung, văn tả cây cối nói riêng là rất quan
trọng.
2.2. Thực trạng học sinh của lớp 4A làm bài văn miêu tả khi chưa áp dụng
sáng kiến kinh nghiệm:
trung chú ý nhận thức các sự vật chưa đầy đủ, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa
thật phát triển. Tài liệu tham khảo cho phân môn Tập làm văn lại quá ít, các em
chưa hiểu được bản chất các khái niệm, chưa nắm vững được nội dung, yêu cầu
của các kiểu bài miêu tả trong chương trình nên khi làm bài các em miêu tả
chung chung, không có sắc thái riêng biệt của đối tượng cần tả.
4
- Hầu hết các em được sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn, kinh tế xã hội ở địa
phương phát triển chậm, các thông tin báo chí, tài liệu tham khảo rất ít. Chính
vì thế bài văn của các em còn nghèo nàn về ý, về cách thể hiện để bài văn sinh
động hấp dẫn. Đa số bài viết của các em mang tính kể lể, liệt kê các chi tiết, đối
tượng được miêu tả.
- Các em thực sự lúng túng khi viết bài văn miêu tả, hệ thống từ ngữ gợi tả, gợi
cảm trong bài ít được sử dụng. Bài văn khô khan, nhiều em viết còn quá ngắn,
dùng từ viết câu chưa phù hợp, chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng biện pháp
so sánh, nhân hóa khi viết văn miêu tả.
- Các em không thích học Tiếng Việt nói chung, Tập làm văn nói riêng bằng
môn Toán và các môn học khác.
Trong nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi cũng đã học hỏi, chia sẻ với
đồng nghiệp, nghiên cứu nhiều tài liệu nhưng vẫn chưa thấy tài liệu nào có
cách hướng dẫn học sinh viết được bài văn miêu tả hay, sinh động. Từ thực tế
đó tôi đã suy nghĩ, trăn trở phải làm thế nào để các em có hứng thú, say mê học
Tiếng Việt nói chung, Tập làm văn nói riêng; giúp các em viết được bài văn
sinh động, hay. Tôi đã thưc hiện như sau:
Khi nhận lớp được một thời gian, tôi tiến hành khảo sát lại, trước mắt
ôn lại các bài văn đã làm ở tiết trước. Qua xem xét các bài làm của học sinh ở
tất cả các thể loại văn, tôi nhận thấy điểm yếu nhất của học sinh lớp tôi là bài
viết tập làm văn miêu tả. Vì vậy mà tôi mạnh dạn đưa ra một vài cách kiểm tra
56,7
Chưa hoàn
thành
Số bài
%
9
30
10
33,3
Với kết quả bài làm của học sinh ở trên thì tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành
khá cao vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát để xem học sinh nắm kiến thức lí
thuyết như thế nào qua một số câu hỏi sau:
- Để làm tốt bài văn miêu tả khi quan sát ta phải chú ý điều gì?
- Bài văn miêu tả gồm mấy phần? Đó là những phần nào?
- Nêu cấu tạo của bài văn miêu tả?
- Để viết được bài văn miêu tả hay, sinh động ta thường dùng những giải
pháp nghệ thuật nào?
5
Với các câu hỏi khảo sát như trên đa số học sinh được kiểm tra trả lời
một cách trôi chảy. Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành tìm hiểu nguyên nhân
những điểm còn yếu trong bài làm của học sinh để tìm giải pháp khắc phục.
Nguyên nhân:
Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác,
giáo viên dạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương pháp và chưa sáng
tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Việc cung cấp vốn
sống, vốn hiểu biết cho các em qua các phân môn của Tiếng Việt và các môn
2.3. Một số giải pháp rèn kĩ năng cho học sinh lớp 4A làm tốt bài văn miêu
tả:
2.3.1. Đối với giáo viên đứng lớp:
Cần tìm hiểu và nắm vững chương trình sách giáo khoa toàn cấp học để
giúp các em củng cố lại kiến thức đã học về văn miêu tả ở lớp 2, lớp 3. Qua
6
từng tiết học đối với từng bài cụ thể để từ đó các em khai thác kiến thức này và
vận dụng vào bài văn.
Mặt khác, giáo viên cần tham khảo thêm tài liệu, sách hướng dẫn giảng
dạy, tạp chí giáo dục của Bộ Giáo dục, tạp chí Giáo dục Thanh Hoá để chọn ra
phương pháp thích hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
Để vận dụng vào bài dạy ở lớp 4 khi làm bài văn miêu tả thường trải qua
các khâu cơ bản là: Quan sát, tìm ý cho bài văn miêu tả, lập dàn ý chi tiết, trao
đổi ý lời văn qua tiết luyện tập xây dựng đoạn, làm bài viết rồi được học tập rút
kinh nghiệm qua tiết trả bài.
2.3.2. Đối với học sinh:
Các em cần có thói quen chuẩn bị bài ở nhà, rèn tính tích cực xây dựng
bài, rèn tính độc lập, tự giác, sáng tạo trong các giờ học.
Tổ chức học nhóm để cùng trao đổi những điểm vướng mắc.
Tham khảo một số bài văn miêu tả ở các tài liệu. Sưu tầm các đoạn văn,
bài văn miêu tả hay để cùng nhau tham khảo.
Bồi dưỡng cho mình tình yêu văn học bằng thói quen đọc sách và đọc có
chọn lọc. Hiểu được nội dung văn bản và biện pháp nghệ thuật của bài thơ, bài
văn đó; biết ghi chép những chi tiết, những hình ảnh, những đoạn thơ, đoạn văn
đặc sắc; biết lắng nghe và chắt lọc những ý của thầy cô. Biết tổng hợp kiến
thức để bổ sung thêm cho vốn kiến thức của mình.
Đồng thời với việc giảng dạy theo quy trình chung của chương trình sách
giáo khoa như trên, để học sinh đạt được hiệu quả cao khi viết bài văn miêu tả,
người am hiểu. Ví dụ: Có con vật ta vỗ về nó, cho nó ăn; có con ta có thể ôm
ấp, vuốt ve và với gà trống, với chim ta dùng tai để nghe nó gáy, nó hót, …
b. Tìm ý:
Việc tìm ý đi liền với việc quan sát. Vừa quan sát vừa tìm ý và tìm được
ý nào, tôi hướng dẫn các em phải ghi luôn vào vở nháp. Ý đi liền với từ để diễn
đạt. Bước này chưa yêu cầu các em diễn đạt thành lời nói hoặc câu viết nhưng
các em đã phải có ý thức lựa chọn từ ngữ thích hợp để diễn đạt ý. Kết quả cuối
cùng của việc quan sát là học sinh tìm được các ý chi tiết cần thiết chuẩn bị
cho bài văn miêu tả. Để học sinh có được đầy đủ các chi tiết chuẩn bị cho bài
văn miêu tả tôi thường trực tiếp hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng sẽ miêu
tả.
Ví dụ: tả con mèo, tôi yêu cầu học sinh quan sát kĩ con mèo. Có thể
quan sát theo một trình tự nhất định:
- Nhìn bao quát con mèo.
- Quan sát từng bộ phận của con mèo: Quan sát mình, đầu, đuôi, chân;
từng bộ phận theo cấu tạo của con mèo.
- Kết hợp quan sát bằng nhiều giác quan như: Mắt, tay, tai, … và quan
trọng nhất là phải cố gắng tìm ra những đặc điểm riêng biệt của con mèo mà
em định tả.
Qua hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh nêu cho được các đặc điểm nổi
bật của con mèo:
- Về hình dáng: thon dài giống ... gì?...
- Về bộ lông: Có màu gì? Mượt ra sao?
- Về đầu: tròn to bằng quả gì? Mắt, mũi, tai như thế nào?...
Hay như tả cây bàng tôi hướng dẫn học sinh trực tiếp quan sát cây bàng
ở sân trường. Để học sinh quan sát có hiệu quả tôi đặt một số câu hỏi gợi ý.
Loại câu hỏi này là chỗ dựa để học sinh quan sát, không dùng những câu hỏi
mang tính áp đặt các nhận xét do giáo viên chuẩn bị.
Khi quan sát, tôi cho học sinh tự do chọn vị trí quan sát. Có thể là quan
sát từ xa đến gần, có khi là từ trên nhìn xuống hay từ dưới nhìn lên. Các em
Mở bài: Chủ nhật vừa qua mẹ mua cho em một cái bút dạ kim để viết
bài.
Thân bài:
Tả bao quát: Cái bút dài bằng một gang tay em, tròn như ngón tay út,
bằng nhựa, màu sắc trang nhã.
Tả từng bộ phận:
- Nắp bút màu tím, đầu tròn màu trắng phần cài cũng màu trắng.
- Thân bút màu trắng, in hình hai con ong và dòng chữ bee bee nhiều
màu, dưới có dòng chữ nhỏ màu đen: Bút dạ kim PL – 04, dòng ghi hiệu bút
Thiên Long và mã vạch.
- Đầu bút thon dài, có khấc tròn để giữ bút cho chặt.
- Phần cuối bút thon tròn, màu tím.
- Ruột bút nhô ra một hình chóp nón màu tím, đầu nhọn, ngòi viết bằng
dạ kim nhỏ xíu nối liền với bầu mực nằm dài trong thân bút.
Kết bài: Ích lợi của cái bút, ý thức giữ gìn bút và tình cảm của em đối với
cái bút.
Sau khi vận dụng giải pháp này các em đã biết cách quan sát, tìm ý, sắp
xếp các ý theo một thứ tự thích hợp để làm bài.
* Giải pháp 2: Dạy học sinh xây dựng nội dung bài văn miêu tả:
Từ những tư liệu thu thập được qua quá trình quan sát học sinh cần phải
lựa chọn ý, sắp xếp ý để xây dựng bài văn miêu tả. Nội dung đủ và phong phú
là yêu cầu không thể thiếu được của một bài văn miêu tả tốt.
9
Giải quyết vấn đề này ta cần trải qua các khâu như (quan sát, tìm ý, lập
dàn bài chi tiết).
Mỗi bài văn miêu tả của học sinh cần có đủ ba phần ( mở bài, thân bài,
kết luận) đủ ý, đúng yêu cầu và diễn đạt phong phú.
- Chọn một số bộ phận và tả chi tiết các bộ phận đó như: Gốc, thân, lá,
hoa, quả,...
- Hoặc đối với học sinh khá giỏi chỉ cần tả lướt qua các bộ phận, mỗi bộ
phận chỉ điểm một hai chi tiết đặc sắc.
Bên cạnh nội dung trên tôi còn lưu ý học sinh tả khung cảnh thiên nhiên
nơi cây mọc, hoạt động của người hay vật có liên quan đến cây.
Các chi tiết liên quan đến sự vật : mưa xuân, nắng mùa hạ, gió mùa thu,
chim chóc, ong bướm, âm thanh của tiếng chim,…Đặc biệt là con người cùng
những tình cảm gắn bó với cây, sự chăm sóc, bảo vệ cây,...
10
- Cây có ích lợi gì ? (cho bóng mát, cho ta quả, bảo vệ bầu không khí
tronglành.)
Như vậy mỗi em mỗi ý, mỗi vẻ khác nhau nhưng vẫn đảm bảo đủ ý chính.
Tuy nhiên, nếu chỉ đủ ý chính thì bài văn chưa đạt, một bài văn hay cần phải
phong phú về nội dung. Do đó tôi cho các em tuỳ chọn nội dung viết theo yêu
cầu của đề bài.
Và cuối tiết học tôi lại dặn học sinh về nhà lập một dàn ý tả một cây xung
quanh gia đình em.
Với việc làm như trên thì học sinh đã lập được dàn ý một cách dễ dàng và
học sinh có kĩ năng lập dàn ý tốt.
Ví dụ với đề bài: “Ở vườn hoa (hoặc công viên) các luống hoa (chậu hoa)
nở bông rất đẹp. Hãy tả một cây hoa mà em thích nhất”. Có học sinh chọn tả
cây hoa Hồng, có học sinh chọn tả cây hoa Cúc, có học sinh chọn tả cây hoa
Mẫu đơn, … Như vậy, nội dung bài của học sinh vừa đủ ý, vừa phong phú về
nội dung và đảm bảo đúng trọng tâm.
Sau khi hướng dẫn học sinh thực hiện theo giải pháp này, các em đã chủ
động, sáng tạo xây dựng, lựa chọn được nội dung phù hợp với từng yêu cầu của
đề bài và làm bài rất tiến bộ.
Trong các tiết dạy tôi hướng dẫn học sinh thông qua việc trả lời câu hỏi
nhằm mục đích: Học sinh phát hiện những câu văn miêu tả có sử dụng các biện
pháp nghệ thuât.
Ví dụ: Trong bài văn “ Đàn ngan mới nở” của tác giả Tô Hoài, tôi hướng
dẫn để học sinh phát hiện những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh:
- Chúng có bộ lông vàng óng. Một màu vàng đáng yêu như màu của
những con tơ nõn mới guồng.
- Đôi mắt chỉ bằng hột cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long
lanh đưa đi đưa lại như có nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mỡ.
Hoặc phát hiện biện pháp nhân hoá trong đoạn văn miêu tả như trong bài
“Cỏ non” của tác giả Hồ Phương.
“ Cu Tũm dở hơi chốc chốc lại chạy lại ăn tranh mảng cỏ của mẹ. Chị
Vàng lại dịu dàng nhường cho nó và đi kiếm một bụi khác, …”.
Từ đó hướng dẫn học sinh vận dụng các biện pháp nghệ thuật vào khi
làm bài văn miêu tả.
Chẳng hạn: khi " Tả cái trống trường em" tôi hỏi về hình dáng, mặt
trống, thân trống thì học sinh đã biết vận dụng những biện pháp so sánh, nhân
hoá để tả như:
- Mình anh bằng gỗ, tròn trùng trục như một cái chum sơn đỏ choé,
ngang lưng quấn hai vòng đai bằng con rắn cạp nong, nom rất hùng dũng.
- Mặt trống nhìn tựa như bề mặt nồi tráng bánh cuốn.
Hay như khi “Tả con mèo của em” tôi hỏi: Hình dáng (đầu, mình, chân,
…), tính nết của con mèo có thể tả bằng những câu văn có sử dụng biện pháp
so sánh (hoặc nhân hóa) như:
- Mình chú to gần bằng cái phích.
- Chú khoác trên mình chiếc áo màu xám.
- Đầu chú tròn và to như quả cam.
- Mắt chú long lanh như ngọc và tròn xoe như hai viên bi.
- Bình thường cô nhõng nhẽo như một cô nàng tiểu thư.
- Khi thấy chuột cô rón rén đến chạn bát, nhanh như một tia chớp, cô lao
văn sẽ trở nên khô khan thiếu sinh động, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết
luận mà còn thể hiện trong từng câu văn, từng đoạn của bài văn.
Điều này tôi thường gợi ý cho các em một cách cụ thể trong từng bài
văn.
Ví dụ: "Hãy nêu cảm nghĩ của em khi phải rời xa trống trường?".
Học sinh trả lời: Trống trường thực sự là bạn đồng hành của đời học sinh
chúng em. Mai đây chúng em sẽ lớn lên, có thể đi đến bất cứ nơi nào trên Tổ
quốc, song mãi mãi tiếng trống trường vẫn bập bùng trong kỉ niệm, …
Hay “ Đứng dưới gốc bàng em có cảm nghĩ gì ?”.
Học sinh trả lời: Thấy yêu sao cây bàng đã tô thêm vẻ đẹp của ngôi
trường, góp phần cho Tổ quốc thêm xanh, …
Khi sống với chú mèo em có cảm giác gì?: “Mèo đã trở thành người
bạn thân của em từ lúc nào không rõ. Em thường để dành cho nó những con
tôm, con cá câu được ở sông, …”.
Tương tự như vậy tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc,
nhận xét trước một sự vật, đối tượng miêu tả. Bài văn miêu tả của học sinh
tránh được những điểm khô khan, liệt kê các bộ phận miêu tả. Thấm đượm cảm
xúc của người viết.
Kết hợp các yếu tố: Tìm ý cho bài văn, xây dựng nội dung miêu tả, diễn
đạt bài văn miêu tả có nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc sẽ làm cho bài văn miêu tả
của học sinh trở nên sinh động, đạt kết quả cao. Tạo tiền đề để các em học tốt
các thể loại văn khác như kể chuyện, tường thuật, tả cảnh sinh hoạt, …
Tất cả những điều tôi đã trình bày trên đây là những vấn đề khái quát bao
trùm cả quá trình dạy học sinh lớp 4 viết bài văn miêu tả. Để thực hiện vấn đề
đó phải phát huy vai trò chủ đạo của thầy và chủ động của trò trong quá trình
dạy học. Cụ thể là:
13
nhau. Nhất là trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn lại là sự “tích
hợp” kiến thức của tất cả phân môn còn lại. Các em học tốt các phân môn như:
Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, … thì các em sẽ học tốt phân môn Tập làm
văn. Vì thế thông qua từng phân môn của môn Tiếng Việt tôi đều chú ý giúp
các em khai thác tốt nội dung này.
a. Thông qua phân môn Tập đọc:
Trong văn miêu tả thì vốn từ ngữ miêu tả rất quan trọng. Việc giúp học
sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả và sử dụng vốn từ ngữ đó một cách chính xác,
hợp lý là vấn đề quan trọng của mọi giáo viên. Trong các bài tập đọc thuộc thể
loại văn miêu tả thì số lượng từ miêu tả rất phong phú, cách sử dụng rất sáng
tạo. Tài liệu hướng dẫn học Tiếng việt 4 thì các loại bài tập đọc lại được biên
soạn theo tuần, theo chủ điểm. Thường thì ứng với mỗi chủ điểm là các dạng
Tập làm văn mà các em đang học. Vì vậy thông qua các bài tập đọc tôi giúp các
14
em chỉ ra các từ ngữ miêu tả hay, đã được chọn lọc, gọt giũa. Cách sử dụng
nghệ thuật của tác giả chọn một vài trường hợp đặc sắc để phân tích kỹ giúp
học sinh thấy được sự sáng tạo của các nhà văn khi dùng chúng.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Sầu riêng, trong lúc phân tích đoạn 1, tôi giúp các
em hiểu rằng để tả hương vị đặc biệt của quả sầu riêng tác giả đã sử dụng các
điệp từ: “ thơm mùi thơm”, “béo cái béo”, “ ngọt cái vị ngọt”. Đến lúc phân
tích đoạn 3 tôi giúp các em nhận thấy tác giả sử dụng hàng loạt các từ ngữ đã
được chọn lọc, nghệ thuật so sánh:“ Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang
thẳng đuột – Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại tưởng như lá héo.”; ...[5]
Qua đó, tôi giúp học sinh hiểu rằng người ta có thể mượn hình ảnh này để ca
ngợi một hình ảnh khác ( mượn cái không đẹp của cây sầu riêng để tăng thêm
hương vị của trái sầu riêng).
Ví dụ 2: Khi dạy đến bài “Hoa học trò” , trong phần tìm hiểu bài tôi giúp
các em cảm nhận được cái hay, cái độc đáo qua cách dùng từ của Xuân Diệu.
hình ảnh. Trong tất cả các bài tập dùng từ đặt câu, tôi luôn đặt một câu văn đủ ý
bên cạnh một câu văn khác đủ ý nhưng có hình ảnh để các em so sánh.
Ví dụ: Tả hình dáng của một cây bàng cổ thụ, tôi đưa ra hai câu:
- Câu 1: Cây bàng cao lớn.
- Câu 2: Nhìn từ xa, cây bàng cao lớn như một chiếc ô xanh khổng lồ.
Tôi cho học sinh nhận xét xem câu nào hay hơn (100% học sinh trả lời là
câu 2 hay hơn vì nó tạo cho người đọc hình ảnh rất cụ thể nó cao lớn đến chừng
nào. Với giải pháp này, tôi đã rèn cho học sinh kỹ năng viết câu văn có hình
ảnh, đủ ý.
c. Thông qua phân môn Chính tả:
Như ở phần thực trạng tôi đã trình bày, bài văn của các em bị sai lỗi
chính tả rất nhiều, điều đó gây khó chịu cho người đọc. Vì vậy trong tất cả các
tiết chính tả, tôi luôn chú ý rèn cho các em có ý thức viết đúng chính tả (đây
cũng là mục tiêu của phân môn Chính tả). Ngoài ra thông qua giờ chính tả, tôi
cũng giúp các em tích lũy thêm vốn từ ngữ miêu tả và cách sử dụng chúng.
Ví dụ: Khi dạy đến bài chính tả tuần 21,trong phần bài tập có bài: “
Chọn những tiếng thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh bài văn sau”. Sau
khi cho học sinh thực hiện theo yêu cầu của bài. Tôi gọi học sinh đọc lại bài
văn. Sau đó tôi đưa ra một số câu hỏi mở rộng nhằm mục đích có thể vận dụng
nó vào việc học phân môn Tập làm văn.
- Bài văn thuộc thể loại văn gì? Kiểu bài gì? ( Văn miêu tả, kiểu bài tả
cây cối).
- Tác giả đã quan sát cây theo trình tự nào? (Từng bộ phận của cây).
- Trong bài văn này tác giả đã sử dụng giải pháp nghệ thuật nào? Lấy
ví dụ minh họa ( nghệ thuật so sánh, ví dụ như: thân thẳng như thân
trúc. Năm cánh dài đỏ tía như ức gà chọi, trái kết màu chín đậm, óng
ánh như những hạt cườm, …).
- Em học tập được gì khi học bài văn này? (học được cách miêu tả,
tả, những câu văn hay, giàu hình ảnh, các câu văn sử dụng các biện pháp nghệ
thuật đặc sắc, … mà các em đọc được trong sách báo, sách tham khảo, trong
cuộc sống hàng ngày và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mỗi ngày,
các em tích lũy một từ hay một câu, … cứ như vậy vốn từ ngữ của các em sẽ
ngày
càng
giàulên.
Như vậy việc giúp các em tự đánh giá các bài văn của mình của bạn và
không ngừng tích lũy vốn từ sẽ giúp các em học tốt hơn phân môn Tập làm văn
nói chung và kiểu bài miêu tả cây cối, miêu tả con vật nói riêng.
*Giải pháp 7: Tổ chức tốt phong trào thi đua “ Rèn kỹ năng làm tốt văn
miêu tả” cho học sinh:
- Đối với ở lớp:
Trong gần cả năm học, tôi duy trì tốt phong trào “Làm văn hay”. Cứ hai
tuần tôi hướng dẫn cho hội đồng tự quản tổ chức cho cả lớp thi “Làm văn hay”
một lần.
Những học sinh làm hay, làm tốt, những học sinh có sự tiến bộ tôi kịp thời
động viên, khen ngợi, tuyên dương trước lớp và được giữ cờ thi đua của lớp để
gây thêm sự hứng thú học tập cho các em, giúp các em có ý thức vươn lên
trong học tập và luyện viết văn. Có như vậy, các em mới thực sự đạt được kỹ
năng làm bài văn tốt.
Kết quả làm văn của từng em sẽ được lưu lại ở góc học Tiếng Việt.
Qua phong trào thi đua “Làm văn hay” của lớp, tôi thấy rằng học sinh cả
lớp đều có ý thức học tập nói chung và việc luyện viết văn nói riêng ngày một
tiến bộ hơn. Đặc biệt các em có tinh thần thi đua rất tốt, cho nên chất lượng làm
văn miêu tả của các em được nâng lên rõ rệt. Nhiều em viết bài văn rất tốt, có
nhiều hình ảnh hay, sinh động và giàu cảm xúc.
- Đối với nhà trường:
Phong trào thi đua “Làm văn hay” được nhà trường thường xuyên tổ
chức. Trong năm học này, nhà trường tổ chức nhiều lần thông qua “Giao lưu
bằng đề khảo sát chất lượng.
Đề bài: Hãy tả lại con vật nuôi của gia đình em (hoặc gia đình bạn) mà
em yêu thích.
Kết quả đạt được như sau:
Bảng số liệu kiểm tra cuối kì II
Lớp
Chưa hoàn
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Số học
thành
sinh được
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
kiểm tra
SL
SL
SL
(%)
(%)
(%)
4A
30
16
53,3
14
46,7
0
0
%
60
56,7
Chưa hoàn
thành
Số bài
%
9
30
10
33,3
18
Từ thực tế kết quả bài làm của học sinh, tôi nhận thấy vốn từ ngữ miêu
tả của các em ngày càng phong phú hơn cả về số lượng lẫn chất lượng. Cách sử
dụng từ của các em chính xác hơn. Trong khi viết văn các em đã biết cách sử
dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, các từ láy, các điệp
từ….Giờ học sôi nổi hẳn lên, học sinh trong lớp có nhiều cách viết khác nhau,
không trùng nhau mà đều hay. Cụ thể: Số em hoàn thành tốt tăng lên 13 em
,chiếm 39,4%, Số em hoàn thành tăng thêm 9 em, chiếm 27,3% .. So với kết
quả kiểm tra đầu năm thì kiểm tra cuối học kì II cao hơn nhiều. Đặc biệt là số
em mắc lỗi được giảm rõ rêt. Nói chung, chất lượng viết văn của học sinh đã
được nâng lên rõ rệt. Số bài đạt hoàn thành tốt và hoàn thành được nâng lên
nhiều. Điều đáng mừng là không còn em nào chưa hoàn thành mà lại nhiều em
chữ viết đẹp, bài làm tốt, nhiều hình ảnh hay, sinh động và rất giàu cảm xúc.
Điều đó chứng tỏ những giải pháp mà tôi áp dụng đã thực sự góp phần "Nâng
cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4."
+ Học sinh phải được làm việc nhiều trên lớp cũng như ở nhà với nhiều
hình thức để nắm vững kiến thức, mở rộng nâng cao tầm hiểu biết và vốn sống.
+ Đọc và nghiên cứu thêm các tài liệu chuyên sâu, các tạp chí, chuyên đề
giáo dục, phương pháp dạy học văn miêu tả, những bài văn mẫu.
3.2. Kiến nghị:
Đề xuất với nhà trường:
- Tổ chức có hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên về chia sẻ sáng kiến kinh
nghiệm.
- Bổ sung và tăng cường sử dụng các tài liệu tham khảo về văn học ở tiểu
học.
- Tạo điều kiện cho tôi được triển khai sáng kiến để được áp dụng rộng rãi
trong toàn trường.
Đề xuất với phòng GD&ĐT:
. - Đối với những sáng kiến kinh nghiệm của những đông chí giáo viên
trong nghành có giá trị áp dụng trong giảng dạy phòng giáo dục in ấn thành tập
san để các trường được học tập các kinh nghiệm quý báu ấy.
- Có sự khuyến khích động viên đối vói những giáo viên có những sáng
kiến kinh nghiệm hay.
- Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã đúc kết được trong
quá trình công tác tại trường Tiểu học Thiết Ống I. Do thời gian và khả
năng có hạn, chắc chắn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế. Kinh
mong BGH nhà trường và cấp trên góp ý để tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài,
góp phần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh và góp phần thực hiện thành công mục tiêu
giáo dục Tiểu học.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thiết Ống, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Một số biện pháp giúp
học lớp 5 đọc diễn cảm.
Một số biện pháp giúp học
lớp 5 đọc diễn cảm
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Năm học
đánh giá xếp
loại
Phòng
B
2008-2009
Phòng
A
6.
Một số biện pháp giúp học
lớp 5 viết chữ đẹp, giữ vở
sạch
Phòng
B
2016-2017
7.
Một số biện pháp dạy học
sinh lớp 4 viết bài văn miêu
tả ở trường Tiểu học Thiết
Ống 1
Phòng
C
2018-2019
B
2012-2013