SKKN sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn 9 giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập - Pdf 57

MC LC
STT
1

2

3
4
5

NI DUNG
Mc lc
Phần I M u
1. Lớ do chn ti
2 .Mc ớch nghiờn cu
3. i tng nghiờn cu
4. Phng phỏp nghiờn cu
Phần II Ni dung
1. C s lớ lun và cơ sở thực tiễn
1.1 Cơ sở lí luận
1.2 Cơ sở thực tiễn
2. Thc trng vn trớc khi áp dụng SKKN
2.1. Đối với việc dạy của giáo viên
2.2. Đối với việc học của học sinh
3.Biện pháp ,giải pháp chủ yếu để thực
hiện đề tài
3.1.Cơ sở đề xuất giải
pháp gii phỏp
3.2. Các bớc chuẩn bị sử dụng sơ đồ t
duy.
3.2.2. Chọn đơn vị kiến thức có thể sử

6

Phần III Kt lun, kin ngh
1. Kt lun
2. Kin ngh
Ti liu tham kho
Danh mc cỏc ti SKKN ó t gii do Hi
ng Phũng GD v T huyn Quảng xơng
ỏnh giỏ

15
15
15
16
17

6
7
7
8
9
10
14

0


Phần I Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Trong cuc i mi ngi, mun trng thnh khụng ai l khụng tri

hc m c bit l cỏc tit ụn tp, tng ktSỏch giỏo khoa cng ó a ra mt
s bng biu c th hc sinh lm v dự cú thnh cụng nhng vn cũn l ỏp t
cỏch hiu, cỏch cm th ca cỏc em. Hn na, cỏc bng biu ú n thun ch l
k bng m cha chỳ ý n hỡnh nh, mu sc, ng nột. Sau t tp hun,
nhiu giỏo viờn ó tớch cc ỏp dng s dng s t duy vo trong dy hc.
Vic vn dng s t duy trong dy hc s giỳp giỏo viờn i mi v phng
phỏp dy hc, cú nhiu ý tng hn trong vic thit k bi ging, ng thi giỳp
hc sinh dn hỡnh thnh t duy mch lc, d hiu, d nh vn mt cỏch sõu
sc, cú cỏch nhỡn vn mt cỏch h thng, khoa hc v phỏt huy ti a k
nng sỏng to ca hc sinh trong quỏ trỡnh hc. S dng s t duy kt hp
1


vi cỏc phng phỏp dy hc tớch cc khỏc s l cụng c rt hu ớch trong quỏ
trỡnh dy v hc tp Chớnh vỡ nhng u vit ú, tụi ó mnh dn chn ti:
S dng s t duy trong dy hc Ng Vn 9 giỳp hc sinh phỏt huy
tớnh tớch cc, ch ng, sỏng to trong hc tp
Qua ti ny, tụi mong rng nhng vn c cp ti s gúp phn
khụng nh vo vic nõng cao cht lng giỏo dc v s to c lung giú mi
thi vo tõm hn cỏc em giỳp cỏc em hng thỳ, say mờ trong hc tp, gim bt
i s cng thng, mt nhc trong mi tit hc. ng thi, s giỳp quớ thy cụ
cựng cỏc em hc sinh yờu thớch v s dng nhiu hn trong ging dy.
2. Mc ớch nghiờn cu:
Vi ti nghiờn cu ny, mc ớch m tụi hng n trc hờt l giỳp
cỏc lp HS m tụi ging dy vẽ đợc sơ đồ t duy nội dung kiến thức
bài học .Nắm vững kiến thức một cách sâu sắc hơn.
Cng vi ti ny, tụi mong mun em n cho ng nghip nhng kinh
nghim nh trong ging dy cựng nhau nõng cao trỡnh chuyờn mụn, em
li hiu qu trong cụng tỏc ging dy.
3. i tng nghiờn cu:

rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,...bằng cách
kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư
duy tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết
chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em
có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các
cụm từ diễn đạt khác nhau,... Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể
hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó, việc lập Sơ
đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người . [1]
Sơ đồ tư duy – một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là
một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc
phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai
thác tiềm năng vô tận của bộ não. Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc
hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc. Nếu ta vận dụng đúng cách sử dụng sơ đồ tư
duy trong dạy học nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong bạn,
đưa bạn lên một đẳng cấp mới…[1]
Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn:
Khi dạy học bằng Sơ đồ tư duy giúp học sinh:
- Tăng sự hứng thú trong học tập. Có được phương pháp học hiệu quả.
- Giúp cho bộ não của các em sẽ hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình.
- Giúp các em phát huy tối đa khả năng sáng tạo, năng lực tư duy về hội
họa.
- Tạo bầu không khí học tập say mê sôi nổi, hứng thú.
- Biết cách khái quát hóa và có cái nhìn tổng thể về nội dung bài học.
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học
sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói
chung và của từng giáo viên. Văn học dễ làm say mê người học nếu người dạy
tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học. Tức là khi dạy phải: “ gõ vào trí
thông minh” của học sinh, bởi lẽ giáo dục là đào tạo học sinh thành những thế hệ
thông minh sáng tạo. Để đạt được điều đó, bản thân mỗi người giáo viên phải ra

Rõ ràng, giờ đây học sinh được coi là bình diện thứ nhất còn giáo viên chỉ là
người bạn đọc giàu kinh nghiệm là người cố vấn hướng dẫn khi học sinh cần
chứ không can thiệp sâu vào cách đánh giá tác phẩm.
Trở lại với vấn đề là làm sao để sử dụng sơ đồ tư duy vào trong giảng dạy
đạt hiệu quả cao nhất. Trước hết, bản thân người giáo viên phải là người biết tổ
chức, khêu gợi, hướng dẫn học sinh thấy được cái hay của việc khái quát hóa
vấn đề bằng những đường nét, màu sắc, hình ảnh tinh xảo.
2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Như chúng ta đã biết: “ Văn học là nhân học". Học văn là để học cách làm
người, để hiểu được cuộc đời từ đó biết yêu cuộc đời, yêu con người. Thế
nhưng, trong những năm gần đây, thực trạng học sinh chán học môn văn đã lên
đến mức đáng báo động khiến cho những người làm công tác giáo dục không
khỏi băn khoăn, suy nghĩ. Thực tế số lượng học sinh chọn các môn xã hội trong
đó có môn văn ngày càng có chiều hướng giảm dần. Theo chủ quan của bản thân
thì có một vài lý do như sau:
2.1. Đối với việc dạy của giáo viên
Đa số các giáo viên đều là những người rất tâm huyết với nghề mà
mình đã lựa chọn, tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo, quan
tâm đến học sinh. Họ đã ý thức sâu sắc được phương pháp dạy học mới.
Trong giảng dạy, học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh. Học sinh được bày tỏ cách cảm, cách hiểu, ý kiến của mình về bộ mơn,
được thực hành giao tiếp. Bên cạnh đó, họ đã biết ứng dụng công nghệ thông tin
vào trong giảng dạy. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại sau:
Một số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng phương pháp dạy học tích cực.
Họ không biết phải dạy như thế nào để tạo hứng thú cho các em trong học tập và
nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng, sinh
động.
4



* Kết quả khảo sát HS năm học trước, khi chưa vận dụng đề tài:
- Năm học 2016 – 2017:
Lớp TSHS Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
Kém
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
9a
31
0
0
6
19,3 12
38,7 11 35,4 2
6.4
9b
32
0
0
5
15,6 15 47,8 10 31
2
6,2
3. BIện pháp, giải pháp chủ yếu khi áp dụng đề tài:
3.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp:
Người thầy dạy học muốn học sinh học tích cực thì mình cũng phải dạy
tích cực. Xuất phát từ những nguyên nhân và thực trạng như phân tích trên, một
vấn đề đang đặt ra là : làm thế nào để một tiết dạy văn học thật sự lôi cuốn, hấp
dẫn, tạo hứng thú khơi gợi sự tìm tòi, khám phá những điều mới lạ qua văn bản.
Đồng thời, học sinh nắm vững kiến thức Tiếng Việt để học tập và sử dụng trong

đội ra trận, nếu anh nhắm trúng mục tiêu thì sẽ diệt được địch, mang về chiến
thắng vẻ vang; nếu không vừa lãng phí vũ khí vừa có thể bị lộ hậu quả sẽ khôn
lường. Quay trở lại vấn đề tôi đang đề cập tới. Để chọn được đơn vị kiến thức sử
dụng được sơ đồ tư duy là một vấn đề không hề đơn giản. Người giáo viên phải
nắm kĩ mục tiêu bài học, khối lượng kiến thức của bài học. Ngoài ra, phải tính
đến đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất…Với riêng tôi để giải quyết vấn
đề này tôi luôn xác định kĩ mục tiêu từng bài, xem xét những bài có đơn vị kiến
thức nhỏ liên quan đến nhau; hoặc những cụm bài có chung kiến thức hay những
bài có tính chất tổng kết, ôn tập…thì mới có thể áp dụng dùng Sơ đồ tư duy.
3.2.3. Chuẩn bị để vẽ Sơ đồ tư duy
Làm gì cũng vậy, muốn thành công trong công việc gì thì bao giờ cũng
phải chuẩn bị chu đáo. Người nông dân muốn đi cày phải chuẩn bị con trâu, cái
cày; người giáo viên lên lớp trước hết phải soạn bài; học sinh muốn làm bài
kiểm tra, bài thi tốt phải chuẩn bị kiến thức….Vì thế, để sử dụng hiệu quả sơ đồ
tư duy trong dạy học trong các tiết dạy cũng phải chuẩn bị chu đáo để vẽ sơ đồ
tư duy. Thói quen của bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên là chỉ chuẩn bị chu
6


đáo đồ dùng và các phương tiện dạy học khi có người thanh tra, dự giờ. Vì vậy,
ở những tiết có thể sử dụng sơ đồ tư duy giáo viên chỉ dùng tay hoặc dùng thước
để vẽ vừa mất thời gian, vừa mất thẩm mĩ lại không khoa học. Để đạt được kết
quả tốt giáo viên nên vẽ sơ đồ trước ở nhà ( với những sơ đồ phức tạp) hay có
thể dùng bảng phụ, máy chiếu. Nếu không, giáo viên chuẩn bị phấn màu, thước (
với những bài có sơ đồ đơn giản) để việc thực hiện được nhanh, đẹp. Việc chuẩn
bị trước này sẽ rút ngắn thời gian, sơ đồ đẹp, khoa học sẽ gây hứng thú cho học
sinh.
3.2.4. Cách sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình tổ chức các hoạt
động dạy và học.
3.2.4.1.Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ.

phải đọc bài và nắm được nội dung chính của bài, sau đó chọn đơn vị kiến thức
của bài học để vẽ Sơ đồ tư duy .
Ví dụ: Khi dạy bài “Chị em Thuý Kiều” của Nguyễn Du TiÕt 28 Ng÷
v¨n 9 TËp I giáo viên hướng dẫn học sinh tự lập một bản đồ tư duy ở nhà. Để
vẽ được sơ đồ tư duy cho bài học sinh phải đọc, nghiên cứu và thể hiện các nội
dung bài học bao gồm:
1. Vẻ đẹp chung của hai chị em;
2. Vẻ đẹp của từng người.
3. Nếp sống của hai chị em Kiều.
CHỊ EM THÚY KIỀU

Đến giờ học, giáo viên dành một thời gian cho học sinh nhận xét một vài
sơ đồ tư duy. Sau đó chọn một sơ đồ hay nhất. Trên cơ sở sơ đồ được chọn này
giáo viên sẽ hướng dẫn HS hoạt động tiếp theo đó là tìm hiểu nội dung bài học.
Như vậy, việc cho học sinh lập bản đồ tư duy trong quá trình chuẩn bị bài
giúp các em định hướng việc học tập của mình một cách tích cực, chủ động. Học
sinh xác định được công việc của mình trong tiết học. Từ đó có thái độ nghiên
cứu chuẩn bị bài tốt hơn.
8


4.2.4.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy khi dạy bài mới
Lâu nay, việc dạy bài mới thường được giáo viên thực hiện theo một qui
trình nhất định dễ tạo sự nhàm chán cho học sinh. Bởi lẽ, với cách học này,
nhiều học sinh tuy rất chăm chú nghe giảng nhưng tiếp thu bài rất chậm vì
không biết liên kết các kiến thức cơ bản với nhau. Học sinh chỉ thụ động nghe
và ghi lại theo giáo viên mà không biết cách lưu thông tin sao cho khoa học. Với
hình thức sử dụng sơ đồ tư duy như là một đồ dùng trực quan phục vụ cho việc
giảng bài mới mà đặc biệt khi dạy bằng giáo án điện tử rất có hiệu quả đối với
các em. Để dạy tốt tôi phải chuẩn bị bài kĩ ở nhà. Từ nội dung bài học tôi đúc

sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
.
Tóm lại, với những ưu điểm của mình, sơ đồ tư duy trở thành một
công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh. Việc sử
dụng SĐTD trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách chủ động,
9


tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào
hứng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng em không chỉ
về trí tuệ (vẽ, viết gì trên BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều
đã học trước đó vào việc chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức
trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học
qua sách vở vào cuộc sống.
4.2.4.4 .Giáo án minh hoạ
Tiết 59:

ÁNH TRĂNG

(Nguyễn Duy )

I. Mục tiêu cần đạt
1.Kiến thức:
- Hiểu, cảm nhận được giá trị nội dung nghệ thuật của bài thơ ánh trăng của
Nguyễn Duy
- Kỷ niệm về một thời gian lao nhưng nặng nghĩa tình của người lính .
- Sự kết hợp các yếu tố tự sự , nghị luận trong một tác phẩm thơ Việt Nam hiện
đại
- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu suy nghĩ , mang ý nghĩa biểu tượng .
- Liên hệ môi trường và tình cảm.

lóng quờn người bạn thiên nhiên tri âm tri kỉ để đến lúc vô tình gặp lại ta bỗng
giật mỡnh tự ăn năn,tự trách lũng ta ? Bài thơ Ánh trăng (1978)của Nguyễn Duy
được khơi nguồn từ một cảm hứng như thế. Bài thơ như một lời tâm sự chân
thành đó neo lại trong tõm hồn người đọc những tâm trạng riêng,những suy
ngẫm riêng giàu trăn trở .
Nội dung cần đạt:
Hoạt động của thầy và trò
I. TÌM HIỂU CHUNG
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung (7 phút)
(1) Mục tiêu: nắm được : tác giả, tác
phẩm
(2) Phương pháp/kỹ thuật động não
(3) Hình thức tổ chức hoạt động:
hoạt động nhóm, cá nhân
(4) Phương tiên dạy học: bút dạ, máy
1. Tác giả :
chiếu, nam châm
- Tên khai sinh là Nguyễn Duy
Nhuệ tại Thanh Hoá .
- Là nhà thơ trưởng thành trong k/c
chống mỹ.
2. Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác: Ra đời 1978
trích từ tập thơ cùng tên.
b. Đọc và tìm hiểu chú thích.
- Gv nêu yêu cầu cách đọc( khổ 1,2,3
giọng kể, nhịp trôi chảy bình thường
? Nêu những nét khái quát lớn về t/g
khổ 4 giọng cao, 5,6 giọng trầm, GV
Kể tên một số tác phẩm mà em biết ?

II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1.Vầng trăng trong qua khứ và hiện
tại
a. Mối quan hệ giữa người và trăng
trong quá khứ
+ Hồi nhỏ( tuổi thơ ) sống với đồng
sông rồi với bể"
->Tuổi thơ gắn bó với TN.
+ " Hồi chiến tranh( người lính ) ở
rừng trăng vàg người thành tri
kỷ,tình nghĩa thuỷ chung
-> NT điệp từ “với”, nhân hoá: khắc
hoạ vẻ đẹp tình nghĩa thuỷ chung của
vầng trăng đối với người lính.>Trăng và người gắn bó sâu đậm
như những người bạn tri âm, tri kỷ,
trăng hiểu được t/c của con người.
+" Trần trụi với thiên nhiên.
Hồn nhiên như cây cỏ"
->Vẻ đẹp mộc mạc, hoang sơ, con
ngưòi vô tư hồn nhiên trong sáng .

Bước 2:Thực hiện nhiệm vụ
- HS : trả lời câu hỏi GV giao
- GV quan sát trợ giúp HS
Bước 3. Báo cáo kết quả
- GV yêu cầu HS trình bày kết quả thảo
luận
- HS sau khi thảo luận cặp đôi báo cáo
kết quả thảo luận , hs nhận xét , bổ sung
Bước 4: Đánh giá kết quả

thảo luận
- GV quan sát trợ giúp HS, đánh giá khả
năng thực hiện nhiệm vụ của
hs
12


=>Vầng trăng trở thành biểu tượng
của quá khứ nghĩa tình
- “ Chẳng bao giờ quên” =>. Họ là
tri âm tri kỷ
GV chuyển ý: Nếu trong quá khứ
trăng là người bạn tri âm tri kỉ tưởng
sẽ không bao giờ quên được thỡ hiện
tại con người đối xử như thế nào với
trăng chúng ta cùng tỡm hiểu qua
phần 2
2. Mối quan hệ giữa người và
trăng trong hiện tại
- ánh điện cửa gương->cuộc sống
hiện đại, giàu có, sang trọng, đầy đủ
tiện nghi
- Trăng “đi qua ngõ” -.> nhân hoá
->. Vẫn nghĩa tình, thuỷ chung với
con người
- Người xem trăng như người dưng
-> So sánh -> trăng trở thành người
dưng, xa lạ, không hề quen biết, bị
lãng quên .
=> Cuộc sống hiện đại dễ khiến con

- HS : trả lời câu hỏi GV giao trao đổi
thảo luận cặp đôi
- GV quan sát, trợ giúp HS, đánh giá
khả năng thực hiện nhiệm vụ của học
sinh
Bước 3. Báo cáo kết quả
- GV yêu cầu HS trình bày kết quả thảo
luận
- HS sau khi thảo luận cặp đôi báo cáo
kết quả thảo luận, hs nhận xét, bổ sung
GV bình : Bằng biện pháp NT so sánh,
nhân hoá và đối lập giữa t/cảm con người với trăng: ánh trăng xuất hiện đánh
thức những kỷ niệm quá khứ - đánh
thức tình bạn năm xưa, đánh thức
những gì con người đã lãng quên.
13


"Ngửa mặt lên nhìn mặt
Thấy cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng"
Những kỷ niệm quá khứ gần gũi thân
quen, gắn bó sâu sắc đã trở về.
"Trăng cứ tròn vành vạnh....
...........đủ cho ta giật mình "
Trăng không thay đổi mà vẫn tròn đầy
nguyên vẹn thế mà bị con người lãng
quên từ đó nhắc nhở con người thái độ
sống ân nghĩa, thuỷ chung, con người



V . Giao bi v nh:
- c thuc bi th, nm vng ND v NT ca VB. Lm bi tp 2.
- Chun b tit sau: Tng kt t vng thờo h thng bi tp sgk.
D. ỏnh giỏ v iu chnh:
.................................................................................................................................
................................................................................................................................
2.3.4.5. Kt qu t c:
Qua thc t 2 nm ging dy v ỏp dng cỏc bin phỏp nghiờn cu ti
mụn Ng vn lp 9, c bit l sử dụng sơ đồ t duy trong học tập .
Cỏc em ó cú k nng sử dụng sơ đồ t duy một cách hiệu quả trong
từng nội dung bài học . Nhiu em ó thc s yờu thớch mụn Vn đ nm
rừ hn s thớch ca hc sinh tụi tin hnh cho hc sinh kim tra 15' bng cỏch v
s t duy thõu túm li ni dung bi hc v ó em li kt qu nh sau:
Lp TSHS Gii
Khỏ
Trung bỡnh Yu
Kộm
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
9a
31
8
25,8 11
35,5 8
25,8 4
12,9 0
0%
9b
32

dung.
Để giờ dạy thực sự có hiệu quả giáo viên phải luôn biết lắng nghe và giúp
học sinh giải quyết những vấn đề khó trong bài. Có biện pháp gợi mở, dẫn dắt
khéo léo để giúp học sinh tự tin vào chính bản thân mình trong từng tiết học.
2. Kiến nghị:
2.1.§èi víi giáo viên: tiếp tục học hỏi đúc rút kinh nghiệm, luôn tìm tòi
nghiên cứu để tìm ra phương pháp tối ưu cho bài giảng, để mỗi bài giảng là
niềm say mê của giáo viên và học sinh.
2.2. §èi víi nhà trường: cần tổ chức các chuyên đề về ®æi míi phương
pháp giảng dạy, nhất là viÖc sö dông s¬ ®å t duy trong d¹y hoc.
2.3§èi víi Phòng giáo dục: Mở nhiều chuyên đề về ®æi míi phương
pháp giảng dạy häc ng÷ v¨n để các giáo viên trong huyện có điều kiện học
hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
Những kinh nghiệm trên đây bước đầu đã giúp tôi tạo được niềm tin trong
những giờ lên lớp và thành công trong từng tiết dạy. Trong quá trình trình bày
sáng kiến bản thân tôi không tránh khỏi những sai sót. Kính mong được sự góp ý
của đồng nghiệp, của Hội đồng Khoa học để tôi có điều kiện học tập và trang bị
thêm cho mình những kinh nghiệm bổ ích, lý thú để tôi ngày càng giảng dạy tốt
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
(Đã ký)
Nguyễn Văn Phúc

Thanh Hóa, ngày 14 tháng 4 năm2018

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Đã ký)

xp loi
huyn/tnh; Tnh...)
(A, B, hoc C)
Phòng GD

C

2012-2013

tập làm văn - Văn miêu
tả
2.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status