A/ MỞ ĐẦU
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII diễn ra vào ngày 2028/1/2016, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kì trước, Đảng ta đưa ra đường
lối đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác
định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang
tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế
kỉ XXI, khẳng định triết lí nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người,
dạy chữ, dạy nghề”.
Nghị quyết 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo chỉ
ra giải pháp đó là: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kĩ năng của người học; khắc khục cách truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực.”[1]
Để góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, vai trò của
người giáo viên là vô cùng quan trọng vì thầy cô vừa là người truyền thụ tri
thức, vừa là người hướng dẫn thực hành. Với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học
sinh tiểu học thì đồ dùng dạy học không những giúp người giáo viên dẫn dắt học
sinh đi đến kiến thức mà nếu biết khai thác triệt để, sử dụng khéo léo sẽ giúp học
sinh nhớ kĩ, khắc sâu kiến thức, vận dụng tốt trong đời sống hàng ngày, là khởi
nguồn cho những đam mê sáng tạo của các em.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều giờ học diễn ra tẻ nhạt, học sinh ít
xây dựng bài, chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động và ghi chép đầy vở như
một cách đối phó; hiện tượng học sinh “học trước quên sau”, ghi nhớ không bền
vững, đặc biệt là học sinh vùng khó khăn là một thách thức không hề nhỏ đối
với giáo viên. Một trong những nguyên nhân đó là việc sử dụng đồ dùng dạy
học chưa hợp lí, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh. Vậy, sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào để giúp các em phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao cho giờ học? Đó là bài toán
mà mỗi người thầy tâm huyết luôn tìm câu trả lời.
Với mong muốn được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực sử dụng đồ
hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ nhanh và quên cũng nhanh.
Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần biết dẫn dắt, định hướng cho học
sinh cách nhìn đúng đắn về sự vật hiện tượng, giúp các em có kĩ năng nhìn, xem
xét, lắng nghe.
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh còn yếu,
khả năng điều chỉnh ý chí có chú ý chưa mạnh vì vậy các em thường phân tán,
làm việc riêng. Bởi vậy đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để thu hút, tổ
chức sự chú ý của học sinh, làm cho giờ học lôi cuốn, hấp dẫn.
Ở lứa tuổi lớp 5, tư duy của các em đã chuyển dần sang tính khái quát nên
giáo viên khi sử dụng đồ dùng dạy học cần giúp học sinh quan sát đến phân tích,
tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát triển khả năng phán đoán, suy
luận, kết luận về các vấn đề trong giờ học.
II/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM:
1. Thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn Toán lớp 5 ở
trường Tiểu học Thanh Tân 1.
Sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học hiệu quả luôn là con đường ngắn nhất để
đạt được mục tiêu giờ học, đặc biệt là đối với học sinh tiểu học.
Sử dụng đồ dùng dạy học cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chuyên
môn nghiệp vụ của người giáo viên. Đáp ứng thực tế dạy học và yêu cầu của
việc đổi mới nội dung chương trình SGK, giáo viên ngày càng nhận thức được
tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học nên với đa số giáo viên đã có
thói quen sử dụng đồ dùng mỗi giờ lên lớp.
Bên cạnh việc sử dụng những đồ dùng dạy học sẵn có trong thư viện, nhiều
đồng chí giáo viên tâm huyết với nghề nghiệp đã luôn có ý thức sưu tầm, thiết
kế, sáng tạo ra những đồ dùng dạy học thiết thực, có ứng dụng tốt trong quá
trình giảng dạy.
Với mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục “dạy học cần phải phát huy
đóng góp của chính giáo viên để mua bổ sung hoặc từ sự tích cực, sáng tạo đã
làm ra được các đồ dùng phục vụ cho công tác giảng dạy trong năm học.
2.Thực trạng đối tượng học sinh lớp 5B.
Theo sự phân công nhiệm vụ của hiệu trưởng nhà trường tôi làm chủ
nhiệm và giảng dạy lớp 5B.
- Đặc điểm tình hình lớp: Tổng số học sinh: 24 em.
+ Học sinh nam: 11 em
+ Học sinh nữ: 13 em.
+ Học sinh là con em dân tộc: 9 em.
+ Học sinh trái tuyến : 7 em.
+ Học sinh được hưởng chính sách hộ nghèo: 11em.
+ Học sinh thuộc diện nhà xa trường quá 4km: 12 em.
- Thuận lợi:
+ Bản thân là giáo viên địa phương luôn yên tâm công tác, có lòng yêu nghề
mến trẻ và tâm huyết với nghề nghiệp. Tôi có điều kiện thuận lợi trong việc tìm
hiểu hoàn cảnh và dìu dắt các em.
+ Đa số học sinh hiếu động, hồn nhiên, ham hiểu biết.
+ Lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn…thường xuyên quan tâm sát sao, tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy.
+ Những năm gần đây do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đa số
phụ huynh học sinh ngày càng chú trọng, quan tâm việc học hành của con em .
- Khó khăn:
+ Nhiều học sinh là con em gia đình nông dân nghèo có hoàn cảnh khó khăn,
cha mẹ ốm đau, bệnh tật, đi làm ăn xa; nhiều học sinh sống xa trường, những
hôm thời tiết mưa gió, đi lại khó khăn khiến các em thường xuyên nghỉ học. Mặt
khác, kĩ năng giao tiếp của học sinh còn hạn chế, chưa mạnh dạn, tự tin nên các
em thường tiếp thu bài thụ động, ít sự hăng hái xây dựng bài.
+ Có nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức, qua khảo sát
- Ôn tập về các đại lượng: Đo độ dài, đo khối lượng.
- Bài học mới về đơn vị đo diện tích: Đề-ca-mét vuông, Héc-tô -mét vuông, Mili-mét vuông, bảng đơn vị đo diện tích.
- Các bài về khái niệm số thập phân, cấu tạo số thập phân.
- Bài về tỉ số phần trăm và giải toán về tỉ số phần trăm.
Chương III: Phần hình học.
- Các bài về hình tam giác, diện tích hình tam giác; hình thang, diện tích hình
thang; hình tròn, đường tròn, chu vi, diện tích hình tròn; biểu đồ hình quạt.
- Các bài về hình hộp chữ nhật, hình lập phương; diện tích xung quanh và diện
tích toàn phần của hình hộp chữ nhật, diện tích xung quanh và diện tích toàn
phần của hình lập phương.
- Các bài về thể tích: Thể tích của một hình, Xăng-ti-mét khối, đề-xi-mét khối,
mét khối; Thể tích của hình hộp chữ nhật, thể tích hình lập phương.
- Bài giới thiệu về hình trụ, hình cầu.
3. Lập kế hoạch phấn đấu , rèn luyện nâng cao chất lượng học sinh.
* Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm chất lượng môn Toán của lớp đạt được là :
+ Điểm 9,10: 2 em.
+ Điểm 7,8: 2 em.
+ Điểm 5,6: 14 em.
+ Điểm dưới 5: 6 em.
Căn cứ vào kết quả khảo sát đầu năm, tôi lập kế hoạch chỉ tiêu phấn đấu
môn Toán như sau:
Giữa học kì I
SL
TL
Hoàn thành tốt
6em
25%
Hoàn thành
14 em 58,3%
Cần bồi dưỡng để 4 em
4. Nghiên cứu chủng loại đồ dùng dạy học Toán lớp 5; sưu tầm và làm đồ
dùng dạy học ; thiết kế bài dạy môn toán đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh.
Trên cơ sở danh mục thiết bị và đồ dùng dạy học tối thiểu dành cho môn
Toán lớp 5 ban hành( kèm theo quyết định số Quyết định số 16/2006/QĐBGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo),
Thư viện nhà trường hiện có 3 bộ thiết bị dành cho giáo viên và 50 bộ dành cho
học sinh.
* Thiết bị, đồ dùng cho GV, mỗi bộ gồm có:
Hình tròn:- Gồm 5 hình tròn đường kính 200mm, dày 2mm làm bằng nhựa HI
màu trắng (Tất cả đều gắn được trên bảng từ). Trong đó:
+ 2 hình, mỗi hình có một mặt sơn mầu đỏ; một mặt sơn màu trắng kẻ đường
chia làm 8 phần bằng nhau.
+ 1 hình có 2 vạch chia làm 4 phần bằng nhau, sơn màu đỏ ¾
+ 1 hình có 1 vạch chia làm 2 phần bằng nhau, sơn màu đỏ 1/2.
+ 1 hình có 2 vạch chia làm 4 phần bằng nhau, sơn màu đỏ ¼
- Hình tròn động: gồm 2 hình tròn đường kính 200mm, độ dày 2mm (1 bằng
nhựa HI trắng sứ, 1 bằng nhựa PS trong suốt, viền đen). Mỗi hình chia 8 phần,
sơn màu đỏ 4/8.
Hình thang:(Tất cả đều gắn được trên bảng từ)
- Gồm 2 hình thang bằng nhau, kích thước đáy lớn 280mm, đáy nhỏ 200mm,
cao 150mm, nhựa HI, dày 2mm(1 hình giữ nguyên, 1 hình cắt ra 4 phần ghép lại
được hình tam giác).
Hình tam giác: (Tất cả đều gắn được trên bảng từ)
- Gồm 2 hình tam giác bằng nhau, kích thước cạnh đáy 250mm, cạnh xiên
220mm, cao 150mm, dày 2mm, bằng nhựa HI màu xanh coban:
+ 1 hình tam giác giữ nguyên, có kẻ đường cao màu đen.
+ 1 hình cắt thành 2 tam giác theo đường cao để ghép với hình trên được hình
- Hình tròn động: gồm 2 hình tròn đường kính 40mm, dày 1,2mm (1 bằng nhựa
HI trắng sứ, 1 bằng nhựa PS trong suốt) chuyển động quay.
Hình vuông:- Gồm 4 hình vuông cạnh 40mm, dày 1,2mm, nhựa HI trắng sứ,
0,5mm:
+ 2 hình: một mặt sơn xanh, 1 mặt trắng có vạch qua tâm làm 8 phần bằng nhau;
1 hình có vạch chia làm 8 phần, sơn màu xanh coban 5/8.
Hình thang: Gồm 2 hình thang bằng nhau, kích thước 2 đáy 80mm và 50mm.
+ 1 hình thang nguyên; 1 hình thang cắt ra 2 phần ghép lại được hình tam giác.
Hình tam giác: Gồm 2 hình tam giác bằng nhau, kích thước đáy 80mm, cao
40mm, 1 góc 600, nhựa HI, dày 1,2mm, màu xanh coban:
+ 1 hình tam giác nguyên, có kẻ đường cao; 1 hình tam giác cắt theo đường cao
thành 2 tam giác để ghép với hình trên được hình chữ nhật (80 x 40)mm; 1 hình
tam giác nguyên, có kẻ đường cao; 1 hình tam giác cắt theo đường cao thành 2
tam giác để ghép với hình trên được hình chữ nhật (80 x 40)mm.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà đồ dùng đã bị thất thoát, hư hỏng, thiếu
hụt nhiều. Trường lại ở địa bàn miền núi, có nhiều điểm trường lẻ nên việc vận
chuyển, trao đổi đồ dùng của các giáo viên trong trường gặp không ít khó khăn.
Ngoài những loại đồ dùng có trong danh mục, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, sáng
tạo, tích cực sưu tầm và làm đồ dùng dạy học. Các loại đồ dùng thường xuyên
phải làm và sưu tầm như: biểu bảng, phiếu học tập, ô chữ, vòng số, đạo cụ trò
chơi học tập, các mô hình hình học,…
Ví dụ: Khi dạy củng cố ôn tập cho học sinh về kĩ năng tính nhẩm nhân, chia
một số thập phân với 10,100,1000…và kĩ năng tính nhẩm nhân, chia một số
thập phân với 0,1; 0,01; 0,001;…tôi thiết kế Vòng quay kì diệu như sau:
Cấu tạo gồm: Đế vòng quay, trục quay, giá đỡ, vòng quay có các yêu cầu phép
tính cần nhẩm ra kết quả, tay quay, mũi tên, các chi tiết trang trí, số và chữ …
Vật liệu: Một vỏ hộp bánh Cosi ( nắp trên làm vòng quay, thân vỏ làm giá đỡ),
vòng đế bằng bìa cứng có trang trí hoa lá và gắn các số thập phân, mũi tên bằng
tấm tôn mỏng gắn cố định, tay quay bằng nhựa trong, đinh, ốc vít, trục đế quay
là chiếc tua vít cũ, nắp trục, giấy màu, keo dán, kéo…
phiếu cần đảm bảo tính phân loại các đối tượng học sinh, đồng thời nâng dần
yêu cầu với từng loại đối tượng, giúp học sinh có độ “vươn” cần thiết. Cũng như
tất cả các loại đồ dùng dạy học khác, khi sử dụng các loại phiếu học tập chúng ta
cần tránh lạm dụng như: sử dụng phiếu trong nhiều hoạt động, phiếu được dán
khắp nơi, che kín bảng…tạo nên sự phản cảm trong giờ học.
Trong dạy học, ta thường phải chấp nhận khả năng tiếp thu và trình độ học
sinh không đồng đều. Dạy học cá thể hóa các đối tượng học sinh sẽ đảm bảo cho
tất cả học sinh đều tiến bộ. Ngoài việc nắm vững đặc điểm học sinh của lớp, khi
thiết kế bài dạy giáo viên cần lưu ý đến khả năng tiếp thu của tất cả các đối
tượng học sinh. Sẽ không có một khuôn mẫu cho việc thiết kế một giáo án
chuẩn, tuy nhiên tùy vào nội dung kiến thức, tùy vào lớp học mà người giáo viên
dự kiến được công việc và chuẩn bị đồ dùng cho một giờ dạy.
Ví dụ: Thiết kế bài Diện tích hình thang
I/ Mục tiêu:Giúp HS:
- Hình thành công thức tính diện tích hình thang.
- Nhớ và vận dụng đúng công thức tính diện tích hình thang để giải các bài toán
có liên quan.
II/ Đồ dùng dạy học:
- Bảng phụ, một số mô hình hình học( hình chữ nhật, hình tam giác, hình bình
hành, hình thoi, hình thang); phiếu hướng dẫn cắt ghép hình, giấy màu kẻ ô
vuông để cắt các hình thang ABCD như trong SGK (6 nhóm học sinh tự phân
công chuẩn bị), hình thang nhựa trong bộ đồ dùng Toán 5, kéo.
III/ Hoạt động dạy - học chủ yếu:
1. Kiểm tra bài cũ:
- GV cho HS quan sát một số mô hình hình học, yêu cầu HS tìm ra hình thang.
- GV hỏi để HS chỉ rõ: đáy lớn, đáy bé, chiều cao của hình thang vừa tìm được.
- Hỏi: Hình thang vuông có đặc điểm gì?( Hình thang vuông là hình thang có
một cạnh bên vuông góc với hai đáy).
2. Dạy, học bài mới:
2.1 Giới thiệu bài:
Bước 5: Xếp 2 mảnh hình thang thành hình tam giác như hình vẽ và đặt tên cho
hình mới.
A
D
H
C (B)
K(A)
- GV đi tới các nhóm, gợi ý, giúp đỡ nếu các em gặp khó khăn.
- GV cho HS các nhóm thi trình bày thao tác trước lớp. HS quan sát, nhận xét
xem nhóm nào cắt ghép chính xác, nhanh chóng, thuyết minh lưu loát.
- GV sử hình thang đã chuẩn bị để mô tả củng cố lại quá trình HS vừa thực hiện
và dán hình mẫu lên bảng từ.
* So sánh đối chiếu các yếu tố hình học giữa hình thang ABCD và hình
tam giác ADK(làm việc cả lớp).
- GV chỉ vào hình, yêu cầu HS quan sát hình thang còn lại và hình tam giác ghép
được để so sánh:
+ Diện tích hình thang ABCD như thế nào so với diện tích tam giác ADK?( HS
quan sát, so sánh và nêu: Diện tích hình thang ABCD bằng diện tích của hình
tam giác ADK).
+ Muốn tính diện tích hình tam giác ADK ta làm thế nào? (HS: Diện tích tam
giác ADK là: S = \f(DKxAH,2 ).
+ So sánh độ dài DK với DC và CK em thấy thế nào?( HS: độ dài DK = DC +
CK).
+ So sánh độ dài CK với AB em thấy thế nào? (HS: Độ dài CK = AB)
+ So sánh độ dài DK với độ dài của DC và AB. ( HS: Độ dài DK = (DC + AB)
+ Biết DK = ( DC + AB), em có thể thay thế vào công thức tính diện tích tam
giác vừa tìm được để có cách tính khác. Em nào có thể làm được? ( HS xung
phong viết: S= \f(,2 )
+ GV nói: Vì diện tích hình thang ABCD bằng diện tích tam giác ADK nên ta có
- Gọi HS nêu cách tính diện tích hình thang.
- Nhắc HS về học thuộc công thức tính và xem lại bài đã học.
* Sau quá trình dạy thực nghiệm, tôi được đồng nghiệp nhận xét :
+ Giờ học diễn ra sôi nổi, đảm bảo đầy đủ kiến thức, kĩ năng cần thiết.
+ HS cảm thấy hào hứng vì được thao tác trên đồ dùng - những tờ giấy màu rực
rỡ, đẹp mắt.
+ HS bước vào tìm hiểu kiến thức một cách tự nhiên, vui vẻ, hào hứng.
+ HS bất ngờ, thú vị khi thấy có thể dựa vào cách cắt ghép, từ một hình thang
chuyển thành 1 hình tam giác có cùng diện tích và dựa vào đó để tính diện tích
hình mới.
+ HS thao tác tốt trên đồ dùng, biết phân công nhiệm vụ, các thành viên đều
được hoạt động trao đổi học hỏi lẫn nhau.
+ HS rút ra được công thức tính, áp dụng tốt vào giải quyết bài tập và khắc sâu
nội dung bài học.
+ 100% HS tính được diện tích hình thang và biết vận dụng.
+ Giờ học vẫn đảm bảo về mặt thời gian.
5. Giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa một cách tích cực, chủ động, sáng
tạo và hiệu quả.
Trái với suy nghĩ của nhiều người: sách giáo khoa không phải là đồ dùng
học tập thì với tôi sách giáo khoa là một loại đồ dùng vô cùng quan trọng, nó
chiếm giữ vai trò độc tôn mà không một tài liệu học tập nào có thể thay thế. Nội
dung SGK Toán lớp 5 chứa đựng kiến thức số học, các số tự nhiên, phân số, số
thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn
giản. Mỗi bài học đều có một mục tiêu cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu khái
quát mang tính tổng hợp ở cấp độ cao hơn của chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
Toán. Sách giáo khoa Toán 5 là một tài liệu dễ sử dụng. Bất kỳ HS nào cũng có
thể dễ nhận biết được những gì cần học và cần thực hành trong mỗi quyển SGK
Toán, và vì vậy nó trở thành “người bạn”, “người thầy” của HS trong quá trình
512
* Tích riêng thứ 2: 4 nhân 4 bằng 16, viết 6 nhớ 1.
256
4 nhân 6 bằng 24, nhớ 1 là 25, viết 25.
2
30,72 (m )
* Cộng hai tích riêng bằng 3072.
* Đếm trong phần thập phân của cả hai thừa số có tất cả 2
chữ số rồi dùng dấu phẩy tách ra ở tích 2 chữ số kể từ phải sang trái.
* Kết quả: 6,4 x 4,8 = 30,72 (m2).
- GV cho HS thực hiện tương tự với ví dụ 2: 4,75 x 1,3 = ?
- Cho HS rút ra quy tắc và nhắc lại nhiều lần.Yêu cầu HS so sánh cách thực hiện
nhân một số thập phân với một số thập phân và nhân 2 số tự nhiên; nhân một số
thập phân với một số thập phân và nhân một số thập phân với một số tự nhiên.
Nhận xét:
Ưu điểm:Quá trình HS tự đọc sách, thảo luận và thực hiện diễn ra sôi nổi, học
sinh tự tìm ra kiến thức, ghi nhớ và khắc sâu kiến thức. HS biết so sánh, đối
chiếu với cách làm cũ, nhận ra sự khác biệt giữa các phép nhân.
Hạn chế: Còn một số ít HS gặp khó khăn trong học tập, việc đọc văn bản còn
chậm nên việc thực hiện chậm hơn các bạn.
Khắc phục: GV cần cho những HS này lên bảng thực hiện và gợi ý, giúp đỡ để
các em nắm được cách làm.
Học sinh đọc sách giáo khoa và mô tả bài toán chuyển động cùng chiều.
6.Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán 5.
Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi luôn chủ động cập
nhật các kiến thức, kĩ năng về ứng dụng các đồ dùng, thiết bị dạy học mới, chủ
động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học toán. Các phần mềm có thể
động theo từng bước đi của bài dạy. Tuy nhiên, khi sử dụng loại đồ dùng này
giáo viên cần chú ý:
+ Đảm bảo tính chính xác về chính tả, ngôn ngữ khoa học, phù hợp với đặc
trưng bộ môn và nội dung bài dạy, thể hiện được sự nổi bật của bài học, khơi gợi
được tính tò mò, tích cực, sáng tạo của học sinh.
+ Nội dung logich, đảm bảo tính thẩm mĩ nhưng không gây phân tán sự chú ý
của học sinh.
+ Các phần mềm giáo khoa và các slide, các phim, tư liệu( nếu có) phải làm rõ
và thể hiện nội dung bài học, đạt hiệu quả cao cho minh họa khám phá, hệ thống
hóa, khắc sâu và chốt kiến thức( đặc biệt phần nội dung trọng tâm của bài học).
+ Trắc nghiệm phải sinh động, đạt hiệu quả củng cố, luyện tập, đánh giá đúng
kết quả tiết học.
+ Không sử dụng bài giảng điện tử có sẵn trên internet mà chưa qua chỉnh sửa.
+ Không lạm dụng đồ dùng.
Giờ học Toán của lớp 5B
7. Giao nhiệm vụ để học sinh tự sưu tầm và làm đồ dùng học tập là một cách
giúp các em tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng
kiến thức vào thực tế đời sống.
Tôi thấy rằng: Ở lứa tuổi học sinh lớp 5, các em biết tự phục vụ bản thân,
biết làm những việc nhỏ để giúp đỡ gia đình và người khác. Ngoài ra các em đã
được tham gia rất nhiều các hoạt động ở trường, nhiều em còn là thành viên tích
cực trong hoạt động Đội và phong trào của nhà trường. Với đặc điểm thích tìm
tòi, khám phá và ham hiểu biết, với trí tuệ thông minh của lớp người tuổi trẻ thì
tự làm đồ dùng học tập là một cách giúp các em tích cực, chủ động, sáng tạo
trong học tập, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế đời
say mê sáng tạo.
- Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi thảo luận phù hợp để giúp học sinh phát
hiện kiến thức.
IV/ HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG:
Nhờ sự nỗ lực cố gắng hết mình của bản thân trong việc tìm tòi, nghiên
cứu, đổi mới phương pháp dạy học; sự giúp đỡ của đồng nghiệp, chuyên môn
nhà trường, tôi đã thu được kết quả giảng dạy môn Toán lớp 5B như sau:
Cuối học kì I
SL
12 em
11 em
1 em
TL
50%
45,8%
4,2%
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Cần bồi dưỡng để hoàn thành
Về giáo viên:
- Với kết quả như trên, tôi đã hoàn thành vượt mức mục tiêu, kế hoạch đề ra.
- Một lần nữa khẳng định những suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng của bản thân vào
thực tế dạy học là hoàn toàn đúng đắn.
- Có thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực sử dụng đồ dùng dạy học nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo khi dạy học môn toán lớp 5, góp phần nâng cao
hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh.
hợp với nhiều địa phương song đã được áp dụng, mang lại hiệu quả cao trong
dạy học môn Toán lớp 5 tại trường Tiểu học Thanh Tân 1. Góp phần nâng cao
chất lượng dạy học và giáo dục học sinh, đảm bảo các tiêu chí của Trường chuẩn
Quốc Gia và ngày càng hoàn thiện, tiến tới vươn cao hơn nữa.
II/ KIẾN NGHỊ:
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh, góp phần đổi mới
căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, tôi xin được kiến nghị:
* Đối với đồng nghiệp:
- Cần tạo thói quen thường xuyên sử dụng đồ dùng trong dạy học toán lớp 5.
- Tích cực sưu tầm và làm đồ dùng dạy học để bổ sung sự thiếu hụt, hư hỏng và
phù hợp với cách truyền đạt của bản thân người dạy.
- Mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự giác, tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, nghiên cứu, học tập để
sử dụng các đồ dùng dạy học hiện đại, tự thiết kế, xây dựng kế hoạch dạy học
cho riêng mình.
- Thường xuyên trao đổi, góp ý, tiếp thu ý kiến để trau dồi chuyên môn, nghiệp
vụ.
* Kiến nghị với nhà trường:
- Cần tham mưu với các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, hội phụ huynh
học sinh để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm, bổ sung thêm các loại đồ dùng
dạy học ứng dụng nghệ thông tin như máy tính, máy chiếu…phục vụ cho việc
dạy học.
* Kiến nghị với Phòng Giáo dục- Đào tạo:
- Tổ chức các chuyên đề, hội thảo về sử dụng đồ dùng trong dạy học, đổi mới
phương pháp dạy học…để giáo viên được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm, nhân rộng các mô hình sáng kiến kinh nghiệm đã được các cấp công
nhận.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc sử dụng đồ dùng dạy
5
Nội dung
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu.
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lí luận của Sáng kiến kinh nghiệm.
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn
Toán lớp 5 ở trường Tiểu học Thanh Tân 1.
Thực trạng đối tượng học sinh lớp 5B
Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Thay đổi và nâng cao nhận thức của bản thân và đồng nghiệp
trong việc sử dụng đồ dùng dạy học.
Nghiên cứu những nội dung trong chương trình Toán lớp 5
cần thiết phải sử dụng đồ dùng dạy học.
Lập kế hoạch phấn đấu, rèn luyện nâng cao chất lượng học
sinh.
Nghiên cứu chủng loại đồ dùng dạy học Toán lớp 5; sưu tầm
và làm đồ dùng dạy học; thiết kế bài dạy môn toán đảm bảo
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa một cách tích cực, chủ
động, sáng tạo và hiệu quả.
Trang
1-2
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận.
Kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14-17
17-18
18-19
18-20
18-19
20
1. Các văn kiện nghị quyết của Đảng tại đại hội lần thứ XI, XII; Nghị quyết 29NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo .
2. Nghiên cứu giáo trình Tâm lí học, Giáo dục học Tiểu học.
3. Xuân Thị Nguyệt Hà. Tài liệu BDTX – Module TH 14: Thực hành thiết kế kế
hoạch bài học theo hướng dạy học tích cực.
4. Quản Hà Hưng. Tài liệu BDTX – Module TH 17: Sử dụng thiết bị dạy học ở
Tiểu học.
5. Quản Hà Hưng. Tài liệu BDTX – Module TH 18: Lắp đặt, bảo quản thiết bị
dạy học ở Tiểu học.
6. Quản Hà Hưng. Tài liệu BDTX – Module TH 19: Tự làm đồ dùng dạy học ở
Tiểu học.
7. Nhà xuất bản giáo dục: Sách giáo khoa, vở Bài tập toán 5.
8. Nguyễn Tuấn - Nhà xuất bản Hà Nội - Sách thiết kế bài giảng Toán lớp 5.
9. Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Danh mục đồ dùng, thiết bị dạy học lớp 5.
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG CẤP
PHÒNG GD&ĐT ĐÁNH GIÁ TỪ LOẠI C TRỞ LÊN.
sinh lớp 5 vùng khó khăn.
Phòng GD&ĐT
B
2006 - 2007
- Sử dụng đồ dùng dạy học
trong môn Toán lớp 5 nhằm
nâng bậc chất lượng học
sinh trung bình và yếu.
Phòng GD&ĐT
C
2013 - 2014
Phòng GD&ĐT
B
2014 - 2015
Phòng GD&ĐT
C
2015 - 2016
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
GIÚP HỌC SINH LỚP 5 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO KHI HỌC TẬP MÔN TOÁN
Người thực hiện: Lưu Thị Hương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Tân 1
SKKN môn: Toán
THANH HOÁ NĂM 2017