ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG HOÀI NAM
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020
CHO HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
iv
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................18
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................18
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................................18
2.2. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................18
Nội dung 1. Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của huyện Xuân Trường ảnh
hưởng đến quy hoạch sử dụng đất ............................................................................18
Nội dung 2. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2018
của huyện Xuân Trường ............................................................................................18
3.2.2. Kết quả thực hiện Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2018 của huyện
Xuân Trường ............................................................................................................36
3.3. Đánh giá của người sử dụng đất về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2015 - 2018 ..............................................................................................................45
3.3.1. Đánh giá công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất của huyện Xuân
Trường giai đoạn 2015 - 2018...................................................................................45
3.3.2. Đánh giá về kết quả thực hiện so với khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất...47
3.3.3. Đánh giá về ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự
phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương ............................................47
3.3.4. Đánh giá về những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện công tác QHSDĐ
và áp dụng các văn bản mới liên quan đến QHSDĐ theo ý kiến của cán bộ
ngành tài nguyên và môi trường ...............................................................................49
3.4. Định hướng kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Xuân Trường ..............54
3.4.1. Quan điểm và định hướng sử dụng đất của huyện Xuân Trường đến năm 2020 ..54
3.4.2. Định hướng kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Xuân Trường. .......56
3.4.3. Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất đến năm 2020 ..................................71
3.4.4. Kế hoạch thu hồi đất đến năm 2020 ................................................................74
3.4.5. Kế hoạch đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng đến năm 2020 ..........................76
3.5. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp .............................................77
3.5.1.Những thuận lợi ...............................................................................................77
3.5.2. Những khó khăn, tồn tại ..................................................................................78
3.5.3. Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch sử dụng đất đã
được duyệt .................................................................................................................78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................83
PHỤ LỤC .................................................................................................................85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Tài nguyên và Môi trường
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất 2011-2015 ..............................33
Bảng 3.2. Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2018 .........................37
Bảng 3.3. Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2018 ....39
Bảng 3.4. Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến
năm 2018 .................................................................................... 41
Bảng 3.5. Thông tin về quy hoạch sử dụng đất và việc xây dựng quy hoạch của
huyện Xuân Trường theo ý kiến người dân trên địa bàn .......................45
Bảng 3.6. Những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện công tác QHSDĐ và áp
dụng các Văn bản mới liên quan đến QHSDĐ ......................................49
Bảng 3.7. Kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Xuân Trường ......................56
Bảng 3.8. Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất đến năm 2020 huyện
Xuân Trường ..........................................................................................71
Bảng 3.9. Kế hoạch thu hồi đất đến năm 2020 huyện Xuân Trường .......................74
Bảng 3.10. Kế hoạch đất chưa sử dụng vào sử dụng đến năm 2020 huyện
Xuân Trường ..........................................................................................76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước có quyền định đoạt về đất đai và điều tiết các
nguồn thu từ việc sử dụng đất.
Theo Điều 3, Luật đất đai năm 2013 “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ
và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh
tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu
trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với
từng vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác
định”. Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 22 Khoản 4 quy định "Quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai". Công tác
lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả nước luôn được
quan tâm triển khai rộng khắp và đã đạt được một số kết quả nhất định trong những
năm gần đây, đặc biệt là sau khi Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đi
vào cuộc sống.
Tuy nhiên, tại mỗi địa phương, quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập. Việc lập Quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) được thực hiện theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
2
các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật
đất đai năm 2013 quy định không thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã.
Ngoài ra, việc lập quy hoạch sử dụng đất đối với các dự án, công trình xây dựng ở
các cấp thiếu đồng bộ, chưa thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng, giữa quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết.
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu
(2011-2015) huyện Xuân Trường được Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định phê duyệt
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở pháp lý của đề tài
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về
quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất;
- Quyết định số 2341/QĐ-TTg Ngày 02/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Văn bản số 2343/TTg-KTN ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Thủ tướng
chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp tỉnh Nam
Định đến năm 2020;
- Nghị quyết số 135/NQ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ về
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối
(2016-2020) tỉnh Nam Định;
- Quyết định số 1531/QĐ-UBND ngày 10/10/2012 của UBND tỉnh Nam
Định phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Nam Định
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 1721/QĐ-UBND ngày 13/10/2011 của UBND tỉnh Nam
Định về việc phê duyệt kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn
2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Kế hoạch sử dụng đất huyện Xuân Trường năm 2015, 2016, 2017, 2018.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
5
1.2. Một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước
Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị tăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực
đô thị mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước. Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu
sử dụng đất đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất
sản xuất nông nghiệp sang các mục đích khác.
Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường thường xuyên được nhấn mạnh
trong quy hoạch. Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng đất
và các xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối liên kết trung ương và địa
phương trong quản lý môi trường (Yohei Sato, 1996).
Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda cho rằng “cơ sở của sự phát triển nông thôn là
cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn. Quá trình phát triển kinh tế
(hiện đại hoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên
nhân của những thay đổi sử dụng đất; Kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được
chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp, đặc biệt dành cho các ngành công
nghiệp sản xuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác” (Azizi, 2005).
Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng
phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính.
Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh,
giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh
căn bản để phát triển. Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã
phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu.
một số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền
như cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp. Từ
năm 1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để
khẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm
1953, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật
Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953). Mục đích cải cách ruộng đất là
tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải
phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Phương
châm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật
tự, có lãnh đạo chặt chẽ. “Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua chia hẳn
cho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó, theo nguyên tắc xã làm đơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
7
vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng
đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu cố
những nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy” (Hồ Chí Minh, 2003). Làm
đầy đủ những nội dung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất
đai mà cụ thể là trong lĩnh vực nông nghiệp.
Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế
sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất, tiếp đến là cải tạo
xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư
bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp. “Trên toàn
Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành
quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự
giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài” (Hồ Chí Minh, 2003). Đây là thời kỳ quy
hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống
bản trên phạm vi cả nước. “Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được các
phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản
của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương
trình Chính phủ xem xét phê duyệt” (Nguyễn Dũng Tiến, 2005). Cùng với lĩnh vực
nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông…
cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới. Thực tế lúc bấy giờ cho thấy
các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và
cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập
khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính
toán trong các phương án này không được bảo đảm. Rất nhiều phương án tính toán
diện tích cây trồng chủ lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… trong
cùng một địa bàn cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi. Đây cũng là một trong
những yếu tố thúc đẩy việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số
548/NQ/TVQH ngày 24/5/1979 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về phê chuẩn việc
thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ; Nghị
định số 404/CP ngày 09 tháng 11 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất).
Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung
ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng
nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp
(tháng 9/1979); xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (tháng 10/1979); thông báo về
“khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng
(1980). Đặc biệt phải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
9
khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác
10
vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất, làm cho quy
hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc sử dụng đất đai mà trở thành
một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đất đai
của các địa phương.
Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua
một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng
đất đai nói riêng, nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó
khăn lớn. Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, cùng với nhiều
vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng
đất đai lại rơi vào trầm lắng.
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của
quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổng cục Quản lý ruộng đất lần đầu tiên ban hành Thông
tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15 tháng 4 năm 1991 hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất
đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất,
chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các
văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai.
Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc
quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng. Căn cứ theo
Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng
đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh). Tuy nhiên, do chưa có
quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức,
Với những kết quả khả quan thu được, báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai cả nước đến năm 2010” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX tại kỳ họp
thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997); Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997 thông qua kế hoạch sử
dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước. Căn cứ Nghị quyết này, công tác quy hoạch
sử dụng đất đai tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy vậy cũng phải sau 7 năm, tức là phải
đến năm 2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số
29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kế
hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
12
Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, nội dung, phương pháp, trình tự lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp đã có những quy định cụ thể, rõ ràng và
mang tính pháp lý: Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Mục II Chương II (gồm 10
Điều, từ Điều 21 đến Điều 30), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định tại Chương II (gồm 18 Điều, từ Điều 12
đến Điều 29); Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng
6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành quy trình lập và điều
chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
ban hành Định mức sử dụng đất; Định mức, đơn giá điều tra, lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai các cấp.
Ngày 01 tháng 7 năm 2014 Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Đất đai; Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy
hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kế
hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất quy định tại
khoản 3 Điều 62 của Luật này trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm
của cấp huyện.
1.3.3. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện dưới sự phân bổ các chỉ
tiêu sử dụng đất của quy hoạch cấp tỉnh, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội để xác định nội dung quy hoạch, các nội dung cụ thể bao gồm:
+ Xác định các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch sử
dụng đất;
+ Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đã được phân bổ từ quy hoạch sử dụng
đất của cấp tỉnh cho cấp huyện trong kỳ quy hoạch và phân bổ đến từng đơn vị hành
chính cấp xã;
+ Xác định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực trong kỳ quy hoạch
đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
14
+ Tổng hợp nhu cầu sử dụng đất, cân đối để xác định các chỉ tiêu sử dụng đất
phân bổ đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
+ Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất theo khu chức năng.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở, thông qua việc khoanh định cụ
15
+ Lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện;
+ Giải pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
1.4. Những tiêu chí đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất
1.4.1. Mức độ phù hợp của các phương án quy hoạch sử dụng đất
Mức độ phù hợp của các phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch
phát triển của các ngành và các địa phương được thể hiện qua từng cấp như sau:
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của cả nước thì đánh giá mức độ phù hợp
của quy hoạch sử dụng đất của cả nước với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, quy hoạch phát triển của các
ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh thì đánh giá mức độ phù hợp của
quy hoạch sử dụng đất của tỉnh với quy hoạch sử dụng đất của cả nước, quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phát triển của các ngành tại
địa phương và các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh.
Trường hợp chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
thì đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất với định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh được thể hiện trong Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân.
- Đối với quy hoạch sử dụng đất của huyện thì đánh giá mức độ phù hợp của
quy hoạch sử dụng đất của huyện với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, định hướng phát triển của các đơn vị
hành chính cấp xã thuộc huyện.
Trường hợp chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xă hội của huyện
th́ đánh giá mức độ phù hợp của quy hoạch sử dụng đất với định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của huyện được thể hiện trong nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, nghị
quyết của Hội đồng nhân dân.
1.4.2. Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường