SKKN: Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana” - Pdf 58

Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”

MỤC LỤC
STT

Nội dung

Trang

1

Chú thích phần viết tắt

2

2

A.
I.
II.

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề.
Mục đích (Mục tiêu) nghiên cứu

3
3

3



Tài liệu tham khảo

1

15
15
16


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
CHÚ THÍCH PHẦN VIẾT TẮT
STT

Các chữ viết tắt

Nội dung

1

GD-ĐT

Giáo dục và Đào tạo

2

GV

Giáo viên


8



Quyết định

9

SGK

Sách giáo khoa

10

THCS

Trung học cơ sở

2


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Lý do lý luận
Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có
những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang
lứa. Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc

vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Hơn nữa hiện nay trong xã hội vấn nạn giáo viên
dùng nhiều biên pháp kỷ luật học sinh không còn mang tính giáo dục như: Bắt
học sinh đánh học sinh vi phạm, giáo viên cho học sinh uống nước của giẻ lau
bảng. Thậm chí giáo viên đánh đập học sinh vẫn còn xảy ra không ít và nhiều lý
do khác làm cho các em sợ thầy cô, ngại giao tiếp với thầy cô. Vì vậy tôi mạnh
dạn đưa nội dung giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số để
toàn thể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dụng vào việc giáo dục cho học
3


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
sinh trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana để giúp các em học tốt các môn
học, có tinh thần yêu trường, mến bạn, quí thầy cô và giúp các em luôn luôn cảm
thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc” để áp
dụng vào việc giáo dục học sinh DTTS tại trường PTDTNT THCS Krông Ana để
hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, đảm bảo duy trì sỉ số. Ngoài ra còn giúp các
em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
sống cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào
cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Mục đích:
Giáo dục kỷ luật tích cực góp phần giáo dục đạo đức lối sống cho học
sinh bởi vì mục đích của giáo dục kỷ luật tích cực là:
+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách
nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người
khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành vi
tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.

nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người
khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành vi
tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinh
không cảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra
mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ và
con cái.
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường, lớp tổ
chức.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận của vấn đề:
1. Kỷ luật là gì:
Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà con
người phải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật là
chìa khóa vạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộc
sống.
Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “
trừng phạt” đặc biệt trừng phạt thân thể. Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thực
của từ “kỷ luật” đối với học sinh.
2. Giáo dục kỷ luật tích cực là gì?
Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinh
được coi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển. Nhiệm vụ quan
trọng của chúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tự

cách, chứ không phải làm cho các em bị đớn đau.
Giáo dục kỷ luật tích cực tôn trọng trẻ và không mang tính bạo lực. Đây là
cách tiếp cận mang tính giáo dục, giúp trẻ thành đạt, cung cấp cho các em thông
tin các em cần để học và hỗ trợ sự phát triển của các em.
*Giáo dục kỷ luật tích cực không phải là:
Sự buông thả, để cho học sinh muốn làm gì thì làm.
Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho
việc tát, đánh hay sỉ nhục.
II. Thực trạng
1.

Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh

Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tả
một số nội dung dưới đây:
1.1 Một số vấn đề về tri giác:
Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan.
Nghiên cứu đặc điểm tri giác của học sinh THCS người DTTS có thể rút
ra một số nhận xét sau:
Độ nhạy cảm của thính giác của các em rất cao, mắt các em rất tinh. Tai
và mắt của các em rất tinh nhạy là do từ nhỏ các em đã theo người lớn vào rừng
săn bắn, bẫy chim, tìm cây, tìm rau rừng… nên hình thành thói quen tri giác tập
trung, khả năng phân biệt sự vật và hiện tượng tốt. Nghe tiếng chim hót các em
có thể nhận ra đó là chim gì, nhìn vết chân các em biết đó là loài thú gì, các em
có thể phát hiện những con vật nhỏ bé như con vắt, con kiến… Giác quan tinh,
nhạy là điều kiện thuận lợi cho các em tri giác đối tượng trong học tập và biết
vâng lời thầy cô giáo.
6

thể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học;
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dân
tộc nhưng không phải là ngoại ngữ. Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếp
nhận với trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi. Vấn đề quan trọng là giáo
viên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại và khai thác
tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ khó khăn hay
quá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt đều là không
đúng với khoa học dạy tiếng.
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong
7


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
hiện thực khách quan mà trước đó chưa biết. Học sinh DTTS có các đặc điểm tư
duy riêng biệt sau:
Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,
ngại động não, khi gặp phải vấn đề khó khăn là các em bỏ qua, nên dẫn tới khả
năng tự học hạn chế. Vì vậy khi gặp vấn đề này thì trong quá trình giáo dục kỷ
luật giáo viên cần lưu ý.
Tư duy của học sinh DTTS còn thể hiện kém nhanh nhẹn, kém linh hoạt
và kém mềm dẻo. Mặt khác do hạn chế về Tiếng Việt nên ngại tranh luận, ngại
trình bày các vấn đề khó nói, sợ bị các bạn cười.
Học sinh DTTS tư duy trực quan hình ảnh tốt, tư duy trừu tượng logic yếu.


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân
đối. Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên,
tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong
đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục.
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp
huyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất
cần thiết.
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp
cho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối
tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
2. Thực trạng về cách giáo dục kỷ luật của một số giáo viên.
Khi chưa nắm biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu có học sinh vi phạm
các quy định, quy tắc của lớp, của trường thì có một số giáo viên trong trường
thường dùng biện pháp trừng phạt thân thể bao gồm: trừng phạt về thể xác (đánh,
véo, dùng vật để đánh, kéo tai, giật tóc, buộc học sinh phải ở trong một tư thế
không thoải mái (quỳ, úp mặt vào tường…) và trừng phạt về tinh thần (la mắng,
nhiếc móc, hạ nhục, làm cho xấu hổ, chửi rủa làm cho khó xử…)
Trừng phạt về thân thể hay trừng phạt tinh thần đều không phải là giáo dục
kỷ luật, trừng phạt làm đánh mất sự tự tin của học sinh, giảm ý thức kỷ luật và
khiến cho học sinh không thích, thậm chí căm ghét trường học.
Trừng phạt thân thể là việc làm đánh mất danh dự của học sinh, có thể để lại
những vết sẹo trong tâm hồn của học sinh, khiến các em luôn có thái độ thù địch.
Ảnh hưởng của trừng phạt đối với hành vi đạo đức lối sống của học sinh
DTTS:
+ Việc giáo viên trừng phạt thân thể đối với học sinh vô tình đem tới cho trẻ

Trước đây, đặc biệt năm học 2017 – 2018 do chưa áp dụng phương pháp
GDKLTC nên tình trạng học sinh tại trường bỏ học và chuyển trường tương đối
nhiều cụ thể tính đến tháng 2 năm 2018 có 6 HS chuyển trường, 3 Hs bỏ học.
III. Các giải pháp đã tiến hành:
1. Quan tâm đến những khó khăn của học sinh DTTS.
Những vấn đề về hành vi có thể khiến học sinh DTTS gặp khó khăn trong
học tập và những khó khăn trong học tập có thể gây ra những vấn đề về hành vi.
Khi có học sinh vi phạm giáo viên luôn quan tâm đến những vấn đề thực tế
mà các em phải đối mặt trong cuộc sống. Đây thường là những vấn đề có liên
quan đến môi trường, hoàn cảnh sống của các em, những khó khăn trong học tập
(học yếu, mắt kém, khó khăn về nghe, khó khăn về sử dụng Tiếng Việt) những
vấn đề về ở gia đình (hoàn cảnh kinh tế, cha mẹ bất hòa, ly hôn…) những bức
xúc khi các em bị tổn thương và bị hiểu lầm hay bị đối xử tàn tệ (bị chế nhạo,
xúc phạm, bị bắt nạt, bị bóc lột, hay lạm dụng) Nhiều khi chỉ vì muốn nhanh
chóng chấn chỉnh thái độ và cách cư xử của học sinh mà giáo viên bỏ qua việc
tìm hiểu “cốt lõi” của vấn đề.
2. Tăng cường sự tham gia của học sinh DTTS trong hoạt động xây
dựng nội quy lớp, trường học.
Biện pháp này nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc cho học sinh DTTS
tham gia vào quá trình ra quyết định trong lớp học. Cụ thể là việc tham gia xây
dựng nội quy lớp, quy định chế độ khen thưởng và xử phạt, học sinh tham gia
giám sát và thực hiện nội quy thông qua tổ chức cho các em cảm thấy có trách
nhiệm và thực hiện kỷ luật một cách tự giác hơn, giáo viên không cần nhắc nhở
và tránh được những sự cố trong lớp học.
Sau khi đã tổ chức hoạt động này, nội quy do học sinh xây dựng nói chung
đều có nội dung phù hợp với quy định chung của ngành và nhà trường, nhưng
với ngôn ngữ của học sinh DTTS nên gần gũi với các em hơn và các em chấp
nhận một cách dễ dàng và tự nguyện hơn. Không chỉ vậy, thông qua quá trình
10


thông tin này, giáo viên tự học hỏi và tích lũy kinh nghiệm giao dục học sinh mà
không dùng hình phạt.
+ Tổ chức các lớp tập huấn:
Các lớp tập huần, hội thảo luôn mang lại cho giáo viên những ý tưởng hay.
Lãnh đạo nhà trường thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn để giáo
viên nhận thức được mục đích việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích
cực, giúp họ chọn lọc, sáng tạo những hình thức giáo dục phù hợp với đối tượng
học sinh lớp mình.
+ Xây dựng cơ chế khuyến khích việc thực hiện các biện pháp giáo dục
tích cực
Nhà trường có cơ chế cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp giáo dục
tích cực. Cơ chế này được xây dựng trên cơ sở thống nhất của Hội đồng sư phạm
bao gồm đầy đủ các nội dung như kiểm tra giám sát việc thực hiện, khen thưởng,
11


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
tôn vinh những giáo viên thực hiện tốt, kỷ luật nghiêm khắc những giáo viên vi
phạm nội quy. Việc nhà trường thực hiện tốt cơ chế này sẽ đảm bảo tất cả học
sinh để được hưởng lợi ích của biện pháp giáo dục tích cực.
+ Tuyên truyền tới phụ huynh:
Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKLTC thông qua các buổi họp
phụ huynh đầu năm, kết thúc học kỳ I va cuối năm.
Mời phụ huynh tham gia vào quá trình thực hiện. Ví dụ: Lấy ý kiến của
phụ huynh đóng góp cho nội quy lớp. trường học để phụ huynh nắm được và
phối hợp với nhà trường trong việc theo dõi, giám sát thực hiện.
Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường, lớp tổ
chức.
IV. Tính mới của giải pháp

12


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
các biện pháp thay đổi cách cử xử, ít khi phải dùng đến biện pháp xử lý sai
phạm, vì mọi hành vi tiêu cực đã được ngăn chặn trước khi xảy ra. Có hai điều
quan trọng khiến giáo viên nên sử dụng biện pháp khen ngợi, động viên tích cực.
Thứ nhất, những học sinh có hành vi tốt được khen ngợi, khuyến khích vậy các
em tiếp tục hành động như vậy. Thứ hai, những hành động hoặc hành vi tiêu cực
được ngăn ngừa.
1.4 Làm gương trong cách cư xử
Làm gương trong cách cư xử có ý nghĩa hết sức quan trọng: Giáo viên là
tấm gương mẫu mực cho học sinh về tư cách đạo đức. Học sinh học và làm theo
những gì các em thấy từ cuộc sống và từ những thầy cô trong trường. Giáo viên
trong trường không dùng bạo lực dẫn đến không có học sinh sử dụng bạo lực.
Giáo viên cư xử một cách nhẹ nhàng, có lòng khoan dung, nhẫn nại và học sinh
đã học theo cách cư xử này.
2. Đối với học sinh:
Tính mới của Giáo dục kỷ luật tích cực trong việc giáo dục đạo đức lối
sống cho học sinh là:
+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách
nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người
khác. Nói cách khác giúp học sinh có một quá trình phát triển tư duy và có các
hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.

I.

Kết luận:

Để thực hiện mục tiêu này, một trong các hoạt động của đề tài là tập huấn,
tuyên truyền vận động giáo viên các trường DTNT chấm dứt sử dụng các hình
thức trừng phạt thân thể và tinh thần học sinh, khuyến khích áp dụng các biện
pháp giáo dục kỷ luật trong việc quản lý lớp học và giảng dạy hàng ngày.
Qua một thời gian áp dụng tại trường, thông tin phản hồi cho thấy việc áp
dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đã mang lại những thay đổi tích cực
trong nhà trường đó là giảm thiểu các hiện tượng giáo viên mắng, trách phạt học
sinh, tạo ra bầu không khí cởi mở thân thiện, cải tiến mối quan hệ thầy trò; học
sinh trở nên ngoan hơn, có ý thức kỷ luật tốt hơn, dẫn tới kết quả học tập tốt hơn.
Nếu thầy cô giáo nào tâm huyết thì đề tài này áp dụng được vào các trường
THCS có nhiều học sinh dân tộc thiểu số. Ngoài ra nếu nghiên cứu thêm tâm
sinh lý của lứa tuổi học sinh THCS thì đề tài sẽ áp dụng được vào các trường
THCS. Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng đề tài sẽ có bất cập, bởi vậy tôi
muốn lắng nghe ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Rất mong ý kiến phản hồi.
II.

Kiến nghị

Một sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng được cho nhiều năm và cũng
có thể nhiều năm mới có một sáng kiến kinh nghiệm, do vậy tôi đề nghị các cấp
của ngành Giáo dục và Đào tạo nên nghiên cứu và giải quyết hai vấn đề sau:
+ Vấn đề thứ nhất: Khi một sáng kiến kinh nghiệm có giải cao nên tổ chức
thành chuyên đề để áp dụng và nhân rộng.
+ Vấn đề thứ hai: Khi một sáng kiến kinh nghiệm có giải cao nên cho tác
giả đó được bảo lưu từ 1 – 2 năm. Nếu một năm viết một sáng kiến kinh nghiệm

Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư
phạm

2

Một số đặc điểm tâm lý của HSDT cấp
THCS

3

Giáo trình tâm lý học đại cương

4

Nghiên cứu về chuyển tiếp từ Tiểu học
lên THCS của trẻ em người DTTS

16

Tên tác giả

NXB

Lê Văn Hồng

Hà Nội

Hà Đức

Giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status