1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật và của nền sản
xuất xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải có tư duy độc lập và sáng tạo. Do vậy, nhà
trường phổ thông không chỉ có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh tri thức khoa
học mà còn phải giúp các em phát triển trí tuệ của mình. Muốn vậy các thầy cô
giáo, các bậc phụ huynh cần có hiểu biết đầy đủ và sâu sắc đặc điểm trí tuệ của
các em và những yếu tố liên quan tới quá trình phát triển đó. Chỉ có như vậy mới
xác định được mục đích, nội dung, phương pháp dạy học và giáo dục trí tuệ phù
hợp với từng lứa tuổi học sinh [1]. Lý thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner
(một nhà tâm lí học nổi tiếng của Đại học Harvard) đã tác động mạnh tới tình
hình nghiên cứu về khả năng trí tuệ của con người nói chung và học sinh nói
riêng. Mỗi người trong chúng ta đều có cá tính, sở thích, thị hiếu khác nhau và
học sinh cũng thế, do đó các em sẽ có cách học khác nhau. Giáo viên và các bậc
phụ huynh cần hiểu biết và đánh giá đúng những sự khác biệt này. Từ đó lựa
chọn các hoạt động phù hợp để phát triển khả năng của các em. Gardner cũng đã
chỉ ra rằng trường học thông thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua 2 loại
trí thông minh (ngôn ngữ và logic-toán học), điều này là không chính xác.
Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận
động, thị giác, giao tiếp, … đồng thời lèo lái tất cả mọi học sinh đi theo cùng
một con đường và chịu chung một sự đánh giá, phán xét. Nhiều học sinh đã có
thể học tập tốt hơn nếu các em được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của
mình [1].
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã ứng dụng lý thuyết này vào giáo dục.
Tại Việt Nam lý thuyết này bước đầu được nghiên cứu và ứng dụng nhưng chưa
sâu. Việc nghiên cứu và ứng dụng thuyết Đa trí tuệ vào dạy học là vô cùng cần
thiết, giúp chúng ta có một phương pháp giáo dục phù hợp phát huy thế mạnh
của mỗi cá nhân đồng thời bổ sung những điểm còn yếu để hướng tới một sự
phát triến toàn diện [3]. Vì vậy tôi xin “Nâng cao kết quả học tập môn Vật lý
thông qua việc vận dụng thuyết “Đa trí tuệ” (Howard Gardner) vào dạy học bài
“Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng”(Bài 37, Vật lý 10) đối với học sinh
Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả
năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản
phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” (the ability to
solve problems, or to create products, that are valued within one or more
cultural settings) và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất
qua chỉ số IQ [1].
Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại
một vài kiểu thông minh (đã được ông nêu ra và bổ sung sau đó) [1] :
Trí thông minh về toán học/logic (mathematical/logical) [2].
Trí thông minh về ngôn ngữ/lời nói (verbal/linguistic) [2].
Trí thông minh về thị giác/không gian (visual/spatial) [2].
Trí thông minh về vận động (bodily/kinesthetic) [2].
Trí thông minh về âm nhạc/giai điệu (musical/rhythmic) [2].
Trí thông minh hướng ngoại (interpersonal) [2].
Trí thông minh hướng nội (intrapersonal) [2].
Trí thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist) [2].
Trí thông minh về sự tồn tại (existential) [2].
Khi áp dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học, lực học của học sinh sẽ được nhìn
nhận dưới góc độ tích cực hơn và nhân bản hơn, định nghĩa về “giỏi” trong học
tập sẽ mang tính tổng quát hơn so với hiện nay. Điều này giúp học sinh tự tin
vào bản thân và có thể khám phá và mở rộng năng lực cá nhân của mình từ đó
được xếp vào loại “khó dạy” không phải vì nhiều nội dung kiến thức mà vì khó
giải thích để các em hiểu và trình bày vấn đề rõ ràng, mạch lạc, ví dụ như bài
“Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng” (Bài 37, Vật lý 10). Thông thường, khi
dạy những bài tương tự như thế này thì giáo viên sẽ thuyết trình về những nội
dung kiến thức theo yêu cầu cần truyền tải cho học sinh và ít áp dụng thêm
phương pháp hay kỹ thuật dạy học tích cực nào khác.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề
Để dạy học theo chủ đề tích hợp vận dụng thuyết “Đa trí tuệ” tôi thực
hiện các bước sau:
+ Trong việc chuẩn bị, tôi cùng nhóm học sinh có trí thông minh thị giác,
giao tiếp, vận động, thiên nhiên cùng làm một số các đồ dùng dạy học: khung
nhôm, ống mao dẫn, tranh ảnh …
Hình1: Một số vật dụng đã được sử dụng trong tiết học
3
[1]-Tài liệu trên internet.
Hình 2
Hình 3
Hình 4
Hình 5,6,7: Thí nghiệm hiện tượng mao dẫn
4
+ Trong quá trình học tập tôi giao nhiệm vụ để các em tự tìm hiểu câu trả lời
II. CHUẨN BỊ:
1. Giáo viên:
- Thiết bị dạy học
+ Máy chiếu, giấy Ao
+ Bộ thí nghiệm về hiện tượng dính ướt: Cốc thủy tinh, dầu, nước, lá
môn, tấm thủy tinh.
+ Bộ thí nghiệm về hiện tượng mao dẫn.
- Kiến thức liên quan đến bài học
- Trò chơi giải ô chữ.
2. Học sinh:
+ Ôn lại lực tương tác giữa các phân tử và các trạng thái cấu tạo chất
+ Các dụng cụ thí nghiệm, video, tranh ảnh theo giáo viên đã hướng dẫn
5
+ Đồ dùng học tập
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Ổn định trật tự lớp
2. Tiến trình bài học:
HOẠT ĐỘNG 1: Kiểm tra bài cũ
1. Mục tiêu:
Hs nhớ được khái niệm, đặc điểm của lực căng bề mặt của chất lỏng
2. Phương pháp
Vấn đáp, gợi mở
3. Hình thức tổ chức hoạt động
- Hoạt động cá nhân
- Tương tác giữa giáo viên và học sinh
4. Phương tiện dạy học:
Máy chiếu
Bước 4: Phương án kiểm tra đánh bề mặt chất lỏng luôn có phương
giá(KTĐG)
vuông góc với đoạn đường này
- Gv nêu đáp án
và tiếp tuyến với bề mặt chất
- Gv đặt vấn đề vào bài
lỏng, có chiều làm giảm diện tích
bề mặt chất lỏng và có độ lớn f tỉ
*Đặt vấn đề:
lệ thuận với độ dài l của đoạn
Vì sao bút bi không thể viết chữ trên đường đó:
tờ giấy bị thấm dầu hoặc mỡ. Sao cây
f=σl
có thể lấy được nước từ dưới đất lên
để nuôi toàn bộ cây? Trong khi nước - Trong đó σ là hệ số căng bề
6
chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp
mặt, có đơn vị N/m.
thôi mà!...Còn rất nhiều câu hỏi vì
sao và tại sao liên quan đến các hiện
tượng bề mặt của chất lỏng. Để có thể
giải thích những câu hỏi trên ta cần
tìm hiểu những kiến thức tiếp theo
trong bài 37: Các hiện tượng bề mặt
của chất lỏng.
HOẠT ĐỘNG 2: Tìm hiểu về hiện tượng dính ướt, không dính ướt.
1. Mục tiêu:
tinh lan ra.
động tham gia…
- Giọt nước
+ Trả lời câu hỏi sau:
trên bản thủy
Câu hỏi: nguyên nhân nào
tinh được
gây ra hiện tượng dính ướt
bọc nilong
-không dính ướt của chất lỏng
vo tròn, dẹt
với chất rắn? khi xảy ra hiện
xuống
tượng đó thì mặt thoáng chất
lỏng có gì đặc biệt?
7
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Hs: nhận thức được vấn đề
cần tìm hiểu(ưu tiên những
HS có trí thông minh thị giác,
hướng nội, thiên nhiên, về sự
tồn tại trả lời)
Nhóm 2:
Nhúng viên
phấn và cây
nến vào cốc
nước
của thành bình.
Nếu lực hút giữa phân tử chất
rắn (của thành bình) lên các
phân tử chất lỏng lớn hơn lực
hút của các phân tử chất lỏng
(bên trong chất lỏng) lên các
Nhóm
4:
Miếng xốp
dính
ướt
nước
màu
b, Kết quả thí nghiệm:
+ Chất lỏng bị dính ướt sẽ lan rộng thành
một
hình
có
dạng
bất
kì.
+ Chất lỏng không bị dính ướt thì giọt
nước sẽ vo tròn lại và bị dẹt xuống do tác
dụng của trọng lực.
c, Giải thích nguyên nhân :
8
thức nào [1].
[1].
Nước dính ướt ống dựng bằng thủy tinh
nên
tại
thành
ống
thủy tinh có dạng mặt khum lõm. Thủy
tinh không dính ướt thủy ngân nên tại
thành bình có mặt khum lồi
HOẠT ĐỘNG 3: Tìm hiểu về ứng dụng của hiện tượng dính ướt, không dính
ướt.
1. Mục tiêu: Hs nêu được ứng dụng của 2 hiện tượng này. Từ đó giải thích 1 số
hiện tượng trong thực tế có liên quan.
2. Phương pháp: Thí nghiệm trực quan, thuyết trình
3. Hình thức tổ chức hoạt động:
- Hoạt động cá nhân
- Hoạt động nhóm
- Tương tác giữa giáo viên và học sinh
- Tương tác giữa học sinh và học sinh
4. Phương tiện dạy học:
- Các thí nghiệm minh hoạ - Máy chiếu, tranh ảnh
9
[1]-Tài liệu trên internet.
Hoạt động của Giáo viên và
Học sinh
10
[1]-Tài liệu trên internet.
Bước 4: Phương án KTĐG
- GV: nhận xét, hệ thống lại
- Giáo viên giải thích thêm cho
phương pháp “tuyển nổi” làm
giàu quặng( có thí nghiệm kèm
theo)
- HS: theo dõi - ghi nhớ (định
hình 1 số ngành nghề tương lai:
xử lí quặng, xử lí nước, rác
thải…..)
HOẠT ĐỘNG 4: Tìm hiểu về hiện tượng mao dẫn
1. Mục tiêu:
Học sinh hiểu được như thế nào là hiện tượng mao dẫn
2. Phương pháp:
- Thí nghiệm trực quan
- Thảo luận nhóm
3.Hình thức tổ chức:
- Hoạt động cá nhân
- Hoạt động nhóm
- Tương tác giữa giáo viên và học sinh
- Tương tác giữa học sinh và học sinh
4. Phương tiện dạy học:
Đồ dùng thí nghiệm, tranh ảnh, giấy Ao…
Hoạt động của Giáo viên và
mặt thoáng của chất lỏng
trong ống, thành ống có bị
dính ướt không?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Hs: quan sát thí nghiệm
,hình ảnh minh hoạ, suy nghĩ,
thảo luận và đưa ra câu trả lời
(ưu tiên HS có trí thông [1].
+ Nếu thành bình bị dính ướt thì phần bề mặt
minh thị giác, vận động…)
chất lỏng ở sát thành bình sẽ bị kéo dịch lên
phía trên một chút và có dạng mặt khum lõm.
Bước 3: Thảo luận, trao đổi, + Nếu thành bình không bị dính ướt thì phần
bề mặt chất lỏng ở sát thành bình sẽ bị kéo
báo cáo
dịch xuống phía dưới một chút và có dạng mặt
- GV: Yêu cầu học sinh khác khum lồi.
C, Khái niệm hiện tượng mao dẫn: Hiện
nhận xét
- HS: Thảo luận, nhận xét bổ tượng mức chất lỏng bên trong các ống có
đường kính trong nhỏ luôn dâng cao hơn
sung
- Gv: Nhận xét bổ sung, rút ra hoặc hạ thấp hơn so với bề mặt chất lỏng ở
bên ngoài ống.
khái niệm
*Lưu ý:
- Hs: ghi nhớ
Nếu ống có đường kính trong càng nhỏ, thì độ
Bước 4: Phương án KTĐG
dâng cao hoặc hạ thấp của mức chất lỏng bên
2006
12
[1]-Tài liệu trên internet.
h
4
gd
Trong đó:
σ (N/m) : hệ số căng bề mặt
của chất lỏng.
ρ (N/m3) : khối lượng riêng
của chất lỏng.
g(m/s2) : gia tốc trọng trường.
d (m) : đường kính trong của
ống.
h (m) : độ dâng lên hay hạ
xuống
Trường hợp ngược lại nếu thành ống thủy tinh
không dính ướt thì lực hút giữa các phân tử
chất lỏng (bên trong lòng chất lỏng) lên các
phân tử chất lỏng ở thành bình sẽ kéo các
phân tử chất lỏng ở thành bình bị hạ xuống.
HOẠT ĐỘNG 5: Tìm hiểu về ứng dụng hiện tượng mao dẫn
1.Mục tiêu: Nêu được các ứng dụng của hiện tượng mao dẫn trong thực tiễn
2. Phương pháp:
sợi bông nhỏ đóng vai trò như ống mao
dẫn giúp nâng chất lỏng (dầu) lên phía
trên để làm nguyên liệu cháy cho ngọn
lửa.[7].
13
Nhóm 2:
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Hs: làm việc theo nhóm(đã được
phân công trước - có sự chuẩn bị ở
nhà )
- Hs: đại diện nhóm trình bày các ứng
dụng của hiện tượng mao dẫn trong
thực tiễn.
Hiện tượng mao dẫn xảy ra ở vách
tường trong nhà, nơi các vách tường
.
tiếp xúc nhiều với chất lỏng ẩm ướt ở
nền nhà. Lâu ngày do hiện tượng mao
dẫn các chất lỏng dưới nền nhà dâng
Bước 3: Thảo luận, trao đổi báo lên làm ẩm cả bức tường.
cáo:
Nhóm 3:
- Hs: giữa các nhóm có sự trao đổi
với nhau
- GV: tổng hợp, cũng cố câu trả lời
của các nhóm
nghiệm vui nhờ ứng dụng của hiện
tượng mao dẫn: Đổi màu cho hoa
hồng trắng, hoa cúc trắng, hay đổi
màu cho lá cải thảo…
HOẠT ĐỘNG 6 : Củng cố - Tổng kết
1. Mục tiêu
HS nắm vững những kiến thức cơ bản của bài
2. Phương pháp:
Vấn đáp
3. Hình thức tổ chức hoạt động
Tương tác giữa HS với HS
Tương tác giữa HS với GV
4. Phương tiện dạy học
Máy chiếu
15
Hoạt
động
GV
NộiThuận
dung
[6].
Hỏi đáp
vật lícủa
10-Nhà
xuấtvà
bảnHS
giáo dục 2006 - chủ biên: Nguyễn Văn
Bước 4: Phương án
KTĐG
- GV: - Tóm tắt bài học
- Đánh giá, nhận xét
mức độ xây dựng, chuẩn bị
bài học của HS, của nhóm
học sinh.
-Tuyên dương (phê
bình) những HS, nhóm Hs
tích cực và có phần chuẩn bị
tốt (chưa tốt).
- Hs: - Ghi nhận kiến thức.
- Tiếp thu ý kiến.
[1]
- GV: Yêu cầu HS ôn lại
kiến thức và tìm hiểu trước
bài học tiếp theo.
- Hs: Ôn lại kiến thức mà
giáo viên yêu cầu đồng thời
tìm hiểu bài học sau.
18
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
SL
%)
(%)
10a1
0
0
11
27.5
20
50
9
22.5
Đầu năm
10a2
0
0
9
23.1
21
53.8
9
23.1
10a1
8
20
15
37.5
14
35
3
Đối với các cấp lãnh đạo, quản lí: Như đã trình bày ở trên thuyết đa trí tuệ
mang lại một cái nhìn nhân bản và đã được áp dụng ở nhiều nền giáo dục ở các
nước phát triển. Vì vậy việc đưa vào áp dụng cho giáo dục Việt Nam là điều hết
sức cần thiết. Việc này cần đưa ra và thực hiện một cách đồng bộ để đem lại hiệu
quả tốt nhất cho người học.
Ở sáng kiến này tôi chỉ mới bắt đầu áp dụng ở mức cơ bản nhất và còn
mang tính cảm tính, còn để đạt hiệu quả cao hơn thì cần sự tham gia và thực
hiện của cả hệ thống. Có như vậy mới khuyến khích học sinh tham gia quá trình
học tập, đạt hiệu quả tốt theo khả năng của mình và trở thành người có ích cho
xã hội. Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến nhận xét đánh giá và đóng góp của
hội đồng khoa học nhà trường cũng như các đồng nghiệp để tôi có dịp bổ sung,
sữa chữa và tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm hay và đề tài thêm hoàn
thiện, có hiệu quả hơn giúp các em nâng cao kết quả học tập và phát huy hết
năng lực của bản thân trong những năm học tới.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thường Xuân, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người thực hiện
Nguyễn Thuý Quỳnh
20