A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên bậc học Trung học
cơ sở.
Trong chương trình giáo dục phổ thông Cấp tiểu học, mỗi môn học đều
xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Do vậy, mỗi giáo viên cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để đạt hiệu quả cao. Là một giáo
viên qua 2 năm giảng dạy tôi thực sự trăn trở với mỗi bài giảng của mình.
Làm thế nào để học sinh hiểu được nội dung bài học, biết vận dụng vào
thực tế cuộc sống. Hiểu rõ được tầm quan trọng của từng môn học tôi luôn
học hỏi, tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm qua các bài học vận dụng linh hoạt
các PPDH, HTTC phù hợp với trình độ của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy sự phức tạp về việc “giúp học
sinh hiểu nghĩa từ”. Làm thế nào để các em hiểu được nghĩa của từ, phân
loại đúng theo yêu cầu, dùng từ chính xác để đặt câu, để viết văn và giao
tiếp trong cuộc sống. Mặt khác, học sinh muốn viết câu đúng ngữ pháp, câu
có hình ảnh, có cảm xúc học sinh phải hiểu rõ cấu tạo của từ. Trên cơ sở
đó, học sinh biết vận dụng vào thực tế. Do vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra
một số giải pháp, biện pháp là kinh nghiệm nhỏ của mình giúp học sinh lớp
4 phân biệt được từ đơn, từ ghép, từ láy và danh từ, động từ, tính từ.
II.Thực trạng của vấn đề
1. Tình hình nhà trường
Trường Tiểu học Thành Vinh là một trường nắm cách trung tâm huyện
khoảng 17 km, có 17 lớp với 25 cán bộ giáo viên. 100% cán bộ giáo viên
đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, có lòng yêu nghề mến trẻ tận tuỵ với
công việc của mình. Luôn trau dồi , học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.
2.Địa phương. Là một xã miền núi, đời sống của nhân dân trong vùng đa
Không chịu học bài, rèn luyện, ghi nhớ các bài học.
Không tự rèn luyện, học hỏi, tự trao đổi ở nhà, vận dụng vào thực tế
cuộc sống.
+ Về phía giáo viên
Quá trình bồi dưỡng, tích luỹ kinh nghiệm về vốn từ của học sinh còn
hạn chế.
Chưa hệ thống được một số dạng bài tập.
Từ việc tìm hiểu nguyên nhân trên tôi đã tiến hành tìm hiểu, điều tra tại
lớp mà mình thực dạy. Kết quả thu được như sau:
Lỗi
HS sai
Không phân
Không xác định
Không xác định đúng
định được ranh đúng từ ghép, từ danh từ, động từ, tính
giới từ.
láy.
từ .
TS HS
23
6
7
5
Từ những nguyên nhân trên, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm nhỏ để
hướng dẫn học sinh khắc phục các lỗi trên.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Các giải pháp thực hiện
2
Từ
Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Từ láy
TG tổng TG phân Láy âm Láy
Láy âm và Láy
hợp
loại
đầu
vần
vần
tiếng
1.2. Cách phân định ranh giới từ.
Để tách câu thành từng từ, ta phải chia câu thành từng phần nhỏ có nghĩa
sao cho được nhiều phần nhất ( chia cho đến phần nhỏ nhất). Vì nếu chia
câu thành từng phần có nghĩa nhưng chưa phải là nhỏ nhất thì phần đó có
thể là một cụm từ chứ không phải là một từ.
Dựa vào tính hoàn chỉnh về cấu tạo và về nghĩa của từ, ta có thể xác
định được 1 tổ hợp nào đó là một từ ( từ phức) hay 2 từ đơn bằng cách xem
xét tổ hợp ấy về 2 mặt: kết cấu và nghĩa.
Ví dụ. Bài 1 ( Phần nhận xét). Tiếng việt 4 Tập 1 Từ đơn và từ phức.
* Hướng dẫn học sinh xác định từ đơn, từ phức.
Cách 1. Dùng thao tác chêm, xen.
3
Nếu quan hệ giữa các tiếng trong tổ hợp mà lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể
chêm xen một tiếng khác từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp ấy về cơ
nhau. Đó là từ láy.
a) Từ ghép. Là từ do 2 hoặc nhiều tiếng ghép lại tạo thành nghĩa chung.
Từ ghép được chia thành 2 kiểu:
Từ ghép có nghĩa tổng hợp ( Từ ghép hợp nghĩa, từ ghép đẳng lập, từ
ghép song song): Là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng hơn,
lớn hơn, khái quát hơn so với nghĩa các tiếng trong từ.
Từ ghép có nghĩa phân loại (từ ghép phân loại, từ ghép chính phụ): chỉ
một loại nhỏ thuộc phạm vi nghĩa của tiếng thứ nhất.
4
* Lưu ý:
Các tiếng trong từ ghép có nghĩa tổng hợp thường cùng một kiểu từ loại (
cùng danh từ hoặc cùng động từ,..).
Các từ như: chèo bẻo, bồ kết, ễnh ương, bồ hóng,.., axít, cà phê, ôtô,
môtô,..có thể cho là từ ghép ( theo định nghĩa) hoặc là từ đơn ( tuy là hai
tiếng nhưng gộp lại mới có nghĩa, còn tách rời thì không có nghĩa. Những
trường hợp này gọi là từ đơn đa âm).
b) Từ láy: Là từ phối hợp những tiếng có âm đầu hoặc vần ( hay cả âm
đầu và vần) giống nhau. Căn cứ vào bộ phận được lặp lại, người ta chia từ
láy theo 4 kiểu: Láy tiếng, láy vần, láy âm, láy cả âm và vần. Căn cứ vào số
lượng tiếng được lặp lại, người ta chia thành 3 dạng từ láy: láy đôi, láy ba,
láy tư.
Theo truyền thống có thể chia từ láy làm 3 loại lớn:
* Từ tượng thanh ( bắt chước âm thanh): Là từ láy mô phỏng, gợi tả âm
thanh trong thực tế: Ví dụ: rì rào, ào ào, lóc cóc, ùng oàng,…
* Từ tượng hình ( bắt chước hình dáng): Là từ láy gợi tả hình ảnh, hình
dáng của người, vật; gợi tả màu sắc, mùi vị.
Ví dụ: Gợi tả dáng dấp: lênh khênh, lè tè, lom khom, khẳng khiu,..
Gợi tả màu sắc: chon chót, sặc sỡ, lấp lánh,…
chặt chẽ không thể tách rời nhau được.Ví dụ: truyện cổ, ông cha, ghi nhớ,
đền thờ, ….( truyện + cổ, ông + cha)
Nếu các từ chỉ còn một tiếng có nghĩa, còn một tiếng đã mất nghĩa nhưng
hai tiếng không có quan hệ về âm thì ta cũng xếp vào nhóm từ ghép.
Ví dụ: tưởng nhớ, ngay đơ,…
+ Từ láy
Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm ( Các từ khi tách ra có một
tiếng có nghĩa (nghĩa gốc), một tiếng không có nghĩa (mờ nghĩa)).
Ví dụ: nô nức, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp,..
Các từ có một tiếng có nghĩa còn một tiếng không có nghĩa rõ ràng nhưng
các tiếng trong từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu thì
cũng xếp vào nhóm từ láy ( láy vắng khuyết phụ âm đầu).VD: ồn ào, ầm ĩ,
ấm áp, ….
Các từ có một tiếng có nghĩa còn một tiếng không có nghĩa rõ ràng nhưng
các tiếng có phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ khác nhau nhưng có
cùng cách đọc ( c/ k/ q; ng/ ngh; g/ gh) cũng được xếp vào nhóm từ láy.
Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,…
* Lưu ý: Trong thực tế, có nhiều từ ghép ( gốc Hán) có hình thức ngữ âm
giống từ láy, nhưng thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng học sinh rất khó
phân biệt. Do vậy , ta nên liệt kê cho học sinh ghi nhớ.
Ví dụ: bình minh, cần mẫn, căn cơ, hoan hỉ, chuyên chính, chân chất, hảo
hạng,..
Ngoài ra, có những từ có cả quan hệ về âm và về nghĩa ( từ Thuần Việt)
như: tắc kè, bồ hóng, bồ kết, bù nhìn, ễnh ương,…hay các từ vay mượn
như: mì chính, cà phê, xà phòng.
Trong quá trình dạy, tôi thường lấy một số từ đặc biệt để học sinh xác
định.
Ví dụ: bạn bè Có học sinh cho rằng đó là từ ghép nhưng cũng có học sinh
cho rằng đó là từ láy.
Học sinh giải thích:
Hư từ không có khả năng một mình tạo thành câu hay làm thành phần
câu như thực từ nhưng rất cần thiết trong việc xây dựng câu. Chức năng
của hư từ là làm công cụ ngữ pháp.
Mục đích của việc phân chia từ loại là chỉ ra các đặc điểm về ý nghĩa ngữ
pháp và về hoạt động cú pháp của từ dùng để đặt câu. Nó được chia theo
các tiêu chuẩn sau:
+ Ý nghĩa khái quát của từ. Khả năng kết hợp của từ. Chức năng cú pháp
của từ.
Với phạm vi sáng kiến này chỉ đề cập đến danh từ, động từ, tính từ
a) Danh từ: Là những từ chỉ sự vật ( Người, vật, hiện tượng, khái niệm,
đơn vị).
Ví dụ; Tìm các từ chỉ sự vật và xếp vào nhóm thích hợp (Tiếng việt 4 Tập
1).
Mang theo truyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đồi tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.
Lâm Thị Mỹ Dạ
Từ chỉ người: ông cha, cha ông.
Từ chỉ vật: sông, dừa, chân trời.
7
Từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng.
Từ chỉ khái niệm: cuộc sống, truyện cổ, tiếng, xưa, đời. ( biểu thị những
cái chỉ có trong nhận thức của con người, không có hình thù, không chạm
Danh từ chỉ khái niệm:
Là danh từ có ý nghĩa trừu tượng. Là loại danh từ không chỉ vật thể, các
chất liệu hay các đơn vị sự vật cụ thể mà biểu thị các khái niệm trừu
tượng như: tư tưởng, đạo đức, phương châm, chủ trương, tình yêu,…Các
khái niệm này chỉ tồn tại trong nhận thức, trong ý thức con người, không
vật chất hoá hay cụ thể hoá được. Nói cách khác, các khái niệm này không
có hình thù, không cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan. Đây là loại
8
danh từ học sinh khó xác định nhất. Nên giáo viên cần dựa vào văn cảnh cụ
thể đển giải thích cho học sinh.
Danh từ chỉ đơn vị: Hiểu theo nghĩa rộng, danh từ chỉ đơn vị là những từ
chỉ đơn vị các sự vật. Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa, vào phạm vi sử dụg
có thể chia thành các loại nhỏ sau:
+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: Các danh từ này chỉ rõ các loại sự vật nên
còn được gọi là danh từ chỉ loại. Ví dụ: cục, mẩu, miếng, tờ, quyển,…
+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường: Các danh từ này dùng để tính đếm, đo đếm
các sự vật, vật liệu, chất liệu.Ví dụ: lạng, cân, yến, sải, gang,…
+ Danh từ chỉ đơn vị tập thể: Dùng để tính đếm các sự vật tồn tại dưới
dạng tập thể, tổ hợp. Ví dụ: đôi, cặp, dãy, bó,…
+ Danh từ chỉ đơn vị thời gian: giây, phút, giờ,…
+ Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức: xóm, thôn, xã, tiểu đội,…
b) Đ
ộng từ ( ĐT
):
Khái niệm: ĐT là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
Phân loại: Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và khả năng sử dụng độc lập hay
1a. ĐT chỉ quan hệ:
ĐT chỉ quan hệ đồng nhất
ĐT chỉ quan hệ quá trình biến hoá: trở nên, trở thành.
ĐT chỉ quan hệ đối chiếu, so sánh: như, giống, khác, tựa...
2b. ĐT chỉ tình thái:
ĐT tình thái chỉ sự cần thiết và khả năng: nếu, cần, phải, cần phải, có
thể, …
ĐT tình thái chỉ ý chí, ý muốn: định, toan, nỡ, mong......
ĐT tình thái chỉ sự chịu đựng, chỉ sự tiếp thu: bị, phải, được....
* Một số lưu ý về động từ chỉ trạng thái.
Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là: nếu như
động từ chỉ hoạt động, hành động, có kể kết hợp với từ song ở phía sau. Ví
dụ: ăn xong, đọc xong,… thì động từ trạng thái không kết hợp với xong ở
phía sau ( không nói: còn xog, hết xong,…).
Một số nội động từ sau đây cũng được coi là động từ trạng thái: nằm,
ngồi, nghỉ, thức,…
Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động lại vừa được coi là
động từ chỉ trạng thái.
Một số động từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái
( trạng thái tồn tại).
Ví dụ: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! ( Tố Hữu). Anh ấy đứng tuổi rồi.
Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ ( kết hợp được với các
tính từ chỉ mức độ).
+ Các ngoại động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái ( trạng
thái tâm lí): yêu, ghét, kính trọng, thèm,….các từ này mang đặc điểm ngữ
pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ.
+ Có một số động từ chỉ hành động được sử dụng như một động từ chỉ
trạng thái.
Ví dụ: Trên đường treo một bức tranh. Dưới gốc cây có buộc một con
ngựa.
ngoan, hư, nặng ,nhẹ, sâu sắc, ...)
c) Từ chỉ trạng thái
Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một con người, tồn tại
trong một thời gian nào đó. Từ chỉ trạng thỏi là từ chỉ trạng thái tồn tại
của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan.
Ví dụ: Trời đang đứng gió. Người bệnh đang hôn mê
Xét về mặt từ loại Từ chỉ trạng thỏi có thể là động từ, có thể là tính từ
hoặc mang đặc điểm của cả động từ và tính từ (từ trung gian), nhưng trong
chương trình tiểu học xếp vào nhóm động từ.
3. 2. Cách phân biệt các danh từ, động từ, tính từ.
Để phân biệt các danh từ, động từ, tính từ dễ lẫn lộn, ta thường dùng
phép liên kết ( khả năng kết hợp) với các phụ từ.
* Danh từ
Có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng như: mọi, một, hai, những,
…ở phía trước ( những khái niệm, những tình cảm, những nỗi đau,…).
Danh từ kết hợp với các từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ,…ở phía sau.
Danh từ có khả năng tạo câu hỏi với từ nghi vấn” nào” đi sau ( lợi ích
nào?...)
Các động từ và tính từ đi kèm: sự, cuộc, nỗi, niềm,…ở phía trước thì tạo
thành một danh từ mới ( sự hi sinh, cuộc đấu tranh, nỗi nhớ, niềm vui,…).
Chức năng ngữ pháp ngữ pháp thay đổi cũng dẫn đến sự thay đổi về thể
loại.
11
Ví dụ: Yêu cầu học sinh đặt câu với từ cho dưới sao cho từ đó là động từ,
danh từ, tính từ.
Cân Mẹ em mua một chiếc cân đĩa ( cân danh từ).
Mẹ cân một con gà ( cân động từ).
Hai bên cân sức cân tài ( cân là tính từ).
DT trừu tượng (2 âm tiết) chuyển thành động từ: Những nhận thức mới/
nhận thức lại vấn đề; phát triển tư duy/ đang tư duy.
ĐT chỉ cảm nghĩ nói năng (2 âm tiết) chuyển thành DT: đang suy nghĩ/
những suy nghĩ ấy; đang tính toán/ những tính toán ấy ...
Ví dụ 3. Chuyển DT thành TT và ngược lại.
12
a) Mùa xuân đã về.
DT
b) Cố ấy đang trong thời kì xuân sắc.
TT
Từ “xuân” trong câu a là danh từ ( chỉ một mùa trong năm), từ “xuân” trong
câu b là tính từ ( chỉ sắc vẻ trẻ trung , tươi đẹp).
II. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1. Giúp HS hiểu nghĩa của từ.
Vốn từ Tiếng việt có số lượng lớn đến hàng chục vạn từ và luôn luôn
được bổ sung từ mới. Mỗi từ có ý nghĩa riêng. Nhưng bên cạnh những nét
riêng của từng từ, có thể tìm thấy một số lượng từ nào đó, có những nét
nghĩa chung, khái quát. Dựa vào những nét nghĩa khái quát đó, có thể tập
hợp lại thành từng lớp, từng loại. Ý nghĩa khái quát của từ bao gồm các nét
nghĩa liên quan đến ý nghĩa từ vựng và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa
ngữ pháp. Do vậy, khi hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ cần sử dụng các
phương pháp giải nghĩa phù hợp như dùng tranh ảnh, vật thật, dựa vào văn
cảnh,….
Biện pháp 2. Xây dựng hệ thống bài tập..
Để học sinh nắm vững lí thuyết giáo viên cần sử dụng PPDH phù hợp
với học sinh. Để học sinh được ôn luyện kiểm tra vốn kiến thức, có kĩ
năng xác định và sử dụng đúng từ loại. Tôi thường sử dụng hệ thống bài
tập khác nhau để giúp học sinh dễ phân biệt :
Cô bé, thầy giáo, dàn loại, mặc.
Gầy, thấp, bẩn, cũ,
đồng ca, bộ, quần áo.
rộng.
Dạng bài 3.
Muốn cho học sinh phân định nghĩa của từ chính xác cũng như xác định
đúng từ loại, ta nên đưa ra các bài tập mà học sinh còn nhầm lãn để các em
sửa.
Ví dụ 1: Tìm tính từ trong đoạn văn sau ( Lớp 4 tập 1).
Chủ Tịch Hồ Chí Minh, vị chủ tịch của Chính phủ Lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt đồng bào. Đó là một cụ già gầy gò, trán cao,
mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka ki cao cổ, đi dép cao
su trắng. Ông cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Lời nói của cụ điềm đạm, đầm
ấm, khúc triết, rõ ràng.
Theo Võ Nguyên Giáp
Ỏ bài tập này học sinh xác định các tính từ: gầy gò, cao, sáng, thưa, cao,
trắng, nhanh nhẹn một cách dễ dàng. Khi xét đến: điềm đạm, khúc triết, rõ
ràng các em lúng túng không xác định được đây thuộc từ loại nào. Vậy phải
giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, nhận biết đây là tính từ chỉ đặc điểm, tính
chất hay trạng thái. Sau đó giáo viên cần khắc sâu kiến thức này.
Ví dụ 2 : Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
Đi ngược, về xuôi
Nước chảy, đá mòn.
Các từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi”, “về” là
động từ, “ nước, đá” là danh từ. Nhưng các từ “ ngược, xuôi, mòn” các em
lúng túng và hay xếp các từ này vào loại tính từ. Vậy giáo viên phải phân
tích ý nghĩa của từ đó là: “ ngược” chỉ vùng núi, “ xuôi” là chỉ vùng đồng
bằng. Do vậy, “ngược, xuôi” là danh từ. Còn “mòn” là động từ (mức độ
giảm bớt).
Dạng bài 4.
nhảu,..
đẹp
Xinh đẹp, …
đẹp đẽ, …
Dạng bài 2.
Hãy xếp những từ phức được in nghiêng trong các câu dưới đây thành hai
loại: từ ghép và từ láy. Biết rằng các tiếng in đậm là tiếng có nghĩa (BT1
L4 T1):
Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đồng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi bên
sông Hồng. Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một vùng
bờ bãi sông Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông.
Theo Hoàng Lê
Từ ghép: ghi nhớ, đền thờ, tưởng nhớ, bờ bãi, .
Từ láy: nô nức.
Dạng bài 3.
Cho sẵn các từ yêu cầu học sinh sắp xếp thành 2 nhóm.
Ví dụ: Cho các từ sau: thật thà, bạn bè, bạn đường, ngoan ngoãn, giúp đỡ,
khó khăn, học hỏi, thành thật, thành 2 nhóm từ ghép và từ láy.
Từ ghép: bạn bè, bạn đường, giúp đỡ, học hỏi, thành thật.
Từ láy: thật thà, ngoan ngoãn, khó khăn.
Biện pháp 3. Bồi dưỡng hứng thú học tập
Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng tâm lí trong đời
sống mỗi người. Hứng thú tạo cho con người học tập, lao động được tốt
hơn. Nhà văn M. gocki nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công
việc”. Việc bồi dưỡng hứng thú học tạpp là một việc làm cần thiết. Để
tạo được hứng thú học tập cho các em, người giáo viên phải tạo được sự
thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp, khả
15
những câu hỏi thú vị góp phần giúp học sinh thi đua, ghi nhớ nhanh nội
dung kiến thức . Qua đó học sinh có thể tự nhiên, phát huy được tính chủ
động sáng tạo.
Góc Tiếng Việt: Trong lớp có hai bảng, một bảng chính và một bảng
giành cho các hoạt động khác. Do vậy, tôi thường ghi lên những câu đố về
phân môn Luyện từ và câu, những lỗi sai mà học sinh thường mắc phải và
yêu cầu học sinh sửa lại hay phần đố vui qua tranh cũng tạo cho học sinh
hứng thú.
Hình thức ngoại khoá Tiếng Việt được tổ chức thường xuyên, liên tục
nhằm tạo tính tích cực ở học sinh, sự thi đua giữa các tổ.
Biện pháp 8. Sử dụng từ điển
16
Để giúp học sinh hiểu rõ hơn nghĩa một số từ, phân biệt đúng từ ghép, từ
láy,… giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng từ điển Tiếng Việt.
Trước hết, tôi hướng dẫn cho các em nắm được nội dung cấu trúc của từ
điển giúp học sinh hiểu mục đích, tính chất của từ điển .
Hướng dẫn xem phần mục từ và ví dụ.
Hướng dẫn xem đến phần chú thích, các chữ viết tắt có trong từ điển.
Đặc biệt, chú ý đến thứ tự sắp xếp các tiếng mục từ theo thứ tự chữ cái
trong bảng chữ cái.
Tôi luôn yêu cầu học sinh tập suy nghĩ viết câu giải thích vào vở nháp sau
đó xem lại trong từ điển. Từ điển giúp hiểu rõ nghĩa một số từ, do vậy cần
hướng cho học sinh không nên lạm dụng, không nên phụ thuộc vì điều đó
sẽ làm cho học sinh thụ động.
Biện pháp 9. Phối hợp với gia đình
Trong quá trình giảng dạy tôi luôn có sự phối hợp với gia đình nhằm giúp
học sinh có ý thức, có thời gian học tập, tìm hiểu. Luôn trao đổi với gia
đình trong những lần họp phụ huynh hoặc qua sổ liên lạc về tầm quan
được ranh giới từ. từ ghép, từ láy.
Không xác định
đúng danh từ,
động từ, tính từ.
23
2
1
1
Việc phát hiện lỗi rồi thống kê, điều tra nguyên nhân gây lỗi. Từ đó đưa
ra các biện pháp khắc phục là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên.
Nhưng không phải cứ khi nào đưa ra giải pháp, biện pháp là có thể làm
ngay được mà điều đó cần cả một quá trình lâu dài đòi hỏi người giáo viên
phải kiên trì, nhẫn nại. Bởi vì, không phải học sinh nào cũng tiến bộ như
nhau. Kiến thức khoa học là vô hạn, khả năng tiếp thu của học sinh có giới
hạn nên tôi luôn lựa chọn, xác định nội dung và các yêu cầu phù hợp với
khả năng tiếp thu của các em. Nhằm đảm bảo sự hài hoà giữa mục tiêu
chung của môn học với mục tiêu chung của cấp học.
Việc rèn luyện sửa lỗi cho học sinh phải được tiến hành thường xuyên
liên tục trong tất cả các môn học cũng như trong thực tế giao tiếp. Bởi : Có
xuất phát từ thực tiễn nếu phản ánh đúng bản chất của việc dạy học mới
phát huy được tác dụng thực sự. Trong lĩnh vực này giao tiếp là hoạt động
thường ngày không thể thiếu của con người. Chỉ có trong giao tiếp thì các
yếu tố ngôn ngữ mới bộc lộ hết đặc điểm của mình. Vì vậy trong dạy học
cần phải hướng quá trình dạy từ, dạy câu vào giao tiếp để thực hiện mục
đích của việc dạy học. Dù dạy bất cứ yếu tố chính tả nào cũng phải
hướng dẫn học sinh thấy chúng được sử dụng trong giao tiếp như thế nào
và liên hệ với bản thân mình để có phương pháp tự luyện. Đặc biệt giáo
viên phải hướng dẫn cho các em có ý thức nói, viết đúng từ , câu ở mọi lúc,