QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ XUÂN CHIẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Minh Đức

ĐẮK LẮK, NĂM 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả luận văn

Lê Xuân Chiến

i


LỜI CẢM ƠN

5.1. Phương pháp luận: .................................................................................... 5
5.2. Phương pháp nghiên cứu: ......................................................................... 5
6. Ý nghĩa của đề tài: ........................................................................................ 5
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận: ............................................................................. 5
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn: .......................................................................... 5
7. Cơ cấu của luận văn: .................................................................................... 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ ............................................................................................................ 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: ..................................................................... 7
1.2. Vai trò của Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã: ............................................................................................................ 17
1.3. Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã: ................................................................................................................... 18
1.4. Phương pháp quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ, công chức
iii


cấp xã: ............................................................................................................ 21
1.5. Các yếu tố tác động đến việc Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
Cán bộ, công chức cấp xã: ............................................................................. 24
Tiểu kết Chương 1 .......................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, 29
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK ... 29
2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk có liên quan
đến việc quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
......................................................................................................................... 29
2.2. Tình hình quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã tại tỉnh Đắk Lắk: ........................................................................................ 33



DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Trình tự trong đào tạo CBCC .................................................................... 20
Hình 1.2. Trình tự bồi dưỡng CBCC......................................................................... 24

vi


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. So sánh sánh số lượng học viên, các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, cấp xã qua các năm 2015, 2016, 2017, 2018 của tỉnh Đắk Lắk .............51

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBCC

: Cán bộ, công chức

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân


: Lý luận Chính trị

THPT

: Trung học Phổ thông

THCS

: Trung học cơ sở

TH

: Tiểu học

TDP

: Tổ dân phố

CA

: Công an

CAVTT

: Công an viên thường trực

TK

: Thống kê


triển kinh tế - xã hội ở địa phương đặc biệt tại các địa bàn các xã thuộc các huyện
tiếp giáp biên giớivới Vương quốc Campuchia như huyện Buôn Đôn, huyện Ea
Súp; đảm bảo an ninh trật tự - an toàn xã hội của tỉnh trong thời gian qua, thúc đẩy
phát triển kinh tế tại địa bàn các xã thuộc tỉnh; góp phần tăng cường đại đoàn kết
toàn dân tộc.
Tuy nhiên, do đặc thù là tỉnh miền núi, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều
1


khó khăn, trình độ dân trí có nơi còn chưa cao, nên đội ngũ CBCC cấp xã trên địa
bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Một bộ phận không nhỏ CBCC cấp xã có trình độ
văn hóa, chuyên môn chưa đạt chuẩn theo quy định của tỉnh, của Trung ương và
đây là nguyên nhân cơ bản khiến chất lượng, hiệu quả trong công tác của chính
quyền cấp xã ở một số địa phương còn ở mức trung bình, chương trình, phương
pháp đào tạo chậm đổi mới, ít đề cập đến việc bồi dưỡng bằng kỹ năng, thiếu mô
hình lồng ghép đào tạo văn hóa với chuyên môn, nghiệp vụ. Để xây dựng được đội
ngũ CBCC cấp xã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu xây
dựng chính quyền hiện đại phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng CBCC cấp xã. Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực thực thi nhiệm vụ của CBCC cấp
xã để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức thực
hiện; hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát
triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính vì lẽ đó, tôi xin chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm luận văn thạc sỹ của
mình, là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Việc nghiên cứu và khảo sát về đội ngũ CBCC, xây dựng đội ngũ CBCC và
đào tạo, bồi dưỡng CCBC được nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý, các đơn vị

với hoạt động thực thi công vụ. Tạp chí Công thương số 5 - tháng 4/2018, 186 - 190.
- Đoàn Kim Huy (2017). Quy định về quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức - Những nội dung cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện. Tạp chí Quản lý nhà
nước số 256 tháng 5/2017, 25 - 30.
- Nguyễn Thị Hồng Hải, Đoàn Văn Dũng (2018). Quản lý chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Tạp
chí Quản lý nhà nước số 268 tháng 5/2018, 34 - 39.
- Ngô Thành Can, Đoàn Kim Huy (2018). Những chuyển biến của hoạt động
quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sau 6 năm triển khai Nghị định số
18/2010/NĐ-CP. Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội số 1 - 2018, 47 -52.
- Lại Đức Vượng (2009). Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức

3


hành chính trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Tiến sĩ Hành chính công, Học viện
Hành chính.
- Ngô Thị Thu Trà (2012). Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan Ủy ban nhân dân
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ khoa học quản trị kinh
doanh, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Các luận văn, bài báo đã làm rõ một số vấn đề đào tạo, bồi dưỡng CBCC
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, đánh giá được công tác đào tạo, bồi dưỡng
CBCC qua thực tiễn tại một số địa phương. Tuy nhiên, đến nay, tại tỉnh Đắk Lắk
chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này, do vậy, tôi chọn đề tài này
làm luận văn thạc sỹ cho mình là không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn làm rõ những vấn đề về lý luận liên quan đến công tác quản lý Nhà
nước về đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

Trong phạm vi luận văn này, sử dụng các phương pháp nghiên cứu: lịch sử,
logic, phân tích, tổng hợp và phương pháp thống kê để phân tích các nội dung có
liên quan, phương pháp thu thập nguồn số liệu: Số liệu từ Cổng thông tin điện tử
các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk; các
số liệu thống kê của các Phòng Nội vụ các huyện, thị xã, thành phố; các Phòng
chuyên môn thuộc Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk.
6. Ý nghĩa của đề tài:
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận:
- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
- Góp phần hệ thống các văn bản pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã; bổ sung thêm cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn của tỉnh Đắk Lắk.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
- Những hạn chế, bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã của tỉnh Đắk Lắk.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về

5


đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các cơ
quan có thẩm quyền.
7. Cơ cấu của luận văn:
Nội dung cơ cấu chính của Luận văn gồm có 03 Chương (chưa bao gồm mở
đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk.

dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo
nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[4]. Với quy định
7


trên, thì để xác định một người là cán bộ cần quan tâm đến các tiêu chí và yếu tố đó
là: là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế; theo
nhiệm kỳ; hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, theo vị trí, chức danh; nơi làm việc
là cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính
trị- xã hội.
Công chức: Tại Việt Nam, “Công chức” là một thuật ngữ được dùng từ rất
sớm khi đã trải qua các văn bản pháp luật từ năm 1950 đến nay: Điều 1 Quy chế
Công chức Việt Nam tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu khái niệm về công chức, đó là: “Những công Dân
Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong
các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế
này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”[3].
Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành ngày 26/02/1998; Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày
17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Pháp lệnh CBCC năm
1998 là văn bản pháp lý đánh dấu bước chuyển trong công tác cán bộ của Đảng và
Nhà nước ta; sau thời gian hai năm thực hiện, Pháp lệnh này đã bộc lộ những hạn
chế và được sửa đổi sau đó vào năm 2000. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi vẫn chưa
tách rõ ràng đối tượng là công chức, tiếp tục sửa đổi năm 2003. Pháp lệnh sửa đổi
năm 2003 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước là viên chức, đồng thời quy định về công chức của xã, phường, thị trấn.
Vấn đề là các Pháp lệnh này, chỉ nêu thuật ngữ chung là CBCC mà chưa đưa ra cụ

vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là
công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”[4]. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 thì cán bộ cấp xã có các chức vụ:
“a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

9


đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam”.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 61 Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 thì công chức cấp xã có các chức danh:
“a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
c) Văn phòng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý”[4].

ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức
hội nhập quốc tế; Tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ.
Với một số nội dung cơ bản, có thể thấy giữa đào tạo và bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức có sự khác nhau:
Một là, về phạm vi đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng: Đối tượng được đào
tạo có phạm vi hẹp hơn so với đối tượng bồi dưỡng, theo đó, việc đối tượng đào tạo
xác định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày
01/09/2017 của Chính phủ: Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số hoặc
công tác tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và phải có cam kết
thực hiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ quan, đơn vị sau khi hoàn thành chương trình
đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 02 lần thời gian đào tạo [8]. Ngoài các đối tượng
trên sẽ không được Nhà nước khuyến khích cử đi học các trình độ trung cấp, cao
đẳng, đại học, quy định này đảm bảo nguyên tắc chuẩn đầu vào, hạn chế tình trạng
công chức, viên chức tuyển dụng trong một thời gian rồi xin đi học để thay đổi vị trí
việc làm hoặc để nâng ngạch, gây ra sự hẫng hụt về nhân lực. Đối với bồi dưỡng

11


cán bộ, công chức, viên chức xác định phạm vi rộng hơn theo theo tiêu chuẩn ngạch
công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; Bồi dưỡng trước khi bổ
nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; Bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm.
Hai là, thời gian đào tạo, bồi dưỡng: Thời gian đào tạo có thể kéo dài hơn
thời gian bồi dưỡng: Việc bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng
kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm (thời gian thực hiện tối thiểu là
01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết) [8];
Tuy nhiên, đối với đào tạo, thực hiện theo Chương trình, thời gian đào tạo trung
cấp, cao đẳng, đại học với thời gian có thể từ 03 đến 04 năm.
Ba là, về chương trình, tài liệu thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng: Việc đào

giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau.
* Quản lý nhà nước là gì?
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan
nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những
mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ
máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống
nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện
đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Quản lý hành chính Nhà nước (QLHCNN) là hoạt động thực thi quyền hành
pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các
quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống chính Nhà
nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày
của nhân dân. Quản lý hành chính Nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với Quản lý
Nhà nước: QLHCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp, tức là hoạt động chấp
hành và điều hành; Chủ thể Quản lý hành chính Nhà nước là các cơ quan, cán bộ,
công chức hành chính Nhà nước trong hệ thống hành chính từ Trung ương đến cơ
sở [20]. Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng được hiểu theo phạm vi là: Chính
phủ thực hiện thống nhất quản lý bởi tổ chức bộ máy của mình từ Trung ương đến
địa phương, ban hành các văn bản quy phạm pháp pháp luật, văn bản cá biệt, được
đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp của Nhà nước nhằm thực thi quyền lực Nhà
nước. Từ đó rút ra khái niệm Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã

13


là việc cơ quan có thẩm quyền bằng sự tác động có tổ chức, thực hiện quyền lực
Nhà nước tuân thủ theo các quy định của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo
CBCC, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trong tình hình
mới, nâng cao trình độ, kỹ năng của CBCC đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

phê duyệt. Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng.
Ở địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Xây dựng, ban
hành chế độ khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức không ngừng học tập nâng
cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm thực hiện có hiệu quả chế
độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện đề
án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản
lý. Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Cử cán bộ, công
chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo thẩm quyền. Quản lý và biên soạn các
chương trình, tài liệu bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền.
Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên theo thẩm quyền. Thanh tra,
kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng theo thẩm quyền.
Trách nhiệm của đơn vị sử dụng cán bộ, công chức, viên chức: Thực hiện các quy
định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Đề xuất biên soạn và lựa
chọn chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm của cán
bộ, công chức, viên chức. Tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện
chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Với tỉnh Đắk Lắk, là một trong 05 tỉnh
Vùng Tây Nguyên, theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án tiếp tục củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở
Vùng tây nguyên giai đoạn 2014 - 2020, đã xác định các chủ thể trong quản lý, đào
tạo bồi dưỡng CBCC:
Ở Trung ương: Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và
các địa phương vùng Tây Nguyên xây dựng Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện
hằng năm và Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức và những
người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở; lập dự toán kinh phí và phân kỳ từng
năm để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước; kiểm tra, đôn đốc, sơ kết hằng
năm và tổng kết vào năm 2020 kết quả thực hiện Đồ án của các địa phương, báo cáo
Thủ tướng Chính phủ. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính,
Bộ Nội vụ và các địa phương liên quan xây dựng kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ

15

cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status