Sáng kiến kinh nghiệm: Giải pháp nâng cao chất lượng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2 - Pdf 58

Sở giáo dục đào tạo thanh Hóa
Phòng giáo dục và đào tạo Hoằng Hóa

Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:

Giải pháp nâng cao chất lợng đọc
thành tiếng cho học sinh lớp 2

Tào Thị Thúy
Chức vụ
: Giáo viên
đơn vị công tác : Trờng Tiểu học Hoằng Long
SKKN thuộc môn : Tâp đọc
Họ và tên

:

Năm học: 2010 - 2011

PHNTHNHT:PHNMU

1


1. Lý do chọn đề tài: 
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực 
quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện 
để phát huy nguồn lực con người. 
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phụ  thuộc rất lớn vào nguồn 
nhân lực mà nguồn nhân lực lại do ngành chúng ta đào tạo. Một trong những  

hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi và để tiếp tục học lên cấp học cao 
hơn. 
Tiếng Việt là một môn học công cụ  mà trong đó Tập đọc đóng vai trò  
khởi đầu. Đọc đúng giúp HS có khả  năng hiểu biết, tiếp thu được nền văn 
minh của loài người, nhờ biết đọc, các em mới có điều kiện tiếp thu các môn 
học khác. Thông qua môn Tập đọc, HS có công cụ  học tập và giao tiếp,  
không những giúp HS phát triển tư  duy mà còn bồi dưỡng cho các em tình  
cảm tốt đẹp, góp phần phát triển nhân cách toàn diện. Trên cơ sở đọc tốt, HS  
mới có thể  nói tốt, viết tốt, thực hành tốt các hoạt động của các môn học  
khác, góp phần phát triển 5 mặt giáo dục trong nhà trường tiểu học. 
Vậy làm thế nào để HS đọc đúng, đọc lưu loát tiến tới đọc diễn cảm? 
Để trả lời câu hỏi này, người giáo viên cần phải làm gì? HS cần phải làm 
gì? 
Trong thực tế giảng dạy, mỗi giáo viên chúng ta đã có bao giờ đặt ra câu  
hỏi đó và tìm ra cách trả lời câu hỏi đó chưa? 
Thực trạng HS Tiểu học chúng ta đã biết đọc đúng, đọc trôi chảy, đọc 
diễn cảm một văn bản hay chưa? 
Trong năm học vừa qua, được trực tiếp giảng dạy HS lớp 2, đối tượng  
HS mới được làm quen với loại văn bản giản đơn ở giai đoạn học kỳ II của  
lớp 1, bản thân tôi trăn trở, suy nghĩ và muốn làm một vấn đề gì đó góp phần  
vào việc giúp học sinh đọc tốt. Chính vì vậy tôi đã tiến hành thực nghiệm để 
tìm giải pháp "Nâng cao chất lượng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2". Với  
kinh nghiệm ít  ỏi, tôi mong sao những ý kiến nhỏ  của tôi sẽ  góp phần giúp 
HS đọc đúng, đọc diễn cảm, nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt 
ở Tiểu học. 
2. Mục đích yêu cầu: 
Như  ta đã biết, chương trình Tiếng Việt tiểu học nói chung, phân môn 
Tập đọc nói riêng lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ bản. Như vậy, 
kĩ năng giao tiếp đuợc đánh giá vô cùng quan trọng, song trên thực tế  hiện 
3

kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc lớp  
2. 

4


PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu. 
1.1. Cơ sở lý luận: 
Ta biết rằng, dạy học có ý nghĩa rất to lớn  ở  Tiểu học. Đọc trở  thành  
một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đầu tiên trẻ em phải học  
đọc, sau đó các em phải đọc để  học. Đọc để  giúp các em chiếm lĩnh được 
ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ để học tập 
các môn học khác. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ  học tập. Đọc tạo điều 
kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là khả 
năng không thể  thiếu được của một con người thời đại văn minh. Chính vì 
vậy, trường tiểu học có nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách có kế hoạch và  
hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu  
học có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. 
Trong cuốn "Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga" Viện sĩ 
M.R.Lơvốp đã định nghĩa "Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình 
chuyển dạng     thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng 
với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ 
viết thành các đơn vị nghĩa không có âm (ứng với đọc thầm)". Định nghĩa này  
thể hiện một quan niệm đầy đủ về đọc, xem đó là quá trình giải mã hai bậc: 
Chữ viết ­ âm thanh và chữ viết (âm thanh ­ nghĩa). Như vậy đọc không chỉ là 
đánh vần, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ  viết, cũng không 
phải là quá trình nhận thức để  có khả  năng thông hiểu những gì được đọc. 
Đọc chính là một sự tổng hợp của hai quá trình này. 

dúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy). Đó là hai kĩ năng đầu tiên của đọc. 
Trong phạm vi nghiên cứu của đề  tài này, tôi cũng chỉ  muốn đề  cập tới 
hai kĩ năng đầu tiên của đọc bởi đối tượng đang trực tiếp giảng dạy chính là  
đối tượng học sinh mới trải qua giai đoạn học vần và mới làm quen với văn  
bản đơn giản, ngắn gọn (ở lớp 1). Hết chương trình lớp 1. 
HS có nhiệm vụ phải đọc trơn tiếng (âm tiết). Như vậy Tập đọc ở lớp 2 
với tư  các là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học  
vần đạt đuợc, nâng lên đầy đủ, hoàn chỉnh hơn. 
Vậy mục tiêu chính của phân môn Tập đọc lớp 2 là gì? 
Như ta đã biết mục tiêu của phân môn Tập đọc lớp 2 là: 
* Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS. Cụ thể là: 
a) Đọc thành tiếng: 
­ Phát âm đúng
6


­ Ngắt nghỉ hơi hợp lí 
­ Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hay đọc lí nhí) 
­ Tóc độ vừa phải (đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/ phút) 
b) Đọc thầm và hiểu ND: 
­ Biết đọc không thành tiếng, không mấy máy môi
­ Hiểu được nghĩa của từ ngữ trong văn cảnh, nắm được ND câu, đoạn 
hoặc bài đã học. 
c) Nghe: 
­ Nghe và nắm được cách đọc đúng câu, đoạn, bài
­ Nghe, hiểu các câu hỏi của thầy cô 
­ Nghe hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn. 
d) Nói: 
­ Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm về bài Tập đọc. 
­ Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc 

đầu năm, tôi đã đặt ra câu hỏi: Tại sao lại có sự chênh lệch này? Chắc chắn  
là có nguyên do, cái nguyên do này không phải chỉ  có trường tôi mà tôi nghĩ 
trong quá trình giảng dạy, đa số giáo viên chúng ta chưa chú trọng trong việc  
rèn luyện cho HS diễn đạt tư duy của các em thành ngôn ngữ. 
Trong các tiết học Tiếng Việt, đặc biệt phân môn Tập đọc, hầu hết giáo  
viên mới dừng ở mức độ gọi HS đọc, nêu câu hỏi để HS trả lời chứ chưa chú 
trọng tới việc các em phát âm có đúng hay không? ngắt nghỉ hơi giữa các dấu 
câu và các cụm từ dài đã chính xác chưa? Các em đã biết nhấn giọng ở những 
từ  ngữ  gợi tả  hay chưa? Và cứ  thế  gọi HS đọc rồi nhắc nhở  chung chung,  
phiến diện chứ  chưa đi sâu vào việc rèn luyện cho các em đọc dúng (đúng 
chính âm, đúng phụ  âm, đúng thanh điệu), đọc trơn, đọc trôi chảy, lưu loát, 
biết ngắt nghỉ đúng, biết đọc rõ lời nhân vật đối với một số bài là truyền kể 
để  sau khi đọc xong các em có thấu hiểu được nội dung của một bài Tập  
đọc. 
Là người giáo viên trực tiếp đứng lớp, ta phải hiểu rõ được một đều là: 
Chỉ khi nào HS đọc tốt được một bài Tập đọc (tức là biết đọc đúng, đọc lưu 
loát, đọc diễn cảm) thì lúc đó phần nào các em mới hiểu bài Tập đọc đó nói 
về vấn đề gì, nội dung ra sao, nó hàm ẩn điều dạy bảo khuyên răn, nhắc nhở 
các em điều gì? 
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi nghĩ: Cần phải có biện pháp cụ thể 
để  giúp HS có kĩ năng đọc tốt, HS có đọc tốt thì mời viết được, HS có đọc  

8


tốt thì mới có khả  năng học tốt các môn học khác và hơn thế  nữa, đọc tốt 
giúp các em có theê vốn ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. 
b) Tình hình học tập của học sinh. 
Lớp 2A tôi phụ trách có 38 em 
Bước đầu vào năm học, sau khi được nhận lớp, tìm hiểu rõ đối tượng 

em đang còn ở giai đọan trứng nuớc của việc rèn đọc đúng và chỉ khi các em 
đã hiểu rõ được bản chất của vấn đề thì dù cho các em có thói quen phương  
ngữ thế nào các em vẫn có thể khắc phục được lỗi sai. 
Như  vậy, rõ ràng là giáo viên phải kiên trì tập luyện cho các em đúng 
cách, cho các em luyện đọc nhiều, lấy nhiều ví dụ  có liên quan, so sánh sự 
khác biệt về  âm thanh, về  nghĩa của các tiếng đó ... thì chắc chắn việc rèn 
đọc đúng các tiếng có chứa âm thanh hỏi, thanh ngã và các tiếng có chứa 
nguyên âm đôi sẽ đạt kết quả cao. 
2. Luyện ngắt nghỉ câu văn dài. 
Giờ  Tập đọc phải hướng đến giáo dục HS yêu Tiếng Việt bằng cách 
nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự  giàu đẹp của âm thanh, sự 
phong phú của ngữ  điệu trong biểu đạt nội dung. Khi đọc các bài Tập đọc 
theo hình thức là một văn bản, chỗ  ngắt giọng phải phù hợp với ranh giới 
ngữ  đoạn, đọc sai chỗ  ngắt giọng phản ánh sự  hiểu sai nghĩa. Vì vậy ngắt  
giọng đúng vừa là mục đích của dạy đọc thành tiếng vừa là mục đích giúp  
HS chiếm lĩnh nội dung bài đọc. 
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy HS thường mắc lỗi ngắt giọng ở những  
câu dài, câu có cấu trúc phức tạp hoặc có trường hợp mắc lỗi ngay  ở cả câu  
ngắn nhưng các em chưa nắm được quan hệ  ngữ  pháp giữa các từ. Lúc này  
các em thường ngắt giọng để lấy hơi một cách tùy tiện. 
VD: Một hôm, / trong lúc đi chơi, / cậu nhìn thấy một bà cụ  tay/ cầm một  
thỏi sắt mải / miết mài vào một tảng / đá ven đuờng // 
(Bài có công mài sắt có ngày nên kim) 
Hoặc: Trường mới xây / trên nền ngôi trường lợp lá cũ.//
11


(Bài ngôi trường mới)
Ở  những trường hợp trên bị  xem là sai ngắt giọng vì đã tách danh từ  ra  
khỏi định ngữ, tách cụm C ­ V làm bổ ngữ tạo nên ý nghĩa của câu hòan toàn 


Qua khảo sát thực trạng cho thấy, khi đọc thơ HS mắc lỗi ngắt nhịp sai  
là do không tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo cảm nhận về vần. Ví dụ với thơ 
4 tiếng, các em sẽ  ngắt nhịp 2/2, với thơ  5 tiếng các em sẽ  ngắt nhịp 2/3 
hoặc 3/2. với thơ 7 tiếng các em sẽ ngắt nhịp 2/ 4/ 4 hoặc 2/2/3. Thơ lục bát 
sẽ được ngắt nhịp chẵn 2/2/2 và 4/2
Trong thực tế giảng dạy, tôi đã phát hiện HS đã ngắt nhịp sai như sau: 
Ngày hôm  / qua ở lại 
Trong hạt / lúa mẹ  trồng 
 

  (Bài ngày hôm qua đâu rồi? )

Hoặc: 
Như con / chim chích /  
Nhảy trên / đuờng làng 
(Bài Lượm) 
Đọc như thế, vô tình HS đã tách đại từ chỉ ngôi hoặc giới từ với danh từ 
đứng sau nó, GV cần hướng dẫn HS ngắt nhịp đúng là: 
Như con chim chích /  
Nhảy trên đuờng làng // 
Hoặc trường hợp HS đọc theo thói quen tự do nên đã tách từ chỉ loại với 
danh từ nó đi kèm "ba gian ngà"  và tách "tiếng võng" như sau: 
Ba gian / nhà nhỏ /  
Đầy tiếng / võng kêu / 
(Tiếng võng kêu) 
Hoặc: 
Những ngôi / sao thức / ngoài kia / 
Chẳng bằng / mẹ đã / thức vì / chúng con // 
(Bài mẹ) 

gặp câu kể thì giọng đọc bình thường, câu hỏi thì đọc cao giọng ở cuối câu,  
nhấn giọng vào từ  cần nghi vấn, câu cầu khiến thì nhấn giọng vào từ  cần 
câu khiến, câu cảm thì giọng đọc phải thể hiện được cảm xúc, vui buồn tuỳ 
thuộc vào văn cảnh.
Đối với việc luyện đọc thuộc lòng thì yêu cầu HS phải hiểu được nội  
dung bài học hoặc đoạn văn đó. Như  vậy, sau khi luyện đọc thành tiếng,  
luyện đọc diễn cảm thì hướng dẫn học sinh đọc thuộc lòng. Đây là bước rất  
quan trọng nhằm rèn cho HS đọc được bài thơ hoặc đoạn văn hay dựa vào trí 
nhớ. Những điều lưu ý khi đọc thuộc lòng là: Nhiều học sinh không hiểu nội  
14


dung bài thơ nên đọc vẹt, đọc khôg đúng nhịp và điều này dẫn đến đọc sai thì 
diễn đạt nội dung thơ sai. Vì vậy, giáo viên phải tổ  chức cho HS luyện đọc 
dưới nhiều hình thức. Luyện đọc thầm cá nhân, luyện đọc thành tiếng trong 
nhóm, luyện đọc thành tiếng theo kiểu nối tiếp câu, nối tiếp khổ thơ... hoặc  
thì đọc giữa các nhóm, các dãy... thi đọc hoặc cá nhân trước lớp. Sau mỗi cá  
nhân đọc, nhóm đọc, giáo viên tổ  chức cho HS trong lớp bình xét cá nhân 
hoặc nhóm đọc tốt, đọc hay, đọc diễn cảm, để khuyến khích học sinh luyện  
đọc có chất lượng và hơn thế  nữa tạo cho tiết học không khí sôi nổi, đỡ 
nhàm chán.
4. Luyện đọc trơn.
Như   ở  phần trên tôi đã nêu thực sự  thực trạng của HS lớp chủ  nhiệm  
năm nay, số HS chưa đọc trơn tiếng từ, chưa đọc trôi chảy câu văn chiếm.
10.5% HS của lớp. Chính vì vậy dù tôi đã trăn trở  đưa ra các giải phát âm 
chuẩn, rèn ngắt nghỉ  hơi đúng giữa các cụm từ  hoặc  ở  các câu văn dài song 
với thực trạng cụ thể ở lớp mình tôi không thể bỏ qua một bước nan giải đối 
với đối tượng HS quá yếu về  đọc này. Vì thế, ngay từ  đầu năm tôi đã phải 
đặc biệt quan tâm tới việc rèn đọc trơn, đọc trôi chảy cho HS. Sau một số 
buổi học đầu năm, khi nắm bắt rõ đối tượng HS đọc còn phải đánh vần từng 

hay một khổ thơ ngắn. Kết quả đã có những biểu hiện tiến bộ dần. Thế rồi  
qua đợt Kiểm tra định kỳ  cưối kỳ 1, hầu như số học sinh lớp tôi không còn  
em nào mắc phải lỗi đánh vần trong phân môn tập đọc. Hầu như  các em đã 
đọc trơn được cả từ hoặc các cụm từ dài và cho đến thời điểm này tôi đã thở 
phào nhẹ  nhõm với những gì mình đã làm được những gì cho HS của lớp  
mình. 100% số  HS của lớp đã biết đọc trơn mặc dù trong số  HS mới được 
rèn đọc, các em chưa thể đọc hay, đọc diễn cảm được.
3. Kiểm tra đánh giá chất lượng đọc thành tiếng sau khi thực hiện  
các giải pháp
Sau khi thực hiện một số giải pháp để  rèn đọc thành tiếng cho HS của 
lớp, sau 3 đợt Kiểm tra định kỳ (giữa kỳ I, cuối kỳ I, giữa kỳ II) theo đề của  
PGDĐT, tôi thấy chất lượng đọc thành tiếng của HS rất khả  quan. Song vì  
bản thân tôi đang thực hiện SKKN này vào thực tế  giảng dạy nên tôi đã  
mạnh dạn ra thêm một bài kiểm tra đọc tiếng riêng cho đối tượng HS lớp tôi. 
Vì đề  của PGD yêu cầu HS đọc một trong các bài tập đọc em đã học trong  
chương trình nên tôi vẫn còn băn khoăn với một vài em hay có thói quen đọc  
16


vẹt (tức là đọc theo, đọc nhưng không biết mình đang đọc gì?). Vì thế tôi đã 
mạnh dạn tìm và sưu tầm một số  văn bản là văn xuôi, không nằm trong  
chương trình SGK Tiếng Việt 2 (hình thức thể  loại giống nhau, số  lượng  
câu, chữ  tương  ứng) in thành 28 bản dưới hình thức là phiếu thăm để  kiểm 
tra một cách khách quan theo mức độ  yêu cầu của chuẩn kiến thức và kỹ 
năng đọc với HS lớp 2. Mục đích của tôi là kiểm tra xem số lượng HS trong 
lớp, từng đối tượng HS, các em đọc được đạt ở mức độ nào?
* Cách tiến hành kiểm tra như sau:
Tổ chức cho HS thi vào một buổi học trái buổi
+ Nêu nội dung, yêu cầu, mục tiêu của buổi kiểm tra
+ HS lần lượt lên bốc thăm phiếu đã ghi sẵn bài nội dung bài tập đọc rồi 

Việt nói riêng, các môn học khác nói chung so với mặt bằng chung của khối  
2.
Đối chứng với đầu năm, kết quả  phần “đọc thành tiếng” thu được như 
sau:
Xếp loại
Thời gian
Khảo sát đầu năm
Cuối kì I 

Giỏi

Khá

Trung bình 

Yếu 

3

5

17

3

5

8

14

thực hiện của 1 quá trình.
­ Ngoài việc khắc phục lỗi đọc đánh vần ê ­ a ngắc ngứ, lỗi phát âm 
không chuẩn do phương ngữ, giáo viên còn phải chú trọng cho HS luyện ngắt 
nghỉ hơi đúng giữa các cụm từ, các câu văn dài, ngay cả  ở  các câu văn ngắn 
nhưng khó xác định chỗ  ngắt giọng. Đối với bài Tập đọc là thơ, phải chú ý 
luyện ngắt nhịp thơ, nhấn giọng từ  cần thiết. Song không phải cứ  đến giờ 
Tập đọc là giáo viên yêu cầu HS phải đọc như  thế này, đọc như  thế  kia mà 
phải để HS tự tìm ra cách đọc, cách thể hiện giọng sao cho phù hợp với nội  
dung từng bài, từng nhân vật. Bên cạnh đó, giáo vieê phải luyện cho HS biết  
cách ngắt giọng biểu cảm, biết ngừng hoặc nhấn giọng ở các chìa khóa trong 
câu văn, câu thơ đó nhằm nâng cao sự biểu đạt văn chương của bài Tập đọc 
rõ ràng khâu luyện đọc thành tiếng không thiếu phần quan trọng. Nếu HS 
không đọc được hoặc đọc không đúng thì chắc chắn sẽ dẫn đến chẳng hiểu  
gì nội dung văn bản, nội dung bài thơ  mà tác giả  muốn gửi gắm tới người  
đọc. Tin rằng, nếu trong giờ  Tập đọc chúng ta biết linh hoạt tổ  chức cách 
thức giúp HS rèn đọc thì chắc chắn giờ Tập đọc sẽ mang lại hiệu quả cao. 
3. Đề xuất, kiến nghị: 
Để nâng cao chất lượng đọc trong phân môn Tập đọc, tôi có một số  đề 
xuất như sau: 
a) Đội ngũ giáo viên
­ Mỗi giáo viên khi nhận lớp phải nắm rõ đối tuợng HS của lớp nình, 
phải có kế  hoach phân loại đối tượng HS ngay từ  đầu năm học, ghi rõ lực  
học, chuyển biến của các em từng tuần, từng tháng, từng kì để có kế hoạch 
bồi dưỡng, giúp đỡ các em. 
­ Mỗi giáo viên phải nắm rõ đặc điểm phương ngữ nơi mình dạy, từ đó  
có kế  hoạch luyện đọc đúng, đọc trơn, ngắt nghỉ  hơi đúng sao cho phù hợp  

19




­ Cần nâng cao tầm nhận thức, quan tâm hơn nữa tới việc học hành của  
con em mình, không nên phó mặc hoặc nghỉ việc con em tới lớp, kết quả học  
tập là trách nhiệm chỉ riêng của thầy cô. 
­ Mua sắm đủ sách vở, đồ dùng học tập cho các em
­ Lập danh sách cho các em có thời gian biểu ở nhà hợp lí. 
e) Đối với HS. 
­ Phải tự giác học tập 
­ Phải có sự cố gắng  không những chỉ học ở trường mà còn phải tự học 
ở nhà, học qua sách vở , học ở thầy cô, học qua bạn bè. 
­ Phải thực hiện những yêu cầu mà thầy cô căn dặn  ở  lớp để  về  nhà  
thực hành luyện đọc. 
        Hoàng Long ngày 28 tháng 04 năm 2011 

Tào Thị Thúy 

 

PHỤ LỤC
PHẦN THỨ NHẤT ­ PHẦN MỞ ĐẦU 

1. Lý do chọn đề tài
21


2. Mục đích nghiên cứu 
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Đối tượng nghiên cứu 
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 
PHẦN THỨ HAI ­ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status