VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HUY THỤC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ
Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HUY THỤC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ
Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN NGỌC NGOẠN
HÀ NỘI, năm 2019
Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 62
Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH ........................................... 64
3.1. Quan điểm , định hướng về phát triển,quản lý thủy điện ..............................64
3.2. Một số giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ
ở tỉnh Bình Định ...................................................................................................66
3.3. Một số kiến nghị ............................................................................................74
Tiểu kết chương 3...................................................................................................... 78
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DVMTR
Dịch vụ bảo vệ môi trường rừng
ĐTM
Đánh giá tác động môi trường
ĐCM
Đánh giá môi trường chiến lược
HĐND
Hội đồng nhân dân
gió, điện mặt trời chưa nhiều, chi phí nguyên liệu cho nhiệt điện đắt đỏ thì với tiềm
năng sông suối vốn có của mình, thủy điện là sự lựa chọn hàng đầu để tạo ra năng
lượng điện cho Tổ quốc.
Trong thời gian qua, các dự án thủy điện được chú trọng phát triển, đặc biệt
là các dự án thủy điện vừa và nhỏ đã đi vào hoạt động phục vụ, đóng góp một sản
lượng điện khá lớn cho mạng lưới điện quốc gia. Không thể phủ nhận sự đóng góp
của thủy điện nói chung, thủy điện vừa và nhỏ nói riêng cho nền kinh tế - xã hội.
Năm 2015, thủy điện chiếm khoảng 32% trong tổng sản xuất điện của cả nước, điều
này chứng tỏ thủy điện có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh về lĩnh vực
năng lượng, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
Các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khi đưa vào vận hành tại các địa phương
đã hỗ trợ rất lớn trong việc sử dụng các nguồn năng lượng thiên nhiên hiện có, cùng
với đó giúp tiết kiệm các nguồn nhiên liệu đang ngày càng khan hiếm như than,
dầu, khí; nông nghiệp thủy lợi, giao thông vận tải và sinh hoạt của người dân thông
qua điều hòa lượng nước tại các hồ chứa của nhà máy thủy điện, nhất là vào mùa
khô; đóng góp quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở những vùng khó
khăn, bảo vệ an ninh - quốc phòng, giúp ích rất nhiều cho việc phát triển kinh tế xã
hội của các địa phương. Thủy điện vừa và nhỏ hỗ trợ rất lớn trong việc tham gia
phòng chống lũ vào mùa mưa, các hồ chứa thủy điện tích cực vận hành, chủ động
điều tiết lưu lượng, góp phần đáng kể trong việc cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản
xuất và bảo vệ môi trường cho hạ du.
1
Bên cạnh những ưu điểm về mặt kinh tế thì phát triển thủy điện còn ẩn chứa
những nguy cơ khôn lường đối với môi trường và dân sinh trong vùng công trình
thủy điện. Việc phát triển ồ ạt thủy điện vừa và nhỏ từ vùng Tây Bắc đến miền
Trung lên thượng ngàn Tây Nguyên nhưng chưa chú trọng đến lợi ích xã hội, môi
trường sinh thái đã gây ra những hệ lụy không hề nhỏ. Thủy điện đã làm mất rừng
Tỉnh Bình Định là một tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ vừa mang đặc điểm địa
hình của vùng ven biển và địa hình đồi núi Tây Nguyên vừa có hệ thống sông ngòi
dày đặc lại trong vùng nóng ẩm mưa nhiều nên có rất nhiều lợi thế để phát triển
thủy điện, nhất là thủy điện vừa và nhỏ. Theo đánh giá của các chuyên gia trong
lĩnh vực thủy điện thì trữ năng phát triển thủy điện của Bình Định vào diện cao
trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Tuy nhiên, công tác thực hiện chính
sách quản lý thủy điện của tỉnh còn nhiều bất cập: việc lập quy hoạch và quản lý
quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ còn chưa khoa học phải thường xuyên rà soát điều
chỉnh; quản lý đầu tư xây dựng công trình thủy điện chưa thật sự hiệu quả dẫn đến
nhiều công trình bị chậm tiến độ thi công; công tác kiểm tra giám sát còn mang tính
hình thức.
Có thể khẳng định rằng có được chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ
đúng đắn mới chỉ là “điều kiện cần” để đưa chính sách vào cuộc sống. Việc tổ chức
thực thi là “điều kiện đủ” để chính sách đạt hiệu quả cao nhất, mang lại lợi ích thiết
thực nhất cho địa phương. Nói như vậy để thấy rõ mối quan hệ có tính quyết định
giữa các khâu trong quá trình thực thi chính sách. Do đó, xuất phát từ tầm quan
trọng và sự cần thiết của hoạt động quản lý cũng như mối quan tâm cá nhân đối với
thủy điện vừa và nhỏ, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách quản lý thủy điện
vừa và nhỏ ở tỉnh Bình Định hiện nay” để thực hiện luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của luận văn
Thủy điện và quản lý thủy điện nói chung, thủy điện vừa và nhỏ nói riêng là
đang là vấn để nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước, người dân,
doanh nghiệp đầu tư dự án thủy điện… Thông qua các chính sách quản lý về thủy
điện nói chung, chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ nói riêng, Đảng và Nhà
nước ta đã kịp thời nắm bắt tình hình phát triển, bên cạnh đó có hướng đi đúng đắn
và phù hợp trong thời gian tới nhằm tận dụng tối đa lợi thế về nguồn tài nguyên
3
hiện có. Chính vì vậy, đây là vấn đề được các cơ quan nhà nước, chuyên gia, nhà
“Nhìn lại công tác quản lý nhà nước về thủy điện ở Việt Nam” cũng là một
bài viết được đăng trên trang Báo Năng lượng (9/2014) của tác giả Nguyễn Tâm đã
nhìn nhận những nỗ lực của Nhà nước trong vai trò quản lý thủy điện và nêu rõ
những hạn chế của công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác
công trình thủy điện hiện nay.[28]
Nhân Hà với bài viết “Thủy điện vừa và nhỏ thúc đẩy phát triển năng lượng
tái tạo” được đăng trên Báo Nhà đầu tư (10/2017) với thông tin được đề cập tại
buổi Hội thảo "Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ, phát triển năng lượng tái tạo: An
toàn - hiệu quả - bền vững" do Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học
và Công nghệ, Viện Kinh tế Việt Nam được tổ chức ngày 5/10/2017 tại Hà Nội.
Với quan điểm “Để đảm bảo đủ nguồn điện cho phát triển kinh tế xã hội với mức
tăng trưởng cao, khuyến khích thu hút đầu tư phát triển nguồn điện, Bộ Công
Thương cũng đã tham mưu cho Chính phủ các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát
triển các nguồn năng lượng tái tạo khác. Điển hình là cơ chế giá điện mặt trời, điện
gió, điện sinh khối, chất thải rắn... theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về
Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050 tại Quyết định số 2050/QĐ-TTg ngày 25/11/2015; Điều chỉnh Quy
hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến 2030 tại Quyết
định 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016” đã cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển
thủy điện vừa và nhỏ, cùng với đó là sự giảm tải gánh nặng cho các nhà máy thủy
điện với sự phát triển chung các nguồn năng lượng tái tạo khác.[17]
Đào Đình Châm (2019), Đánh giá ảnh hưởng của các công trình thủy điện
đến tài nguyên nước trên lưu vực sông Srêpốk, được đăng trên Tạp chí Địa lý nhân
văn số 2/2019, đã chỉ rõ những nguyên nhân của tình trạng phát triển thủy điện
không bền vững ở lưu vực sông có nhiều, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do cách
quản lý của con người. Cụ thể: Quy hoạch các nhà máy thủy điện ở lưu vực sông
thời gian qua không có sự lồng ghép giữa quy hoạch thủy lợi và quy hoạch thủy
điện; Không nên chia cắt theo địa giới hành chính: Trong các Quyết định về phê
duyệt quy hoạch các dự án nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khu vực miền Trung như
Tóm lại, thủy điện vừa và nhỏ được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau
nhưng việc tiếp cận ở góc độ thực hiện chính sách còn chưa được đi sâu nghiên cứu
6
tìm hiểu. Mặt khác, trên địa bàn tỉnh Bình Định vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào
tiếp cận đến chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ. Chính vì vậy, đề tài “Thực
hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ ở tỉnh Bình Định hiện nay” sẽ là
một đề tài mới, bổ sung lý luận và thực tiễn cho thực hiện chính sách quản lý và có
tính ứng dụng thực tiễn cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận, kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách
quản lý thủy điện vừa và nhỏ;
- Đánh giá được thực trạng về thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và
nhỏ ở tỉnh Bình Định; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những
hạn chế, bất cập;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cho việc thực hiện hiệu quả chính
sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ thời gian tới trên địa bàn tỉnh Bình Định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn cần tập trung thực hiện nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thực hiện
chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ.
Thứ hai, khảo sát, phân tích được thực trạng về thực hiện chính sách quản lý
thủy điện vừa và nhỏ hiện có trên địa bàn tỉnh Bình Định thời gian qua; đánh giá
được tác động của chúng đối với môi trường và kinh tế - xã hội của địa phương;
phân tích được những thành tựu, hạn chế bất cập trong việc thực hiện chính sách và
nguyên nhân của hạn chế bất cập;
Thứ ba, từ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, bất
cập, đề xuất cụ thể những được phương hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả
nước với thực tế tỉnh Bình Định.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về thủy điện vừa và nhỏ, công tác
thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ làm cơ sở cho các nhà quản lý
trong việc hoạch định chính sách phát triển thủy điện vừa và nhỏ.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận
và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ ở
vùng miền núi nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng.
8
6.2. Về mặt thực tiễn
Đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ
trên địa bàn tỉnh Bình Định thời gian qua; đánh giá được nội dung và tác động của
chúng đối với môi trường và kinh tế - xã hội của địa phương; phân tích được những
thành tựu, hạn chế bất cập trong việc thực hiện chính sách và nguyên nhân của hạn
chế bất cập;
Đề xuất phương hướng và các giải pháp đồng bộ có tính khả thi để góp phần
thực hiện hiệu quả chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Bình
Định thời gian qua và trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được kết cấu trong ba chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực hiện chính sách
quản lý thủy điện vừa và nhỏ cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và nhỏ ở
tỉnh Bình Định
Chương 3: Giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách quản lý thủy điện vừa và
nhỏ ở tỉnh Bình Định
nguồn năng lượng tái tạo thì thủy điện nhỏ có công suất lắp máy lớn hơn hoặc bằng
1MW và nhỏ hơn hoặc bằng 30MW.[3]
10
Từ đó, các công trình thủy điện nhỏ có công suất lắp máy lớn hơn hoặc bằng
1MW và nhỏ hơn hoặc bằng 30MW và các công trình thủy điện vừa có công suất
lắp máy lớn hơn 30MW và nhỏ hơn hoặc bằng 100MW.
1.1.2. Đặc điểm của thủy điện vừa và nhỏ
Nhìn chung, thủy điện vừa và nhỏ vừa có những nét tương đồng vừa mang
những đặc điểm rất khác biệt so với thủy điện lớn. Chính những đặc điểm này đã
tạo nên những nét riêng cho dạng thủy điện này.
Thứ nhất, thủy điện vừa và nhỏ có quy mô thủy điện không lớn.
Quy mô của các công trình thủy điện vừa và nhỏ thường là có các con đập
hình thành không cao, khối lượng xây dựng công trình thủy điện nhỏ cùng với các
đường hầm thấp và công suất lắp đặt của máy phát điện là dưới 30 MW. Tổ máy
của thủy điện vừa và nhỏ có số lượng thông thường từ 2 đến 3 tổ máy, máy biến áp,
trạm phân phối điện và cần đường dây tải điện là 35 kV hoặc 110 kV.
Với đặc điểm đó, các nhà đầu tư triển khai thi công và vận hành với mục tiêu
hoàn thành nhanh, sớm. Trong đó, thời gian thi công các nhà mày thủy điện vừa và
nhỏ ngắn vào khoảng 2 đến 3 năm là có thể đưa nhà máy vào vận hành phát điện.
Thứ hai, diện tích lưu vực của thủy điện là nhỏ.
Thủy điện vừa và nhỏ sử dụng các hồ chứa nhỏ với dung tích nước nhỏ hoặc
các nhà máy không sử dụng hồ chứa. Nhờ việc xây dựng trên các con sông, suối,
đại đa số các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ hoạt động nhờ lưu lượng nước cơ bản
được hình thành từ đập dâng.
Chính điểm này là “Gót chân Achilles” của thủy điện vừa và nhỏ. Do được
xây dựng trên các sông suối nhỏ nên thủy điện vừa và nhỏ thường không có hồ chứa
hoặc có hồ chứa với dung tích nhỏ nên chỉ làm được nhiệm vụ phát điện. Khi lượng
giá thành của các loại nhiên liệu như than đá, dầu mỏ, khí hóa lỏng của nhiệt điện
hay nhiên liệu Uranium để vận hành nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, nhà máy
thủy điện sử dụng chi phí rất thấp khi đưa vào hoạt động do được tự động hóa cao.
Thứ hai, hiệu quả về môi trường. Thủy điện dùng năng lượng là năng lượng
tái tạo, không phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như nhiệt điện ảnh hưởng khí hậu
toàn cầu. Một số công trình nghiên cứu đã xếp thủy điện vào vị trí ít tạo ra khí thải
nhà kính nhất, tiếp đến là điện gió, điện hạt nhân và cuối cùng là điện mặt trời. Do
đó có thể coi đây là nguồn năng lượng sạch.
12
Thứ ba, thủy điện vừa và nhỏ góp phần điều tiết nước sinh hoạt, sản xuất cho
hạ du, đưa những vùng đất hoang hóa cằn cọc thành những ruộng vườn màu mỡ,
xanh tốt. Các nhà máy thủy điện nhỏ đã cùng với các hồ thủy lợi làm tốt nhiệm vụ
cải tạo đất, điều tiết nước, dẫn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh
hoạt. Đây cũng là địa điểm thích hợp để phát triển du lịch sinh thái với phong cảnh
hữu tình góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Thứ tư, các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đã góp phần cùng chính quyền địa
phương trong phong trào xây dựng Nông thôn mới. Do được phát triển ở địa bàn
vùng sâu vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn về kinh tế xã hội nên việc xây dựng
nhà máy thủy điện đã kéo theo việc xây dựng các công trình giao thông như đường
xá, cầu cống; đường dây dẫn điện… Đồng thời, thông qua xây dựng các nhà máy
thủy điện vừa và nhỏ, người dân địa phương nhận được cơ hội có công ăn việc làm,
phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho công trình.
Do đó, không thể phủ nhận việc các nhà máy thủy điện đưa vào vận hành đã
đóng góp một phần lớn vào nguồn thu ngân sách của các tỉnh có công trình thủy
điện. Thêm vào đó, nguồn điện tạo ra đã góp phần điện khí hóa nông thôn, đưa điện
về tận các bản, làng, các địa phương có địa hình hiểm trở và trở thành trợ lực để
thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, các nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng của địa
phương và đất nước.
nước, sự biến đổi địa chất kéo theo nguy cơ động đất luôn gây bất an cho cư dân
vùng hạ du công trình thủy điện. Thực tế chứng minh động đất đã xảy ra tại khu vực
huyện miền núi Bắc Trà My, Nam Trà My tỉnh Quảng Nam là động đất kích thích
từ việc tích nước của thủy điện Sông Tranh 2 gây ra.
Thứ tư, việc xây dựng các công trình giao thông dẫn vào nhà máy thủy điện
đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc phá rừng với tần suất và quy mô lớn
hơn. Nếu trước đây chúng phá rừng nhỏ lẻ thì với đường giao thông xây dựng sẵn,
lâm tặc có thể ngang nhiên dùng xe công nông kéo gỗ ra khỏi rừng một cách tiện lợi
và không phải lén lút luồn rừng như trước.
Trước những tác động trên, chính quyền địa phương cùng với các bộ ngành
phải có sự nghiên cứu kĩ lưỡng, cân đối giữa các lợi ích trước khi tiến hành quy
hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành, khai thác công trình thủy điện nói chung, thủy
điện vừa và nhỏ nói riêng.
14
1.2. Một số vấn đề lý luận thực hiện chính sách quản lý thủy điện vừa và
nhỏ
1.2.1. Một số khái niệm nghiên cứu
- Khái niệm chính sách:
Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian
nhất định trên những lĩnh vực cụ thể.”[34]
Chính sách có khái niệm như là “một cách hay một quan điểm hành thực
hiện được đặt ra bởi cơ quan nắm quyền, tổ chức chính trị, cơ quan tổ chức hay cá
nhân” - Theo Từ điển Oxford.[38]
Chính sách là bất cứ việc làm do các tổ chức thực hiện việc hành pháp hoặc
các tổ chức công chọn để thực hiện, hoặc không thực hiện. Theo quan điểm của học
giả Colebatch, việc thực hiện hoặc không thực hiện cũng ảnh hưởng đến các vấn đề
diễn ra trong xã hội.[39]
Theo PGS.TS. Văn Tất Thu, Chính sách công là chính sách của nhà nước đối
với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính
trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử
sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân
dân. [29]
Theo Đỗ Phú Hải (2014), chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị
của một nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực
hiện để giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính
trị cầm quyền. [20]
Như vậy, có thể định nghĩa chính sách công là cách thức hành động do nhà
nước lựa chọn và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để giải
quyết một vấn đề phát sinh trong một giai đoạn nhất định, định hướng cho xã hội
phát triển một cách thống nhất theo mong muốn của nhà nước. Nội dung của một
chính sách có thể được ghi nhận lại dưới nhiều hình thức khác nhau (vật mang
chính sách) như các văn bản quy phạm pháp luật, các bài phát biểu của lãnh đạo,
các báo cáo tường trình…. Tuy nhiên hình thức thể hiện quan trọng nhất của các
chính sách công chính là pháp luật hay nói cách khác, pháp luật chính là sự thể chế
hóa về mặt nhà nước của chính sách.
16
Chính sách công được xem là một trong những công cụ thực hiện hiệu quả
công tác quản lý trên mọi mặt đời sống xã hội. Với một hệ thống có sự liên kết mật
thiết, chính sách công sẽ hướng tới hoàn thiện sự phát triển của quốc gia thông qua
giải quyết tốt nhất các vấn đề của xã hội, ảnh hưởng tới các hoạt động của các đối
tượng trong xã hội để định hướng cho các hoạt động này theo mong muốn của nhà
nước. Tuy nhiên, để chính sách công thực sự là công cụ thúc đẩy sự phát triển xã
hội, nhà nước khi ban hành và thực thi chính sách công cần nghiên cứu và xem xét
các quy luật vận động khách quan của xã hội, không chỉ dựa vào ý chí chủ quan của
nhà nước.
vừa và nhỏ do ngành Công thương tỉnh phụ trách quản lý.
Ban hành các phương án về bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong việc thu hồi
đất để xây dựng công trình thủy điện và trồng rừng thay thế diện tích rừng đã mất
do làm công trình thủy điện và quản lý theo dõi việc đóng phí dịch vụ môi trường
rừng (DVMTR) của các chủ đầu tư.
Hai là, công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch thủy điện vừa và
nhỏ
Công tác lập quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ được tiến hành nhằm khảo sát
các vị trí có trữ năng phát điện nhằm đưa vào quy hoạch thủy điện chung của địa
phương. Đồng thời, công tác này đảm bảo quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ của địa
phương phù hợp với quy hoạch bậc thang thủy điện và quy hoạch thủy điện chung
của cả nước đã được cấp có thẩm quyển phê duyệt.
Theo thẩm quyền được phân cấp, UBND tỉnh có thẩm quyền lập quy hoạch
thủy điện nhỏ trên địa bàn tỉnh. Đối với dự án thủy điện nhỏ nằm trên địa bàn từ 2
tỉnh trở lên, UBND tỉnh nơi dự kiến bố trí nhà máy thủy điện thống nhất với UBND
các tỉnh có liên quan để tổ chức lập quy hoạch. Trường hợp UBND các tỉnh liên
quan không thống nhất, UBND tỉnh nơi dự kiến bố trí nhà máy thủy điện có văn bản
báo cáo Bộ Công Thương xem xét giải quyết.
Lập quy hoạch và quản lý quy hoạch thủy điện phải dựa trên các quy định
hiện hành về xây dựng, tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và các quy định khác
có liên quan.
Trong quá trình quản lý quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ đã lập cần rà soát,
điều chỉnh, bổ sung, loại bỏ khỏi quy hoạch những dự án thủy điện không có tính
khả thi về kinh tế và không đảm bảo các điều kiện về môi trường.
18
Ba là, quản lý đầu tư xây dựng các dự án thủy điện vừa và nhỏ
Quản lý công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thi công xây dựng công
trình theo quy định của pháp luật. Đồng thời, quản lý việc thay đổi tư cách pháp