Đảng bộ huyện sóc sơn (thành phố hà nội) lãnh đạo phát triển kinh tế trang trại từ năm 2005 đến năm 2015 - Pdf 58

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THỊ NGỌC

ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠN
(THÀNH PHỐ HÀ NỘI) LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THỊ NGỌC

ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠN
(THÀNH PHỐ HÀ NỘI) LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. Ngô Thị Lan Hƣơng

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HĐND

: Hội đồng nhân dân

KHKT

: Khoa học kĩ thuật

KTTT

: Kinh tế trang trại

Nxb

: Nhà xuất bản

UBND


hình thức tổ chức, sản xuất khác nhau. Trong đó hình thức tổ chức sản xuất
theo mô hình KTTT phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả
cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nƣớc trên thế giới. KTTT là bƣớc
phát triển cao có tính quy luật của kinh tế nông hộ, là mô hình sản xuất đã có
từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thực tiễn đã khẳng
định khả năng phát triển và hiệu quả nhiều mặt của KTTT, nó góp phần khai
thác có hiệu quả các nguồn lực, tạo ra khối lƣợng nông sản hàng hoá ngày
càng nhiều; tạo ra khả năng to lớn trong việc áp dụng các tiến bộ KHKT, tăng
năng suất lao động,… trên cơ sở đó góp phần giải quyết các vấn đề phát triển
kinh tế, xã hội và môi trƣờng bền vững.”
“Ở nƣớc ta, trong những năm gần đây, nhất là từ sau Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị năm 1988, KTTT đã có bƣớc phát triển khá và từng bƣớc khẳng
định là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp có nhiều ƣu
thế và phù hợp với xu hƣớng phát triển tất yếu của một nền sản xuất nông
nghiệp theo hƣớng CNH, HĐH. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, KTTT đã đƣợc
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VIII
khẳng định và khuyến khích phát triển.”Chính phủ cũng đã ban hành Nghị
quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 về KTTT nhằm thống nhất nhận
thức về vị trí, vai trò của KTTT và đề ra các chính sách của Nhà nƣớc cho
KTTT phát triển. Tuy nhiên, KTTT hiện nay chƣa phát triển rộng; chƣa tạo ra
bƣớc đột phá trong việc đầu tƣ khai thác và sử dụng có hiệu quả diện tích đất
trống, đồi núi trọc, mặt đất, mặt nƣớc hoang hoá ở các khu vực trung du, miền

1


núi, ven biển để phát triển sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp; chƣa đóng góp
thỏa đáng vào việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất,
hiệu quả và sức cạnh tranh các mặt hàng nông sản mang tính hàng hoá trong

Đình Hƣơng, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000. Trong đó tác giả đã phân tích,
đánh giá thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển KTTT ở Việt Nam
dƣới góc độ kinh tế, đồng thời đƣa ra những giải pháp mang tầm vĩ mô nhằm
chỉ đạo phát triển KTTT nƣớc ta trong thời gian tới.
Tác giả Trần Kiên, Phúc Kỳ, trong cuốn sách: "Làm giàu bằng kinh tế
trang trại - mô hình kinh tế trang trại trẻ", Nxb Thanh Niên, năm 2000, lại
đƣa ra những quan điểm riêng về kinh tế trang trại, với con đƣờng, cách thức,
biện pháp để làm giàu bằng KTTT và phát triển KTTT trong tình hình mới.
Tác giả Nguyễn Đình Hà; Nguyễn Khánh Quắc trong cuốn sách: "Kinh
tế nông nghiệp gia đình nông trại”, Nxb Nông Nghiệp, năm 1999 đã đƣa ra
quan điểm về kinh tế nông nghiệp gia đình, các giải pháp phát triển kinh tế
nông nghiệp gia đình bền vững.
Nguyễn Đình Văn - “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế
trang trại ở tỉnh Bắc Kạn” - Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh (2008).
Trần Lệ Thị Bích Hồng - “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển kinh tế trang trại tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” - Đại
học kinh tế và quản trị kinh doanh (2007).
Lê Thị Hồng - “Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ 2001 - 2010” - Học viện chính trị (2015).
Trần Đình Trân - “Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Quảng Ngãi” - Đại
học Đà Nẵng (2011).
Các công trình nghiên cứu trên đã khái quát quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế trang trại ở các địa phƣơng khác nhau trên cả nƣớc. Ở Sóc Sơn,
vấn đề KTTT mới chỉ đƣợc khái quát trong các báo cáo tổng kết của các ban
ngành, chƣa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt

3


là đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện. Tuy nhiên đây cũng là những tài


Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Sóc Sơn
lãnh đạo phát triển KTTT từ năm 2005 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Khóa luận nghiên cứu dựa trên các phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các Nghị quyết của Đảng về phát triển
kinh tế nông nghiệp nói chung và KTTT nói riêng.
* Phƣơng pháp chuyên ngành:
Khóa luận sử dụng phƣơng pháp: Lịch sử và logic
6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thứ nhất, khóa luận hệ thống và làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Sóc
Sơn quán triệt, vận dụng những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam về phát triển KTTT vào thực tiễn địa phƣơng từ năm 2005 đến năm 2015.
Thứ hai, đề tài góp phần tập hợp, hệ thống các tài liệu về chủ trƣơng,
đƣờng lối, thành tựu của Đảng bộ huyện Sóc Sơn trong quá trình lãnh đạo
phát triển KTTT.
Thứ ba, khóa luận bƣớc đầu nêu một số nhận xét về ƣu điểm, hạn chế
và đúc rút một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Sóc Sơn trong quá trình
lãnh đạo phát triển KTTT trên địa bàn huyện.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận làm rõ sự phát triển của KTTT huyện Sóc Sơn dƣới sự lãnh
đạo của Đảng bộ, gợi mở những bài học kinh nghiệm để vận dụng trong lãnh
đạo phát triển KTTT trên địa bàn huyện trong giai đoạn hiện nay.
Từ đó góp phần vào công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phƣơng.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc chia
thành 3 chƣơng, 6 tiết


độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trƣờng” [11; tr.2].
Theo tác giả Trần Hai (2000), “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất
nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có
tƣ cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần
khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu
nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội” [10; tr.1].
Ta có thể hiểu rằng:“Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở
trong nông, lâm, ngƣ nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tƣ
liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập.

7


Sản xuất đƣợc tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đƣợc
tập trung tƣơng đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ
thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trƣờng.”
* Kinh tế trang trại
“Khái niệm KTTT là một khái niệm không còn mới với các nƣớc kinh tế
phát triển và đang phát triển. Đối với nƣớc ta đang còn là một vấn đề mới, do
nƣớc ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng nên việc nhận thức chƣa đầy
đủ về KTTT là điều không thể tránh khỏi. Các lý luận về KTTT đã đƣợc các
nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phƣơng tiện thông tin đại
chúng. Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa
học lại đƣa ra các khái niệm khác nhau về KTTT.”
Theo một số nhà khoa học trên thế giới thì khái niệm về KTTT nhƣ sau:
V.I.Lênin đã phân biệt KTTT “Ngƣời chủ trang trại bán ra thị trƣờng
hầu hết các sản phẩm làm ra, còn ngƣời tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản
phẩm sản xuất đƣợc, mua bán càng ít càng tốt” [22; tr.1].
Quan điểm của Mác đã khẳng định: “Điểm cơ bản của trang trại gia
đình là sản xuất hàng hoá, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc,

cao” (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 2000).”
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “KTTT là hình thức tổ
chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao; là
đơn vị sản xuất tích cực ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, cũng nhƣ chủ
động tìm kiếm, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Có thể nói,
KTTT là nhân tố mới ở nông thôn; là động lực mới, nối tiếp và phát huy động
lực của kinh tế hộ, góp phần vào quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất, gắn
liền với quá trình phân công lao động nông thôn”.
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ ban hành
đã nêu rõ: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp,
nông thôn, chủ yếu dựa vào gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu

9


quả sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [6; tr.2].
1.1.2. Đặc trưng và vai trò của kinh tế trang trại đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội
* Đặc trưng của kinh tế trang trại
Xuất phát từ khái niệm của KTTT đã trình bày ở trên có thể thấy KTTT
có những đặc trƣng cơ bản sau:
“Một là, mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông sản theo nhu cầu
của thị trƣờng. Đặc trƣng về mục đích sản xuất hàng hoá là đặc trƣng quan
trọng nhất của KTTT vì mục đích sản xuất hàng hoá ảnh hƣởng rất lớn, thậm
trí quyết định tới các đặc trƣng khác của KTTT.”
“Hai là, tƣ liệu sản xuất trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng của một ngƣời chủ độc lập. Tƣ liệu sản xuất trong trang trại phải thuộc
sở hữu, hoặc quyền sử dụng (nếu là đi thuê) của chủ trang trại. Có nhƣ vậy
trang trại mới hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ lựa

triển KTTT đƣợc đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt đó là: hiệu quả về kinh
tế, xã hội và môi trƣờng.”
Về mặt kinh tế
“KTTT đã tạo ra bƣớc chuyển biến về giá trị sản phẩm hàng hóa và thu
nhập của trang trại vƣợt trội hẳn so với kinh tế hộ, khắc phục dần tình trạng
sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung
hàng hóa và thâm canh cao. Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn, góp phần tích cực thúc đẩy
sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.”
Về mặt xã hội
KTTT thu hút lao động, hạn chế bớt làn sóng di cƣ từ nông thôn ra
thành thị, làm giảm áp lực đối với xã hội. Phát triển KTTT làm tăng hộ giàu ở
nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động và dân cƣ

11


ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kết cấu hạ
tầng nông thôn.
Ngoài ra, việc phát triển KTTT còn góp phần đảm bảo an ninh lƣơng
thực, thực phẩm. Mặc dù đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh
tế có giảm về tỷ trọng một cách tƣơng đối nhƣng giá trị tuyệt đối đóng góp lại
không giảm mà ngày càng tăng lên.
Về mặt môi trường
KTTT góp phần cải tạo môi trƣờng sống và bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
KTTT góp phần sử dụng đất đai, nguồn nƣớc hợp lý, tiết kiệm. Áp dụng các
biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong các trang trại giúp cho việc bảo vệ đất đai
khỏi bị ô nhiễm, thoái hóa, tiết kiệm nƣớc và hạn chế ô nhiễm nguồn nƣớc.
Đối với trang trại chăn nuôi, ngƣời chăn nuôi vẫn phải đối mặt với tình

tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Với vai trò
có tính trung tâm, vị trí địa lý của huyện Sóc Sơn có sức hút, gia tăng mối
quan hệ gắn kết trong phát triển nông nghiệp nói chung và KTTT nói riêng
với các địa phƣơng lân cận thuộc Thủ đô Hà Nội cũng nhƣ vùng đồng bằng
sông Hồng.”
Về địa hình: Sóc Sơn là một huyện trung du, đồi núi, nằm trong vùng
chuyển tiếp từ vùng núi Tam Đảo xuống đồng bằng sông Hồng, có địa hình
đa dạng, phức tạp và có độ dốc thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Toàn
Huyện đƣợc chia thành 3 vùng với những đặc trƣng khác nhau về địa hình:
Vùng đồi gò bao gồm 9 xã: Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, Minh Trí, Minh
Phú, Phù Linh, Hiền Ninh, Quang Tiến, Tân Dân, có cao độ địa hình từ 15 200 m. Sƣờn núi có độ dốc 40 - 500 m. Vùng đất giữa bao gồm 8 xã: Phù Lỗ,
Phú Cƣờng, Phú Minh, Thanh Xuân, Tiên Dƣợc, Mai Đình, Tân Minh và thị
trấn Huyện, có cao độ địa hình từ 10 - 15m. Vùng trũng gồm 9 xã ven các
sông Cầu, Cà Lồ: Trung Giã, Tân Hƣng, Bắc Phú, Việt Long, Xuân Giang,
Đức Hoà, Xuân Thu, Kim Lũ, Đông Xuân, có cao độ địa hình từ 4 - 9m. Với
đặc điểm địa hình chia làm 3 vùng rõ rệt tạo điều kiện cho việc định hƣớng
phát triển kinh tế theo đặc điểm và thế mạnh của từng vùng, tạo nên sự phát

13


triển đa dạng về kinh tế, văn hoá, xã hội của Sóc Sơn. Đồng thời, với địa hình
dốc tự nhiên, sẽ tƣơng đối thuận lợi cho việc thiết kế hệ thống tiêu thoát nƣớc
trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Sóc Sơn.
Về khí hậu: Khí hậu huyện Sóc Sơn về cơ bản là khí hậu của vùng Hà
Nội, chịu ảnh hƣởng của chế độ nhiệt đới ẩm gió mùa nội chí tuyến. Mùa
nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 23 oC. Lƣợng mƣa tập trung chủ
yếu từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 78% lƣợng mƣa cả năm. Nhìn chung,
huyện nằm trong vùng khí hậu tƣơng đối thuận lợi, đặc biệt là cho sản xuất

bên núi, phong cảnh hữu tình. Cùng với những cảnh quan thiên nhiên, Sóc
Sơn có núi Đôi, đền Sóc là những thắng cảnh di tích đã đƣợc ghi vào lịch sử
và văn học của nƣớc nhà. Hiện tại Sóc Sơn đã và đang thực hiện một số dự án
nhƣ: khu du lịch nghỉ ngơi cuối tuần đền Sóc, dự án này đã đƣợc phê duyệt
với tổng diện tích hơn 274 ha; khu dự án sân goft; tổ hợp khu du lịch và sân
goft Minh Trí. Những dự án này hoàn thành sẽ càng tăng thêm cho Sóc Sơn
cảnh quan hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là du khách nghỉ cuối tuần của khu
vực nội thành Hà Nội. Huyện Sóc Sơn ở vị trí cách trung tâm Thủ đô không
xa có tiềm năng rất lớn về du lịch văn hoá với các di tích lịch sử, văn hoá và
các lễ hội truyền thống. Cảnh quan núi non cùng các hồ đập lớn nhỏ tạo cho
Sóc Sơn phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đây là lợi thế cơ bản của Sóc Sơn so
với các quận, huyện khác trong xu thế bùng nổ về nhu cầu du lịch, nghỉ ngơi
cuối tuần của ngƣời dân nội thành Hà Nội. Sóc Sơn sẽ càng đóng vai trò quan
trọng đối với Thủ đô Hà Nội trong tƣơng lai. Vai trò đó trƣớc hết thể hiện ở
chức năng cải thiện môi trƣờng sinh thái cho Thủ đô và ở khả năng đáp ứng
nhu cầu nghỉ ngơi cuối tuần cho ngƣời lao động tại các quận nội thành khi
huyện có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm thƣơng mại,
dịch vụ phát triển mạnh. Cảnh quan thiên nhiên đẹp, đa dạng, phong phú tạo
điều kiện để huyện phát triển các dịch vụ du lịch, nghỉ dƣỡng. Bên cạnh đó,

15


mô hình KTTT đang đƣợc nhân rộng và đạt đƣợc những hiệu quả nhất định
thì những yếu tố trên chính là tiền đề để huyện xây dựng và phát triển những
mô hình KTTT gắn với du lịch sinh thái.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Về dân số: Dân số là cơ sở hình thành nguồn nhân lực, đồng thời dân số
và nguồn nhân lực lại là nền tảng trong các quy hoạch ngành, lĩnh vực và lãnh
thổ khi tính toán các nhu cầu cơ bản về dân sinh. Quy mô dân số lớn, tốc độ

sạch...). Thị trƣờng là lợi thế nhƣng cũng đồng thời là thách thức lớn đối với
các sản phẩm của KTTT. Với việc cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho cƣ
dân trên địa bàn, cạnh tranh với các sản phẩm của các địa phƣơng lân cận sẽ
thúc đẩy mô hình KTTT của huyện theo chiều sâu, nâng cao chất lƣợng để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của ngƣời tiêu dùng.”
Về nguồn lực tài chính: Ngoài vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc - nguồn vốn
quan trọng để dẫn dắt và định hƣớng sự phát triển kinh tế - xã hội, huyện Sóc
Sơn có khả năng thu hút tài chính khá lớn từ bên ngoài khi đặt các yếu tố tiềm
năng và nguồn lực của Sóc Sơn trong mối quan hệ với các quận, huyện lân
cận của Hà Nội và các địa phƣơng khác. Các nguồn vốn này bao gồm: vốn
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI, vốn đầu tƣ phát triển chính thức ODA và
nguồn vốn của khu vực kinh tế tƣ nhân trong nƣớc. Đây là nguồn lực quan
trọng để huyện phát triển KTTT cả về quy mô, số lƣợng và chất lƣợng.
1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Sóc Sơn trước năm 2005
“Dƣới ánh sáng Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ chính trị về đổi mới,
quản lý kinh tế nông nghiệp, nghị định 02 của Chính phủ về giao đất lâm
nghiệp và nghị quyết 06 của Thành ủy Hà Nội về phát triển kinh tế ngoại
hành và xây dựng nông thôn mới. Ban thƣờng vụ Huyện ủy Sóc Sơn có nghị
quyết 03 cụ thể hóa NQ 10 của Bộ Chính trị và NQ 6 của Thành ủy Hà Nội về
việc giao ruộng đất lâu dài cho nông dân trên địa bàn huyện Sóc Sơn.”
Đặc biệt ngày 25/2/2000 chính phủ ra nghị quyết 03 về phát triển
KTTT. Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ VIII ghi

17


rõ: “phát triển KTTT là một nhiệm vụ quan trọng, khâu đột phá giai đoạn
2001 - 2005”. Sóc Sơn là huyện trung du, có diện tích đất đồi núi 7.745 ha,
trong đó đất trồng rừng và KTTT là 6630 ha, mặt khác huyện Sóc Sơn có


Số lƣợng

1

Xã Minh Phú

6 trang trại

2

Xã Minh Trí

3 trang trại

3

Xã Bắc Sơn

4 trang trại

4

Xã Hiền Ninh

1 trang trại

5

Xã Nam Sơn


11

Xã Xuân Giang

2 trang trại

12

Xã Tiên Dƣợc

13

Xã Hồng Kì

9 trang trại

3 trang trại
1 trang trại

* Loại hình kinh doanh: có 2 loại hình
Một là, loại hình sản xuất kinh doanh tổng hợp có 21 trang trại chiếm
49%. Đây là loại hình phổ biến ở Sóc Sơn với diện tích trên 2 ha. Tập trung
chủ yếu ở các xã vùng đồi gò, với thế mạnh trồng cây ăn quả, trồng chè, trồng
rừng, chăn nuôi. Giá trị sản xuất trên 1ha đạt bình quân 25 - 30 triệu đồng,
loại hình này có ƣu điểm là vốn đầu tƣ không lớn, giải quyết đƣợc nhiều lao
động nông nhàn ở nông thôn.
Hai là, loại hình sản xuất chuyên: có 22 trang trại chiếm 51% trong đó
trang trại chăn nuôi là 17, trang trại trồng trọt là 5. Đây là loại hình sản xuất
chuyên một cây con nào đó nhƣ trồng trọt, trồng cây ăn quả, chăn nuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status