Pháp luật về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH DOANH
VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn : ThS. ĐOÀN TRỌNG CHỈNH
Sinh viên thực hiện

: QUÁCH THỊ BÍCH NHƢ

MSSV: 1511271202

Lớp: 15DLK13

TP. Hồ Chí Minh, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH DOANH
VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ

thành bài Khóa luận tốt nghiệp một cách hoàn thiện được. Một lần nữa, em xin cảm
ơn Thầy và chúc thầy luôn dồi dào sức khoẻ.
Bài Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành từ những bước đầu vào thực tiễn
tìm hiểu về các kiến thức pháp luật liên quan đến đề tài và các nguồn tài liệu bổ trợ,
vì thế khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu từ quý thầy cô và các bạn đọc để nâng cao kiến thức, hoàn
thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc Ban Giám hiệu nhà trường, Quý Thầy, Cô trong
khoa Luật luôn dồi dào sức khỏe và nhiều niềm vui trong công việc.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày
Sinh viên

tháng

năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: QUÁCH THỊ BÍCH NHƯ, MSSV: 1511271202
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng quy định);
Nội dung trong khóa luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của nhà trường và
pháp luật.
Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)


BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài............................................................................2
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài ...........................................................3
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .........................................4
5. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................5
6. Kết cấu của khóa luận..........................................................................................6
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP KINH DOANH VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ .................................7
1.1 Lịch sử hình thành bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh
doanh vận tải đƣờng bộ .....................................................................................7
1.1.1 Trước khi Việt Nam mở cửa – năm 1993 ...............................................7
1.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2000 ................10
1.1.3 Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2000 đến nay ..........................11
1.2 Khái niệm, đặc điểm bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh
doanh vận tải đƣờng bộ ...................................................................................13
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận
tải

.....................................................................................................14

1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh
vận tải

.....................................................................................................18

1.3 Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh
doanh vận tải đƣờng bộ ...................................................................................19
1.3.1 Vai trò của bảo hiểm bắt buộc trong lĩnh vực kinh doanh vận tải
đường bộ đối với nền kinh tế .........................................................................19

nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ ..............................................................42
3.1.2 Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm bắt
buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ ..............................48
3.1.3 Hạn chế, bất cập khi thực hiện pháp luật về mua bảo hiểm bắt buộc
đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ.......................................49
3.2 Kiến nghị hoàn thiện về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh
doanh vận tải đƣờng bộ ...................................................................................52
3.2.1 Phát huy kết quả đạt được khi thực hiện pháp luật về bảo hiểm bắt
buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ ..............................53


3.2.2 Giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập khi thực hiện pháp luật về bảo
hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ ...............54
KẾT LUẬN ..............................................................................................................57
PHỤ LỤC .................................................................................................................63



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, từ sau hàng loạt vụ tai nạn kinh hoàng do xe ô tô tải gây ra liên
quan đến tình trạng tài xế mệt mỏi, lạm dụng ma túy để tỉnh táo, xe bị lỗi và quá tải,
không chỉ gây thiệt hại nặng nề về tài sản mà còn gây thương tật, thậm chí chết
người hàng loạt. Những người bị thiệt hại tài sản và gia đình nạn nhân tử vong phải
gánh chịu nỗi đau về tinh thần lẫn tổn thất về vật chất khi những lái xe làm công
này không tài nào đủ khả năng tài chính để bồi thường cho thiệt hại do lỗi của mình
gây ra. Trước tình hình đó, Chính phủ các nước đã có những chính sách quyết tâm
giảm bớt số vụ tai nạn xảy ra cũng như bảo vệ quyền lợi của những nạn nhân. Ở
Nhật Bản, để đảm bảo tài chính cho nạn nhân của các vụ tai nạn, Luật Đảm bảo
trách nhiệm chủ xe cơ giới được ban hành vào năm 1955, có hiệu lực vào tháng 02

Nghị định số 30/HÐBT ngày 10 tháng 03 năm 1988 về bảo hiểm bắt buộc TNDS
của chủ xe cơ giới. Đây là cơ sở đầu tiên nhằm buộc các chủ doanh nghiệp vận tải
có trách nhiệm hơn trong công tác bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn do phương
tiện của mình gây ra trong lúc hoạt động kinh doanh. Đồng thời, buộc các chủ thể
này có ý thức chấp hành những quy định về hạn chế, ngăn chặn cũng như phòng
ngừa nguy cơ gây tai nạn của phương tiện. Từ khi ra đời và hoạt động cho đến nay,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) xe cơ giới đã góp phần đáng kể trong việc bồi
thường thiệt hại, chia sẻ thiệt thòi đối với bên thứ ba, đặc biệt giảm nỗi lo về bảo
đảm an toàn cho phương tiện kinh doanh của những doanh nghiệp vận tải lớn, đó là
ích lợi xã hội mà không một cơ quan hay tổ chức từ thiện nào đủ tiềm lực kinh tế để
hỗ trợ các nạn nhân, đó đơn giản là “lấy của nhiều người chia sẻ cho số ít người bị
rủi ro”.
Hiện tại, mặc dù bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới rất được quan
tâm bởi cơ quan Nhà nước, riêng Bộ Tài chính cũng đã kịp thời đưa ra những chính
sách để sửa đổi, bổ sung cũng như quy định mới để bắt kịp với tình hình phát triển
của kinh tế, phức tạp của xã hội, tuy nhiên việc chấp hành tham gia bảo hiểm này
của các chủ thể KDVT nói riêng được quy định là bắt buộc mua vẫn chưa triệt để.
Cho thấy rằng đang tồn tại một số lý do khách quan và chủ quan từ phía doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH), người tham gia, hay có thể từ cơ quan quản lý nước về
kinh doanh bảo hiểm, các Bộ, Ngành có liên quan đưa ra quy định pháp luật còn
nhiều hạn chế, thiếu tính khả thi. Từ đó chưa phát huy được hết giá trị xã hội của
loại hình bảo hiểm này. Đây là lý do mà người nghiên cứu chọn đề tài “Pháp luật
về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ” làm đề
tài khóa luận của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu khái quát chung về tình hình phát triển qua từng gia đoạn của đối
tượng được nghiên cứu cũng như vai trò và ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội.

2


đáng. Đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn đối với chế định về
bảo hiểm bắt buộc TNDS đối với doanh nghiệp vận tải đường bộ.
3


4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
TNDS luôn được các nhà làm luật Việt Nam hiện nay xem là một loại trách
nhiệm pháp lý – một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên cứu tổng quát trong
môn Lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và
pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội, trách nhiệm pháp lý được hiểu là: “trách
nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật,
thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp
luật,… trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những
biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.” Theo đó,
TNDS trong bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới là việc một chủ thể phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp
luật và gây tổn hại đến người khác. Dưới góc độ khoa học pháp lý, bảo hiểm bắt
buộc TNDS đối với doanh nghiệp KDVT đường bộ đã được nhiều nhà khoa học
pháp lý trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Ở Việt Nam, có luận văn Thạc sĩ luật của Vũ Thu Trang (2011) – Đại học
Quốc gia Hà Nội về đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới ở Việt Nam hiện nay”.
Tác giả Vũ Thu Trang đã khái quát được lý luận cơ bản về bảo hiểm bắt buộc
TNDS chủ xe cơ giới, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật,
tác giả đưa ra những hạn chế cũng như những thiếu xót dẫn đến loại hình bảo hiểm
TNDS chưa được phổ biến trong đời sống. Tuy nhiên, tác giả tập trung vào phân
tích tổng thể những quy định pháp luật liên quan và đối tượng trọng tâm trong phần
thực trạng thực thực hiện pháp luật chủ yếu về DNBH. Đề tài chưa đưa ra những
hạn chế về mặt pháp luật cũng như không thống nhất trong việc thực hiện của phía
chủ thể tham gia bảo hiểm dẫn đến chưa thực hiện triệt để loại hình bảo hiểm bắt

lý luận và thực tiễn của đề tài trong từng nội dung cụ thể.
Phương pháp phân tích: luật viết ở đây tập trung vào các phân tích điều khoản
của luật và làm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến đề tài, phân tích từng
vấn đề một cách toàn diện và đầy đủ.
Phương pháp tổng hợp: Mỗi một vấn đề sẽ được phân tích theo nhiều khía
cạnh, phân tích từng chiều, từng cá thể, lĩnh vực và cuối cùng tổng hợp, đúc kết các
mối quan hệ của chúng lại với nhau.
Phương pháp mô tả: tình hình thực tế thực hiện pháp luật của các chủ thể được
mô tả qua dẫn chứng những con số thống kê cụ thể, áp dụng pháp luật của cơ quan

5


nhà nước qua các vụ bồi thường hay giải quyết tranh chấp, từ đó thấy được những
biến động hạn chế, kết quả đạt được cũng như rút ra kết luận cho từng nội dung.
Phương pháp thống kê: Qua các số liệu thống kê được từ các nguồn tin tức,
báo chí chính thống, tiến hành lựa chọn và sử dụng theo các tiêu chí đánh giá nhằm
phục vụ quá trình nghiên đề tài.
Phương pháp so sánh: nhằm so sánh những điểm tương đồng và khác biệt của
các quy định trong luật cũ và mới cũng như hành vi thực hiện pháp luật của các chủ
thể, từ đó để đánh giá và rút ra những điểm khác biệt mang tính chất của vấn đề.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài của
Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh
doanh vận tải đường bộ.
Chương 2: Quy định pháp luật về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp
kinh doanh vận tải đường bộ.
Chương 3: Thực hiện pháp luật về bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp
kinh doanh vận tải đường bộ và kiến nghị hoàn thiện.

ty nước ngoài) đặt tại Sài Gòn2. Còn ngoài Bắc có một công ty bảo hiểm duy nhất
1

Dương Thị Kim Oanh (2006), Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu và thực trạng tại Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Kinh tế ngoại thương - Trường Đại học ngoại thương.
2
Bùi Nhật Anh (2009), Bảo hiểm Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển, Khóa luận tốt
nghiệp, chuyên ngành kinh tế ngoại thương – Trường Đại học Ngoại thương.

7


lúc bấy giờ là công ty Bảo Việt thành lập ngày 17/12/1964, nhưng đang trong tình
trạng hoạt động kém hiệu quả bởi còn đang trong cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc.
Từ năm 1975 đến năm 1993, diễn ra việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm
cũ của miền Nam đã dẫn đến thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam
(BAVINA). Năm 1976, sau khi BAVINA được chuyển thành chi nhánh của công ty
bảo hiểm Việt Nam tại TP.HCM. Lúc này, Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất
của nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán
kinh tế thống nhất toàn ngành (1980).3 Trực thuộc Bộ Tài Chính, Bảo Việt có chức
năng giúp Bộ tài Chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm nhà nước và trực tiếp
tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ thực sự tiến triển kể từ khi Nghị định
100/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ra
đời. Do vậy, có thể nói thời gian này hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát
triển. Riêng lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ chỉ phát triển ở một số loại hình như
bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm dầu khí, và bảo hiểm TNDS chủ
tàu.4 Bên cạnh đó, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1993 đất nước vẫn đang bị bao
vây cấm vận, ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn. Chỉ thị cho ngành Giao thông

trường kinh doanh thì việc đảm bảo an toàn đối với phương tiện vận tải kinh doanh
của họ cũng được ưu tiên không kém. Họ ước lượng trước sự được và mất trong
việc kinh doanh, từ đó tìm xem liệu có giải pháp nào hữu hiệu hơn cho việc thay vì
họ tự tích lũy quỹ khoản riêng từ lợi nhuận kinh doanh để phòng bất trắc thì họ cần
sự bảo đảm tuyệt đối an toàn cho cả khối tài sản của mình. Đây là cơ sở cho sự ra
đời của các nhà kinh doanh bảo hiểm với nhiều hình thức bảo hiểm đa dạng chuyên
phục vụ nhu cầu này của các nhà KDVT.
Tuy nhiên, hoạt động KDVT là hoạt động chứa đựng nguồn nguy hiểm cao
độ, trong quá trình sử dụng vận hành chúng tiềm ẩn khả năng gây tai nạn. Trên thực
tế, khi có tai nạn xảy ra nhiều trường hợp chủ phương tiện không đủ khả năng tài
chính để khắc phục hậu quả cũng như bồi thường cho người không may mà họ đã
gây tai nạn. Theo một Diễn đàn dân trí Việt Nam, trong những năm qua Việt Nam
đã kiềm chế được TNGT, nhưng chưa thật bền vững vì số người chết vẫn ở mức
cao. Tính theo tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thiệt hại do TNGT lên nền kinh tế là
khoảng 2,5-3% GDP/năm, tức là mỗi năm TNGT ở Việt Nam gây tổn thất gần
115.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 300 tỷ đồng/ngày.5
Từ khi xác định được vai trò của bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với an
sinh xã hội, đặc biệt là trước hiểm họa TNGT luôn rình rập, từ năm 1988, Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 30/HÐBT ngàY
10/03/1988 về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới. Đây là cơ sở pháp lý
đầu tiên và cũng là công cụ đắc lực giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước thực thi
giám sát các chủ thể thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới.
Thông qua cơ sở dữ liệu này các DNBH có thể đánh giá được tình hình tổn thất theo
từng khu vực để có biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hợp lý, nhằm góp phần hạn
5

Hồng Nhung (2019), Giải pháp hạn chế tai nạn giao thông Nguồn:
http://baobinhphuoc.com.vn/Content/giai-phap-han-che-tai-nan-giao-thong562410?AspxAutoDetectCookieSupport=1 ngày đăng 06/03/2019.

9

ích chung cho cộng đồng và sự an toàn cho xã hội mà đề ra một cơ chế ràng buộc về

6

Phan Cẩm Vân (2006), Bảo Việt với Diễn đàn đầu tư Việt Nam – Các cơ hội tiếp cận đầu tư hậu WTO.
Nguồn: https://www.baoviet.com.vn/Tin-tuc-su-kien/Luu-tru/Bao-Viet-voi-Dien-dan-dau-tu-Viet-Nam-Cac-co-hoi-tiep-can-dau-tu-hau-WTO-/19/2472/MediaCenterDetail/ ngày đăng 15/03/2006

10


mặt pháp lý, buộc các chủ thể tham gia trên cơ sở bắt buộc chứ không dựa vào việc
có tự nguyện hay không đối với một số lĩnh vực kinh doanh.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của
chủ xe cơ giới sơ khai này vẫn chưa điều chỉnh được yêu cầu ngày càng cao của
người tham gia và sự gia tăng số lượng xe tham gia giao thông lúc bấy giờ (đồng
nghĩa với việc số vụ TNGT sẽ tăng). Điều này đang gây áp lực cho cơ quan thực thi
pháp luật về an toàn giao thông đường bộ, trong khi điều kiện về nguồn lực có hạn.
Sau gần 10 năm thực hiện, nghị định này được thay thế bởi Nghị định
115/1997/NĐ-CP ngày 17/12/1997 của Chính phủ. Từ khi Nghị định 115/1997/NĐCP có hiệu lực, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành chính
sách bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực
hiện các quy định vẫn chưa triệt để. Những người tham gia giao thông bằng phương
tiện cơ giới chưa quan tâm đến việc mua bảo hiểm bắt buộc. Theo thống kê, mới chỉ
có 80% lượng ô tô và 30% xe máy tham gia mua bảo hiểm bắt buộc TNDS ở thời
điểm này.7
1.1.3 Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2000 đến nay
Ngành giao thông vận tải luôn được nhà nước chú trọng đầu tư phát triển bởi
đây vừa là điều kiện, vừa là nội dung cơ bản trong sự nghiệp phát triển công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong đó, giao thông vận tải đường bộ có vị trí trọng
yếu trong hệ thống giao thông vận tải quốc gia, đóng vai trò quan trọng đối với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao

phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam và tái cấu trúc DNBH, thị trường bảo hiểm
đã không ngừng hoàn thiện và lớn mạnh cả về quy mô, số lượng doanh nghiệp và
chất lượng sản phẩm dịch vụ. Nhằm triệt để trong công tác thực hiện, Nghị định số
103/2008/NĐ-CP ngày 16/09/2008 của Chính phủ được ban hành để thay thế Nghị
định số 115/1997/NĐ-CP, sau hơn 10 năm để triển khai thực hiện, nghị định này
được cho là khá chặt chẽ, có sự kế thừa và có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với
những nghị định trước. Đáng ghi nhận là làm thay đổi số lượng từ 80% đã tăng lên
90% số chủ xe ôtô tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS.9
Kể từ khi nghị định số 103/2008/NĐ-CP ra đời quy định về việc tham gia mua
bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của
người tham gia giao thông đã đem lại những tín hiệu rất tích cực đối với tình hình
trật tự an toàn giao thông. Bất kỳ ngành nghề nào cũng cần đến sự an toàn, đặc biệt
là nghề lái xe thì trách nhiệm giữ an toàn cho chính mình và đối tượng vận chuyển
luôn phải đặt lên hàng đầu. Như là một sự đảm bảo an toàn cho người và phương
tiện trong trường hợp không may xảy ra tai nạn khi tham gia giao thông. Hiện nay,
đa số phương tiện ô tô đều chấp hành nghiêm túc tham gia bảo hiểm trách nhiệm
dân sự. Với những điểm thay đổi của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP, chủ xe cơ giới
khi tham gia bảo hiểm TNDS sẽ được DNBH hỗ trợ, chi trả cho người bị nạn theo
mức độ phần trăm thu được quy định bằng giá của Bộ tài chính mà không phải đợi
kết quả phân biệt lỗi của cơ quan chức năng và đợi thời gian điều trị của người bị
nạn. Điều này góp phần tích cực vào việc đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ của các cơ
quan chức năng về nâng cao bình đẳng giữa chủ xe cơ giới và người bị nạn với mức
thương tật giống nhau thì được bồi thường như nhau.
9

Minh Bằng (2018), Nâng mức bồi thường bảo hiểm để chủ xe cơ giới tự giác tham gia. Nguồn:
https://laodong.vn/kinh-te/nang-muc-boi-thuong-bao-hiem-de-chu-xe-co-gioi-tu-giac-tham-gia645420.ldo ngày 07/12/2018.

12


nhập ngày càng sâu rộng khi tích cực tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế lớn, bên
cạnh còn kí kết nhiều hiệp định thương mại tự do như Tổ chức thương mại quốc tế
(WTO), Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP),.. Kinh tế
càng phát triển, nhu cầu đi lại của con người và việc lưu thông hàng hóa giữa các
vùng miền và giữa các quốc gia trên thế giới càng trở nên cần thiết. Điều này thể
13


hiện rõ tầm quan trọng của lĩnh vực KDVT trong nền kinh tế của mỗi quốc gia nói
chung và ở Việt Nam nói riêng.
Nhu cầu thiết yếu về việc di chuyển của con người và vận tải hàng hóa, cùng
với ý nghĩa quan trọng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa, thúc đẩy xã hội phát triển
thì việc hình thành nên những doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh về vận tải là điều tất
yếu - có cung thì sẽ có cầu. Đây là tiền đề cho sự ra đời hàng loạt các công ty vận
tải và các hãng giao nhận vận tải làm cho thị trường kinh tế trở nên sôi động hơn.
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải
Thứ nhất, về doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường bộ.
Vận tải trở thành hoạt động kinh tế có mục đích của con người, nhằm hoán đổi
vị trí của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác một cách an toàn
và nhanh chóng bằng các phương tiện vận tải. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
“Giao thông vận tải rất quan trọng, quan trọng đối với chiến đấu, đối với sản xuất,
đối với đời sống nhân dân. Muốn chiến đấu tốt, muốn sản xuất tốt, muốn đời sống
nhân dân bình thường, thì giao thông vận tải phải làm tốt” – Trích Báo Nhân dân
ngày 23/04/1976.10 Vì vậy, vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phân
phối và lưu thông. Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, trong đó hệ thống giao thông
là các huyết mạch thì vận tải là quá trình đưa các chất dinh dưỡng đến nuôi các tế
bào của cơ thể sống đó.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong kinh tế, “vận tải là quá trình sản xuất đặc
biệt, không tác động đến đối tượng lao động mà chỉ tác động về mặt không gian lên
đối tượng chuyên chở.”11 Ở gốc độ kinh tế của chủ nghĩa Mác, vận tải được xem là

ngày 01/07/2009 thì, “vận tải đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện
giao thông đường bộ để vận chuyển người, hàng hóa trên đường bộ”. Đây là khái
niệm mới được Luật GTVT 2008 đề cập cùng với quy định chi tiết về quy hoạch
giao thông vận tải đường bộ được lập trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng và hội nhập. Cho thấy đường bộ là phương thức vận tải "xương sống"
trong hoạt động vận tải ở Việt Nam, chiếm khoảng 77% tổng lượng hàng hóa vận
chuyển của cả nước. Chi phí vận tải chiếm khoảng 60% tổng chi phí logistics tại
Việt Nam - Theo báo cáo của nhóm chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới.12
Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và
điều kiện KDVT bằng xe ô tô ban hành ngày 10/09/2014 nêu rõ, KDVT bằng xe ô
tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục
đích sinh lợi; bao gồm KDVT thu tiền trực tiếp và KDVT không thu tiền trực tiếp.13
KDVT thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo pháp luật quy định nên các
cá nhân, tổ chức kinh doanh lĩnh vực này cần nắm rõ các quy định để đảm bảo trong
quá trình hoạt động của mình. Trong đó, có KDVT hàng hóa bằng xe ô tô và năm
hình thức vận tải hành khách là: KDVT hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định;

12

Thảo Miên (2019), Phát triển bền vững ngành vận tải, hướng đến giảm chi phí logistics. Nguồn:
http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2019-03-29/phat-trien-ben-vung-nganh-van-taihuong-den-giam-chi-phi-logistics-69448.aspx ngày đăng 29/03/2019.
13
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải
bằng xe ô tô.

15


KDVT hành khách bằng xe buýt; KDVT hành khách bằng xe taxi; KDVT hành
khách theo hợp đồng; KDVT khách du lịch bằng xe ô tô.


16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status