Hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động làm việc tại KCN HANAKA, tỉnh bắc ninh - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ MỸ LINH

HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC
SỨC KHỎE TINH THẦN CHO CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
LÀM VIỆC TẠI KHU CÔNG NGHIỆP HANAKA,
TỈNH BẮC NINH

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi,
chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các số liệu, nội dung
được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy
định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả

Hà Mỹ Linh


KẾT LUẬN................................................................................................................................ 78


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNLĐ

Công nhân lao động

CTXH

Công tác xã hội

KCN

Khu công nghiệp

SKTT

Sức khỏe tinh thần


DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu là CNLĐ ......................................................37
gặp vấn đề về SKTT...........................................................................................................37
Bảng 2.2. Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ chăm sóc SKTT cho CNLĐ ..............42
Bảng 2.3. Mức độ hiệu quả của hoạt động truyền thông .................................................48
Bảng 2.4. Mức độ hiệu quả của hoạt động tham vấn với CNLĐ ...................................52
gặp vấn đề về SKTT...........................................................................................................52
Bảng 2.5. Mức độ hiệu quả của hoạt động giáo dục ........................................................55

đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động.
Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, tính đến cuối năm 2018
cả nước có khoảng 15,7-16 triệu lao động trong các loại hình doanh nghiệp (công nhân
lao động) [2]. Hiện nay, cả nước có 289 khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX)
đang hoạt động và 98 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt
bằng, dự kiến sẽ thu hút khoảng 2,1 - 2,2 triệu lao động. Điều này đã góp phần làm
thay đổi mọi mặt đời sống của người dân, tuy nhiên trái với mặt tích cực đó vẫn còn
tồn tại nhiều mặt hạn chế.

1


Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu công nhân và Công đoàn, tổng thu
nhập trung bình của công nhân lao động trong các doanh nghiệp dao động từ 4,5 triệu5 triệu đồng/1 tháng [1]. Với tình hình lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh
như hiện tại, mức lương này cũng chỉ thỏa mãn được 70% nhu cầu sống của họ, chủ
yếu về lương thực, tiền thuê nhà, đi lại, may mặc, sinh hoạt cá nhân. Để kiếm thêm thu
nhập, ngoài thời gian lao động chính, đại bộ phận công nhân Việt Nam còn làm thêm
ca, thêm giờ. Do vậy, họ thiếu nhiều điều kiện để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa
tinh thần như vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, học tập, giao lưu…. Phần lớn công nhân tại
các KCN, khu chế xuất đang sống trong môi trường ba không: không ti-vi, không sách
báo, không internet... Bên cạnh đó, áp lực của công việc và làm thêm giờ, nhiều công
nhân cả tháng trời không biết đến tivi, sách, báo. Điều đó có nghĩa, người lao động
không chỉ lo "đói" trong khẩu phần ăn hằng ngày để có đủ sức làm việc, mà còn "đói"
cả về văn hóa. Những vấn đề này ảnh hưởng rất tiêu cực tới sức khỏe tinh thần của
công nhân lao động, nhiều người thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng hay
stress,... từ áp lực công việc, gia đình, các mối quan hệ tại nơi làm việc, thời gian làm
việc thường xuyên phải tăng ca, làm thêm giờ càng làm cho sức khỏe tinh thần của
công nhân lao động vốn đã không tốt lại dần trở nên suy giảm đi.
Nhằm rút ngắn và xóa dần những khoảng trống văn hóa của công nhân lao động,
nhiều KCN lớn đã chú trọng nhiều hơn đến đời sống tinh thần cho công nhân để dần

động văn hóa tại khu công nghiệp Khai Quang, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao đời sống văn hóa công nhân khu công nghiệp Khai Quang thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu đề tài được áp dụng tại địa phương sẽ góp phần vào việc
nâng cao đời sống văn hóa của công nhân khu công nghiệp Khai Quang và các khu
công nghiệp khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài khoa học cấp nhà nước ”Lối sống công nhân Việt Nam trong điều kiện
công nghiệp hóa” do PGS.TS Vũ Quang Thọ làm chủ nhiệm [11]. Dựa trên cơ sở lý
luận và thực tiễn về lối sống dân cư nói chung, lối sống công nhân nói riêng, trong mối
quan hệ trực tiếp, biện chứng với hoạt động sống và điều kiện sống, đề tài đã phân tích
thực trạng lối sống công nhân Việt Nam hiện nay, với nhiều biểu hiện đa dạng, phong

3


phú với các nhân tố tác động; những biểu hiện sinh động, trung thực của lối sống, nhất
là nhận thức, hành vi, ứng xử của công nhân trong lao động sản xuất; trong sinh hoạt
gia đình; trong hoạt động cộng đồng. Đề tài cũng nêu ra những giải pháp xây dựng lối
sống “công nghiệp, hiện đại” của công nhân Việt Nam trong những thập niên tới ,
trong đó cải thiện điều kiện vật chất, văn hóa tinh thần cho công nhân là một trong
những giải pháp trọng tâm.
- Đề tài "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của công nhân lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tỉnh
Hải Dương" do Liên Đoàn Lao Động tỉnh Hải Dương thực hiện [9]. Liên đoàn lao
động tỉnh đã tiến hành khảo sát các đối tượng liên quan và kết quả cho thấy thu nhập
của công nhân lao động không tương xứng với cường độ lao động thực tế, không đủ để
tái sản xuất sức lao động, cơ sở vật chất phục vụ công việc cũng như các hoạt động văn
hoá, thể thao của công nhân lao động còn thiếu thốn, điều kiện để công nhân tham gia
rất hạn hẹp... Đề tài đã đánh giá đúng về thực trạng còn tồn tại và đề xuất nhiều giải
pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân lao động trong các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

điểm, nhược điểm và những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức các hoạt động xã hội để
rút kinh nghiệm.
- Đề xuất những giải pháp hỗ trợ các hoạt động CTXH phù hợp với điều kiện
của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho
CNLĐ tại KCN HANAKA, tỉnh Bắc Ninh.
- Khách thể: CNLĐ làm việc tại KCN HANAKA, các cán bộ kiêm nhiệm công
tác xã hội tại doanh nghiệp cũng như tại tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu đúng thực trạng, kết quả và hạn chế trong
triển khai các hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho CNLĐ
thông qua việc đánh giá một số hoạt động : tổ chức thực hiện, tuyên truyền, giáo dục,
tham vấn tâm lý và kết nối nguồn hỗ trợ đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe tinh thần cho
CNLĐ.

6


- Không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại KCN HANAKA, tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: từ tháng 12/2018 – tháng 4/2019
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là một trong những phương pháp rất quan trọng trong mọi báo cáo cũng như
nghiên cứu, được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin có liên
quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Phương pháp này được sử dụng
trong suốt quá trình phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung, các đối tượng nghiên
cứu trong đề tài nghiên cứu như: trình độ học vấn của CNLĐ, tình hình thu nhập, sức
khỏe của CNLĐ, vấn đề nhà ở, các thiết chế văn hóa, các hoạt động vui chơi giải trí,

khu công nghiệp, những nhu cầu, mong muốn của bản thân công nhân lao động. Hiệu
quả của các hoạt động đang diễn ra tại địa bàn nghiên cứu và những hạn chế của hoạt
động đó.
Nên đặt những câu hỏi biểu thị sự quan tâm của cuộc điều tra đến công ăn việc
làm trước để tạo thoải mái, những câu hỏi đi sâu đến đời sống từng người xếp xuống
sau.
Phần cuối bảng hỏi thường là các câu hỏi về tuổi, nghề nghiệp,... Nó giúp kiểm
tra xem mẫu chọn có bị lệch trong quá trình nghiên cứu hay không?
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Là một phương pháp hữu hiệu trong việc thu thập thông tin. Thông qua các màn
đối thoại và vấn đáp trực tiếp. Nhờ việc người thu thập được tiếp xúc đối tượng sẽ giúp
cho người hỏi có được thông tin một cách chân thực và sống động nhất. Đồng thời có
thể hiểu được thái độ, quan điểm, phản ứng của đối tượng đối với vấn đề liên quan.
Nội dung các câu hỏi phỏng vấn sâu tường là những câu hỏi mở và được xây dựng
trên tiêu chí tìm hiểu thực trạng vấn đề, nhận thức và nhu cầu của người được phỏng
vấn đối với vấn đề đó. Người phỏng vấn phải thể hiện sự tôn trọng của mình với người
được phỏng vấn, tạo được mối quan hệ tin tưởng, đảm bảo sự an toàn cũng như quyền
lợi tốt nhất cho công nhân và những người xung quanh họ.
Đối tượng phỏng vấn bao gồm : 05 CNLĐ tại KCN HANAKA, 01 chủ doanh
nghiệp, 01chủ tịch công đoàn của doanh nghiệp.

8


- Phỏng vấn chủ doanh nghiệp, nội dung chủ yếu về:
+ Suy nghĩ của chủ doanh nghiệp về vấn đề chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
cho người lao động
+ Cách đầu tư, quan tâm cụ thể chăm lo đời sống tinh thần, đặc biệt là đời sống
SKTT cho CNLĐ
+ Đánh giá của chủ doanh nghiệp về hoạt động CTXH trong doanh nghiệp

- Kết quả của cuộc nguyên cứu này sẽ làm sáng tỏ và phong phú thêm về luận
điểm lý thuyết công tác xã hội nói chung và các lý thuyết được vận dụng trong đề tài
này nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp tác giả thấy được thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần cho CNLĐ tại
KCN HANAKA, các hoạt động CTXH đã diễn ra trong thực tiễn hỗ trợ cho CNLĐ và
những tác động ảnh hưởng đến hoạt động CTXH.
- Đây là cơ sở thực tiễn để công đoàn và chính quyền địa phương căn cứ vào đó
để có sự can thiệp, đề ra những chính sách kịp thời để đưa các hoạt động CTXH trong
chăm sóc sức khỏe tinh thần
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động công tác xã hội với công nhân
lao động
Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh
thần cho công nhân lao động tại KCN HANAKA, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Đề xuất giải pháp, khuyến nghị nâng cao các hoạt động công tác xã
hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
1.1. Lý luận về chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động
1.1.1. Khái niệm
* Khái niệm sức khỏe:
Theo tổ chức Y tế Thế giới(WHO) “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái,
toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ bao gồm có tình trạng không có

Mặt khác phải thấy rằng, sự tồn vong của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố
con người. Vậy nếu doanh nghiệp có nguồn nhân lực đạt yêu cầu để thực thi cho một
mục tiêu nào đó thì tất nhiên “sức khỏe tinh thần” của mỗi thành viên sẽ ảnh hưởng
hoặc tác động không nhỏ đến việc hoàn thành mục tiêu.
Kết luận chung lại theo quan điểm cá nhân của tôi, “Sức khỏe tinh thần là khái niệm
ám chỉ tình trạng tâm thần và cảm xúc tốt của mỗi cá nhân, là một trạng thái khỏe
mạnh mà trong đó, mỗi cá nhân nhận biết được khả năng của bản thân, có thể ứng phó
với sự căng thẳng thông thường, làm việc hiệu quả và có sự đóng góp cho cộng đồng”.
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe:
Trong cuốn “Quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu”, NXB Y học Hà Nội năm
1995 thì: Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt( nhu
cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí...), để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về
thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội.[7]
Có thể hiểu đơn giản, chăm sóc sức khỏe là việc chuẩn đoán, điều trị và
phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích và suy yếu về các mặt thể chất và tinh
thần và xã hội ở con người. Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người
hành nghề y như chỉnh hình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan và các
nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc.
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động:
Nói đến chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động thì chưa có một
định nghĩa nào rõ ràng cụ thể và chi tiết cho vấn đề này. Tuy nhiên theo quan điểm của
cá nhân tôi cho rằng: Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho công nhân lao động là cung cấp

12


những kỹ năng, những biện pháp chăm sóc sức khỏe cho người lao động, giúp đỡ, hỗ
trợ kịp thời cũng như đẩy mạnh công tác phòng ngừa cho họ có thể đưng đầu với
những rối loạn, lo âu, stress trong cuộc sống, công việc và các vấn đề của xã hội để họ
có thể vượt qua những thử thách, có một cuộc sống tinh thần lành mạnh và tích cực.

Nhận thức được rằng bản thân sẽ phải tự chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời của
mình. Nếu điều đó là trở ngại, có thể cân nhắc lựa chọn của mình và đưa ra quyết định.
Một người thụ động thường cảm thấy bị lấn át hoặc lạc lõng với khung cảnh
xung quanh, nơi mà người đó cảm thấy trơ ra và không làm được bất cứ việc gì. Tương
tự như vậy, một người hay phản ứng lại đơn giản là tự động họ sẽ phản ứng lại với mọi
thứ thay vì nhận thức sự việc và đưa ra quyết định.
Người thụ động hoặc người hay phản ứng lại hiếm khi nhận thức rằng chính họ
đang quyết định cuộc sống của họ. Người chủ động thì luôn lưu tâm đến cảm xúc của
họ, suy nghĩ của họ và động cơ của họ. Họ tận hưởng cuộc sống của họ, thậm chí nếu
đó là một thử thách.
- Suy nghĩ bằng lý trí
Thấy được hiện thực sự việc, biết chính xác khái niệm thực bằng cách phân tích
lý do, tính hợp lý, theo dõi và cảm nhận. Người không có lý trí, thậm chí nếu họ là
người rất logic, có thể cũng chỉ đưa ra được kết luận theo cảm nhận của họ và đó cũng
chỉ là cách nhìn thiển cận hoặc hoàn toàn lố bịch.
Duy trì nhận thức ở mức cao nhất, chấp nhận tình huống là bạn không bị đánh lừa
hoặc bạn không thể điều chỉnh cảm xúc.
Biết cách sống với thực tại mà không bị mắc kẹt trong quá khứ hoặc lo lắng liên
tục về tương lai.
- Đọc được cảm xúc và tự suy ngẫm về bản thân
Giữ được mối tương giao với cảm xúc của bản thân. Vì một lý do nào đó bản
thân có thể nhận thấy chính xác điều mà mình cảm thấy và điều đó nghĩa là trong mối
quan hệ của bạn với cuộc sống hiện tại của bạn.
Không sống vội. Giành thời gian nhìn lại và suy ngẫm về điều đang diễn ra bên
trong nội tâm và bên ngoài con người bạn. Nghĩ về điều đã xảy ra với bản thân trong

14


cuộc sống hoặc điều đang diễn ra và chủ động đưa ra quyết định về cách cư xử của cá


- Hướng đến sức khỏe bản thân
Thay vì tập trung vào điều mà bản thân không thể kiểm soát hoặc có mục đích to
lớn hơn hoặc xáo trộn mục tiêu, họ sống đơn giản vì sức khỏe và vì nhận thức cao nhất
có thể.
Không cố thay đổi mọi người xung quanh theo sở thích của bản thân, không cảm
thấy lo lắng bởi suy nghĩ của người khác về mình, chủ động tạo ra cuộc sống tốt hơn
cho mình và không gây sự với một ai khác, bắt đầu cuộc sống của chính mình và
không khí sống theo ý muốn.
- Không cảm thấy mình được cho đặc quyền
Chấp nhận không ai nợ bạn một thứ gì. Trên thực tế, mọi người cũng không
quan tâm về bạn.
Nếu bạn muốn thứ gì đó, bạn phải hành động để đạt được. Bạn cũng chấp
nhận rằng thỉnh thoảng cuộc sống không công bằng và không phải mọi người đều
bắt đầu giống nhau, bao gồm bạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng bạn
xử sự không công bằng với người khác.
- Giúp đỡ người khác hết mình
Căn bản là mọi người chịu trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Theo mặc
định, bạn không nợ ai bất cứ gì, giống người khác cũng không nợ bạn.
Người có SKTT tốt thì rất biết xem xét và hay giúp đỡ. Tuy nhiên, với họ
cho đi và giúp đỡ người khác là một hành động thể hiện sự tử tế, không phải là
một nghĩa vụ.
Bạn giúp người khác và quan tâm họ, nhưng bạn không cảm thấy bạn phải chịu
trách nhiệm cho sức khỏe của họ, giống như người khác không chịu trách nhiệm
với bạn.
- Có được mối quan hệ tốt
Nền tảng của mối quan hệ tốt là những ranh giới. Đối xử công bằng với
người khác, nghĩa là bạn yêu và tôn trọng họ và không lãng phí công sức cho
những người không đáng hoặc chịu đựng hành vi quấy rầy của họ.


thần, đó là được học tập, làm việc, nhu cầu được vui chơi giải trí, tham gia các

17


hoạt động tập thể, tham vấn tâm lý... những nhu cầu đó đều phản ánh hiện trạng
SKTT của CNLĐ đang ở mức độ nào, nếu nhu cầu của CNLĐ chưa được đáp ứng
đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến SKTT của họ. Như việc thường xuyên cảm
thấy stress, mệt mỏi, không tập trung trong giờ làm, các mối quan hệ của CNLĐ
tại nơi làm việc với nhau cũng sẽ đánh giá hiện trạng SKTT của họ. Ngược lại, khi
những nhu cầu chính đáng được đáp ứng sẽ là những động lực để CNLĐ cống
hiến tốt nhất những gì họ có cho công việc và xã hội.
1.2 Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh
thần cho công nhân lao động
1.2.1 Khái niệm công tác xã hội
Theo Từ điển Công tác xã hội (R.Barker), 1999, tr.455) “CTXH là một khoa
học ứng dụng nhằm giúp con người phát huy có hiệu quả chức năng của mình và
tạo ra những thay đổi xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi
người” [15].
Theo Hiệp hội những người làm công tác xã hội quốc gia (NASW): CTXH
là một hoạt động chuyên nghiệp trong việc giúp đỡ các cá nhân, tập thể hoặc cộng
đồng nhằm phục hồi khả năng của họ về chức năng xã hội nhất định và tạo ra
những điều kiện thích hợp cho mục đích này.[4]
Năm 2004, tại Canada, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp đã bổ
sung và khẳng định: CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay
đổi của toàn xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội
(vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) và quá trình tăng cường năng lực,
giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. CTXH đã giúp
con người phát triển hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi
người dân. [16]

biểu hiện về SKTT không tốt của CNLĐ, đưa ra những phán đoán ban đầu để tìm ra
sớm những dấu hiệu ở giai đoạn đầu, sau đó sẽ có những giải pháp và hướng giải quyết
phù hợp.

19


Nhân viên CTXH cần dựa vào những biểu hiện sau đây của CNLĐ như: CNLĐ
có dấu hiệu mệt mỏi, stress, thường xuyên cảm thấy không tập trung trong khi làm
việc, hiệu quả công việc giảm sút, hay cáu gắt với những người xung quanh; lộ vẻ lo
lắng, suy tư về cuộc sống cá nhân, hay phải sử dụng thuốc để giảm thiểu căng thẳng do
áp lực công việc dẫn đến mất ngủ, khó ngủ; có những thái độ không đúng mực với cấp
trên, luôn cảm thấy bất mãn về chế độ làm việc cũng như về tiền lương dẫn dến những
hành vi làm việc chống đối, làm qua loa cho xong; cảm thấy nặng nề với mỗi ngày đi
làm, luôn thiếu năng lượng và sự linh hoạt khi làm việc, xuất hiện những hành vi lệch
chuẩn như sử dụng chất kích thích để xả stress: hút thuốc, uống rượu, tụ tập gây mất
trật tự công cộng...
Nhân viên CTXH tiến hành quan sát thực tế kết hợp phân tích kết quả từ phiếu
điều tra bảng hỏi, lập hồ sơ đánh giá tổng thể để đưa ra nhận định ban đầu về hiện trạng
đang diễn ra và khoanh vùng các CNLĐ có những dấu hiệu liên quan đến hiện trạng
đó. Từ đó, tiến hành tiếp cận thường xuyên, thăm hỏi tình hình của CNLĐ, kịp thời
đưa ra phương hướng giải quyết những khó khăn và vấn đề mà các CNLĐ đang gặp
phải. Bên cạnh đó, có những phương pháp giúp giảm thiểu những lo âu, căng thẳng
của họ, cải thiện tích cực các mối quan hệ của CNLĐ với mọi người tại nơi làm việc và
xung quanh cuộc sống hàng ngày, giúp họ tự cân bằng cuộc sống và ổn định tâm lý.
Tiến hành song song là những hoạt động tham vấn, trị liệu tâm lý đối với CNLĐ có
những biểu hiện, hành động tiêu cực, đưa ra những phương pháp can thiệp mang tính
định hướng với những vấn đề đó.
1.2.3.2 Hoạt động truyền thông
Hoạt động truyền thông là một quá trình liên tục tương tác qua lại và chia sẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status