Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp phân biệt được từ đơn, từ ghép, từ láy và danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 - Pdf 58

 A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
    Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở  ban đầu  
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm 
mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên bậc học Trung học 
cơ sở.
   Trong chương trình giáo dục phổ thông­ Cấp tiểu học, mỗi môn học đều 
xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.  
Do  vậy,  mỗi  giáo  viên  cần  có   sự   phối  hợp  nhịp  nhàng  giữa  nội  dung,  
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để đạt hiệu quả cao. Là một giáo 
viên qua 2 năm giảng dạy tôi thực sự trăn trở với mỗi bài giảng của mình.  
Làm thế  nào để  học sinh hiểu được nội dung bài học, biết vận dụng vào  
thực tế cuộc sống. Hiểu rõ được tầm quan trọng của từng môn học tôi luôn 
học hỏi, tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm qua các bài học vận dụng linh hoạt  
các PPDH, HTTC phù hợp với trình độ của học sinh.
    Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy sự phức tạp về việc “giúp học  
sinh hiểu nghĩa từ”. Làm thế nào để  các em hiểu được nghĩa của từ, phân 
loại đúng theo yêu cầu, dùng từ  chính xác để  đặt câu, để  viết văn và giao  
tiếp trong cuộc sống. Mặt khác, học sinh muốn viết câu đúng ngữ pháp, câu  
có hình ảnh, có cảm xúc học sinh phải hiểu rõ cấu tạo của từ. Trên cơ  sở 
đó, học sinh biết vận dụng vào thực tế. Do vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra 
một số giải pháp, biện pháp là kinh nghiệm nhỏ của mình giúp học sinh lớp 
4 phân biệt được từ đơn, từ ghép, từ láy và danh từ, động từ, tính từ.
II.Thực trạng của vấn đề
   1. Tình hình nhà trường
    Trường Tiểu học Thành Vinh là một trường nắm cách trung tâm huyện 
khoảng 17 km, có 17 lớp với 25 cán bộ  giáo viên. 100% cán bộ  giáo viên 
đạt trình độ  chuẩn và trên chuẩn, có lòng yêu nghề  mến trẻ  tận tuỵ  với 
công việc của mình. Luôn trau dồi , học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ  nhau cùng 
tiến bộ. 
   2.Địa phương. Là một xã miền núi, đời sống của nhân dân trong vùng đa 

­ Không chịu học bài, rèn luyện, ghi nhớ các bài học.
­ Không tự  rèn luyện, học hỏi, tự  trao đổi  ở  nhà, vận dụng vào thực tế 
cuộc sống.
+ Về phía giáo viên
­ Quá trình bồi dưỡng, tích luỹ  kinh nghiệm về  vốn từ  của học sinh còn 
hạn chế.
­ Chưa hệ thống được một số dạng bài tập.
  Từ  việc tìm hiểu nguyên nhân trên tôi đã tiến hành tìm hiểu, điều tra tại 
lớp mà mình thực dạy. Kết quả thu được như sau:
           Lỗi  
       HS sai
Không phân 
Không xác định 
Không   xác   định   đúng 
định được ranh  đúng từ ghép, từ  danh  từ,   động  từ,  tính 
giới từ.
láy.
từ .
TS HS
23
6
7
5
   Từ những nguyên nhân trên, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm nhỏ để 
hướng dẫn học sinh  khắc phục các lỗi trên.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Các giải pháp thực hiện
2



Từ
Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Từ láy
TG   tổng  TG   phân  Láy   âm  Láy 
Láy  âm và  Láy 
hợp
loại
đầu
vần
vần
tiếng
1.2. Cách phân định ranh giới từ.
    Để tách câu thành từng từ, ta phải chia câu thành từng phần nhỏ có nghĩa  
sao cho được nhiều phần nhất ( chia cho đến phần nhỏ nhất). Vì nếu chia  
câu thành từng phần có nghĩa nhưng chưa phải là nhỏ  nhất thì phần đó có  
thể là một cụm từ chứ không phải là một từ.
     Dựa vào tính hoàn chỉnh về  cấu tạo và về  nghĩa của từ, ta có thể  xác 
định được 1 tổ hợp nào đó là một từ ( từ phức) hay 2 từ đơn bằng cách xem  
xét tổ hợp ấy về 2 mặt: kết cấu và nghĩa.
Ví dụ. Bài 1 ( Phần nhận xét). Tiếng việt 4­ Tập 1­ Từ đơn và từ phức.
* Hướng dẫn học sinh xác định từ đơn, từ phức.
Cách 1. Dùng thao tác chêm, xen.

3


    Nếu quan hệ giữa các tiếng trong tổ hợp mà lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể 
chêm xen một tiếng khác từ  bên ngoài vào mà nghĩa của tổ  hợp  ấy về  cơ 

nhau. Đó là từ láy.
a) Từ ghép. Là từ do 2 hoặc nhiều tiếng ghép lại tạo thành nghĩa chung.
Từ ghép được chia thành 2 kiểu:
­ Từ  ghép có nghĩa tổng hợp ( Từ  ghép hợp nghĩa, từ  ghép đẳng lập, từ 
ghép song song): Là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng hơn,  
lớn hơn, khái quát hơn so với nghĩa các tiếng trong từ.
­ Từ  ghép có nghĩa phân loại (từ  ghép phân loại, từ  ghép chính phụ): chỉ 
một loại nhỏ thuộc phạm vi nghĩa của tiếng thứ nhất.
4


* Lưu ý:
­ Các tiếng trong từ ghép có nghĩa tổng hợp thường cùng một kiểu từ loại (  
cùng danh từ hoặc cùng động từ,..).
­ Các từ  như: chèo bẻo, bồ  kết,  ễnh  ương, bồ  hóng,.., axít, cà phê, ôtô, 
môtô,..có thể  cho là từ  ghép ( theo định nghĩa) hoặc là từ  đơn ( tuy là hai 
tiếng nhưng gộp lại mới có nghĩa, còn tách rời thì không có nghĩa. Những 
trường hợp này gọi là từ đơn đa âm).
b) Từ  láy: Là từ  phối hợp những tiếng có âm đầu hoặc vần ( hay cả  âm 
đầu và vần) giống nhau. Căn cứ vào bộ phận được lặp lại, người ta chia từ 
láy theo 4 kiểu: Láy tiếng, láy vần, láy âm, láy cả âm và vần. Căn cứ vào số 
lượng tiếng được lặp lại, người ta chia thành 3 dạng từ láy: láy đôi, láy ba, 
láy tư.
Theo truyền thống có thể chia từ láy làm 3 loại lớn:
* Từ  tượng thanh ( bắt chước âm thanh): Là từ  láy mô phỏng, gợi tả  âm  
thanh trong thực tế: Ví dụ: rì rào, ào ào, lóc cóc, ùng oàng,…
* Từ  tượng hình ( bắt chước hình dáng): Là từ  láy gợi tả  hình  ảnh, hình  
dáng của người, vật; gợi tả màu sắc, mùi vị.
Ví dụ: Gợi tả dáng dấp: lênh khênh, lè tè, lom khom, khẳng khiu,..
Gợi tả màu sắc: chon chót, sặc sỡ, lấp lánh,…

chặt chẽ không thể tách rời nhau được.Ví dụ: truyện cổ, ông cha, ghi nhớ, 
đền thờ, ….( truyện + cổ, ông + cha)
­ Nếu các từ chỉ còn một tiếng có nghĩa, còn một tiếng đã mất nghĩa nhưng 
hai tiếng không có quan hệ về âm thì ta cũng xếp vào nhóm từ ghép.
Ví dụ: tưởng nhớ, ngay đơ,…
+ Từ láy
­ Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm ( Các từ khi tách ra có một  
tiếng có nghĩa (nghĩa gốc), một tiếng không có nghĩa (mờ nghĩa)).
Ví dụ: nô nức, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp,..
­ Các từ có một tiếng có nghĩa còn một tiếng không có nghĩa rõ ràng nhưng  
các tiếng trong từ  được biểu hiện trên chữ  viết không có phụ  âm đầu thì 
cũng xếp vào nhóm từ láy ( láy vắng khuyết phụ âm đầu).VD: ồn ào, ầm ĩ, 
ấm áp, ….
­ Các từ có một tiếng có nghĩa còn một tiếng không có nghĩa rõ ràng nhưng  
các tiếng có phụ  âm đầu được ghi bằng các con chữ  khác nhau nhưng có 
cùng cách đọc ( c/ k/ q; ng/ ngh; g/ gh) cũng được xếp vào nhóm từ láy.
Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,…
* Lưu ý: Trong thực tế, có nhiều từ  ghép ( gốc Hán) có hình thức ngữ  âm  
giống từ láy, nhưng thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng học sinh rất khó 
phân biệt. Do vậy , ta nên liệt kê cho học sinh ghi nhớ.
Ví dụ: bình minh, cần mẫn, căn cơ, hoan hỉ, chuyên chính, chân chất, hảo 
hạng,..
­ Ngoài ra, có những từ có cả quan hệ về âm và về nghĩa ( từ Thuần Việt) 
như: tắc kè, bồ  hóng, bồ  kết, bù nhìn,  ễnh  ương,…hay các từ  vay mượn  
như: mì chính, cà phê, xà phòng. 
  Trong quá trình dạy, tôi thường lấy một số  từ  đặc biệt để  học sinh xác 
định.
Ví dụ: bạn bè­ Có học sinh cho rằng đó là từ ghép nhưng cũng có học sinh 
cho rằng đó là từ láy.
Học sinh giải thích:

     Hư  từ  không có khả  năng một mình tạo thành câu hay làm thành phần 
câu như  thực từ  nhưng rất cần thiết trong việc xây dựng câu. Chức năng 
của hư từ là làm công cụ ngữ pháp.
­ Mục đích của việc phân chia từ loại là chỉ ra các đặc điểm về ý nghĩa ngữ 
pháp và về  hoạt động cú pháp của từ dùng để  đặt câu. Nó được chia theo 
các tiêu chuẩn sau:
+ Ý nghĩa khái quát của từ.  Khả năng kết hợp của từ. Chức năng cú pháp  
của từ.
   Với phạm vi sáng kiến này chỉ đề cập đến danh từ, động từ, tính từ 
a) Danh từ: Là những từ  chỉ  sự  vật ( Người, vật, hiện tượng, khái niệm, 
đơn vị).
Ví dụ; Tìm các từ chỉ sự vật và xếp vào nhóm thích hợp (Tiếng việt 4­ Tập  
1).
                                                     Mang theo truyện cổ tôi đi
                                             Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
                                                    Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
                                             Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
                                                    Đời cha ông với đồi tôi
                                             Như con sông với chân trời đã xa
                                                    Chỉ còn truyện cổ thiết tha
                                             Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.
                                                                                     Lâm Thị Mỹ Dạ
­ Từ chỉ người: ông cha, cha ông.
­ Từ chỉ vật: sông, dừa, chân trời.
7


­ Từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng.
­ Từ chỉ khái niệm: cuộc sống, truyện cổ, tiếng, xưa, đời. ( biểu thị những  
cái chỉ  có trong nhận thức của con người, không có hình thù, không chạm 

­ Danh từ chỉ khái niệm: 
Là danh từ  có ý nghĩa trừu tượng. Là loại danh từ  không chỉ  vật thể, các 
chất liệu hay các đơn vị  sự  vật cụ  thể  mà biểu thị  các khái niệm trừu 
tượng như: tư  tưởng, đạo đức, phương châm, chủ  trương, tình yêu,…Các 
khái niệm này chỉ  tồn tại trong nhận thức, trong ý thức con người, không 
vật chất hoá hay cụ thể hoá được. Nói cách khác, các khái niệm này không  
có hình thù, không cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan. Đây là loại 

8


danh từ học sinh khó xác định nhất. Nên giáo viên cần dựa vào văn cảnh cụ 
thể đển giải thích cho học sinh.
­ Danh từ chỉ đơn vị: Hiểu theo nghĩa rộng, danh từ chỉ đơn vị là những từ 
chỉ đơn vị các sự vật. Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa, vào phạm vi sử dụg  
có thể chia thành các loại nhỏ sau:
+ Danh từ  chỉ  đơn vị  tự  nhiên: Các danh từ  này chỉ  rõ các loại sự  vật nên 
còn được gọi là danh từ chỉ loại. Ví dụ: cục, mẩu, miếng, tờ, quyển,…
+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường: Các danh từ này dùng để tính đếm, đo đếm 
các sự vật, vật liệu, chất liệu.Ví dụ: lạng, cân, yến, sải, gang,…
+ Danh từ  chỉ  đơn vị  tập thể: Dùng để  tính đếm các sự  vật tồn tại dưới 
dạng tập thể, tổ hợp. Ví dụ: đôi, cặp, dãy, bó,…
+ Danh từ chỉ đơn vị thời gian: giây, phút, giờ,…
+ Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức: xóm, thôn, xã, tiểu đội,…
b) Đ
  ộng từ ( ĐT 
 
 ): 
­ Khái niệm: ĐT là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
­ Phân loại: Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và khả năng sử dụng độc lập hay  

  1a. ĐT chỉ quan hệ: 
­ ĐT chỉ quan hệ đồng nhất
­ ĐT chỉ quan hệ quá trình biến hoá: trở nên, trở thành.
­ ĐT chỉ quan hệ đối chiếu, so sánh: như, giống, khác, tựa...
  2b. ĐT chỉ tình thái: 
­ ĐT tình thái chỉ  sự  cần thiết và khả  năng: nếu, cần, phải, cần phải, có 
thể, …
­ ĐT tình thái chỉ ý chí, ý muốn: định, toan, nỡ, mong......
­ ĐT tình thái chỉ sự chịu đựng, chỉ sự tiếp thu: bị, phải, được....
* Một số lưu ý về động từ chỉ trạng thái.
   Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ  chỉ  trạng thái là: nếu như 
động từ chỉ hoạt động, hành động, có kể kết hợp với từ song ở phía sau. Ví 
dụ: ăn xong, đọc xong,… thì động từ  trạng thái không kết hợp với xong  ở 
phía sau ( không nói: còn xog, hết xong,…). 
­ Một số  nội động từ  sau đây cũng được coi là động từ  trạng thái: nằm, 
ngồi, nghỉ, thức,…
­ Một số  từ  vừa được coi là động từ  chỉ  hành động lại vừa được coi là 
động từ chỉ trạng thái.
­  Một  số   động từ  chuyển  nghĩa  thì   được coi  là động  từ   chỉ  trạng thái 
( trạng thái tồn tại).
Ví dụ: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! ( Tố Hữu). Anh ấy đứng tuổi rồi.
­ Một số  từ  mang đặc điểm ngữ  pháp của tính từ  ( kết hợp được với các 
tính từ chỉ mức độ).
+ Các ngoại động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái ( trạng  
thái tâm lí): yêu, ghét, kính trọng, thèm,….các từ  này mang đặc điểm ngữ 
pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ.
+ Có một số  động từ  chỉ  hành động được sử  dụng như  một động từ  chỉ 
trạng thái.
Ví dụ: Trên đường treo một bức tranh. Dưới gốc cây có buộc một con  
ngựa.

ngoan, hư, nặng ,nhẹ, sâu sắc, ...)
c) Từ chỉ trạng thái
       Trạng thái là tình trạng của một sự  vật hoặc một con người, tồn tại  
trong một thời gian nào đó. Từ  chỉ  trạng thỏi là từ  chỉ  trạng thái tồn tại 
của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan.
Ví dụ: Trời đang đứng gió. Người bệnh đang hôn mê
   Xét về mặt từ loại Từ chỉ trạng thỏi  có thể là động từ, có thể là tính từ 
hoặc mang đặc điểm của cả động từ và tính từ (từ trung gian), nhưng trong  
chương trình tiểu học xếp vào nhóm động từ.
3. 2. Cách phân biệt các danh từ, động từ, tính từ.
    Để  phân biệt các danh từ, động từ, tính từ  dễ  lẫn lộn, ta thường dùng  
phép liên kết ( khả năng kết hợp) với các phụ từ.
* Danh từ
­ Có khả năng kết hợp với các từ  chỉ số  lượng như: mọi, một, hai, những,
…ở phía trước ( những khái niệm, những tình cảm, những nỗi đau,…).
­ Danh từ kết hợp với các từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ,…ở phía sau.
­ Danh từ  có khả  năng tạo câu hỏi với từ  nghi vấn” nào” đi sau ( lợi ích 
nào?...) 
­ Các động từ và tính từ đi kèm: sự, cuộc, nỗi, niềm,…ở phía trước thì tạo  
thành một danh từ mới ( sự hi sinh, cuộc đấu tranh, nỗi nhớ, niềm vui,…).
­ Chức năng ngữ pháp ngữ pháp thay đổi cũng dẫn đến sự thay đổi về thể 
loại.
11


Ví dụ: Yêu cầu học sinh đặt câu với từ cho dưới sao cho từ đó là động từ, 
danh từ, tính từ.
Cân­ Mẹ em mua một chiếc cân đĩa ( cân­ danh từ).
         Mẹ cân một con gà ( cân ­ động từ).
         Hai bên cân sức cân tài ( cân là tính từ).

­ DT trừu tượng (2 âm tiết) chuyển thành động từ: Những nhận thức mới/ 
nhận thức lại vấn đề; phát triển tư duy/ đang tư duy.
­ ĐT chỉ cảm nghĩ nói năng (2 âm tiết) chuyển thành DT: đang suy nghĩ/ 
những suy nghĩ ấy; đang tính toán/ những tính toán ấy ...
Ví dụ 3. Chuyển DT thành TT và ngược lại.
12


a) Mùa xuân đã về.
              DT
b) Cố ấy đang trong thời kì xuân sắc.
                                              TT
Từ “xuân” trong câu a là danh từ ( chỉ một mùa trong năm), từ “xuân” trong 
câu b là tính từ ( chỉ sắc vẻ trẻ trung , tươi đẹp).
 II. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1. Giúp HS hiểu nghĩa của từ.
    Vốn từ  Tiếng việt có số  lượng lớn đến hàng chục vạn từ  và luôn luôn 
được bổ sung từ mới. Mỗi từ có ý nghĩa riêng. Nhưng bên cạnh những nét  
riêng của từng từ, có thể  tìm thấy một số  lượng từ  nào đó, có những nét 
nghĩa chung, khái quát. Dựa vào những nét nghĩa khái quát đó, có thể  tập  
hợp lại thành từng lớp, từng loại. Ý nghĩa khái quát của từ bao gồm các nét 
nghĩa liên quan đến ý nghĩa từ vựng và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa 
ngữ  pháp. Do vậy, khi hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ  cần sử  dụng các  
phương pháp giải nghĩa phù hợp như dùng tranh ảnh, vật thật, dựa vào văn 
cảnh,….
Biện pháp 2. Xây dựng hệ thống bài tập..
    Để  học sinh nắm vững lí thuyết giáo viên cần sử  dụng PPDH phù hợp 
với học sinh. Để  học sinh được ôn luyện kiểm tra vốn kiến thức, có kĩ  
năng xác định và sử  dụng đúng từ  loại. Tôi thường sử  dụng hệ  thống bài 
tập khác nhau để giúp học sinh dễ phân biệt :

Cô   bé,   thầy   giáo,   dàn  loại, mặc.
Gầy,   thấp,   bẩn,   cũ, 
đồng ca, bộ, quần áo.
rộng.
Dạng bài 3.
    Muốn cho học sinh phân định nghĩa của từ  chính xác cũng như  xác định 
đúng từ loại, ta nên đưa ra các bài tập mà học sinh còn nhầm lãn để các em  
sửa.
Ví dụ 1: Tìm tính từ trong đoạn văn sau ( Lớp 4­ tập 1).
     Chủ Tịch Hồ Chí Minh, vị chủ tịch của Chính phủ Lâm thời nước Việt 
Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt đồng bào. Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, 
mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka ki cao cổ, đi dép cao  
su trắng. Ông cụ  có dáng đi nhanh nhẹn. Lời nói của cụ  điềm đạm, đầm 
ấm, khúc triết, rõ ràng.
                                                                                  Theo Võ Nguyên Giáp
    Ỏ bài tập này học sinh xác định các tính từ: gầy gò, cao, sáng, thưa, cao,  
trắng, nhanh nhẹn một cách dễ dàng. Khi xét đến: điềm đạm, khúc triết, rõ 
ràng các em lúng túng không xác định được đây thuộc từ loại nào. Vậy phải 
giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, nhận biết đây là tính từ chỉ đặc điểm, tính 
chất hay trạng thái. Sau đó giáo viên cần khắc sâu kiến thức này.
  Ví dụ 2 : Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
                                                Đi ngược, về xuôi
Nước chảy, đá mòn.
   Các từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi”, “về” là  
động từ, “ nước, đá” là danh từ. Nhưng các từ “ ngược, xuôi, mòn” các em  
lúng túng và hay xếp các từ  này vào loại tính từ. Vậy giáo viên phải phân  
tích ý nghĩa của từ  đó là: “ ngược” chỉ  vùng núi, “ xuôi” là chỉ  vùng đồng 
bằng. Do vậy, “ngược, xuôi” là danh từ. Còn “mòn” là động từ  (mức độ 
giảm bớt).
Dạng bài 4.

nhảu,..
đẹp
Xinh đẹp, …
đẹp đẽ, …
Dạng bài 2.
Hãy xếp những từ  phức được in nghiêng trong các câu dưới đây thành hai  
loại: từ ghép và từ láy. Biết rằng các tiếng in đậm là tiếng có nghĩa (BT1­  
L4­ T1):
Nhân dân  ghi nhớ  công  ơn Chử  Đồng Tử, lập  đền thờ  ở  nhiều nơi bên 
sông Hồng. Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả  một vùng 
bờ bãi sông Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông.
                                                                                        Theo Hoàng Lê
­ Từ ghép: ghi nhớ, đền thờ, tưởng nhớ, bờ bãi, .
­ Từ láy: nô nức.
Dạng bài 3.
Cho sẵn các từ yêu cầu học sinh sắp xếp thành 2 nhóm.
Ví dụ: Cho các từ sau: thật thà, bạn bè, bạn đường, ngoan ngoãn, giúp đỡ, 
khó khăn, học hỏi, thành thật, thành 2 nhóm từ ghép và từ láy.
­ Từ ghép: bạn bè, bạn đường, giúp đỡ, học hỏi, thành thật.
­ Từ láy: thật thà, ngoan ngoãn, khó khăn.
Biện pháp 3. Bồi dưỡng hứng thú học tập
      Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng tâm lí trong đời  
sống mỗi người. Hứng thú tạo cho con người học tập, lao động được tốt 
hơn. Nhà văn M. gocki nói: “Thiên tài nảy nở  từ  tình yêu đối với công  
việc”. Việc bồi dưỡng hứng thú học tạpp là một việc làm cần thiết. Để 
tạo được hứng thú học tập cho các em, người giáo viên phải tạo được sự 
thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp, khả 

15


những câu hỏi thú vị  góp phần giúp học sinh thi đua, ghi nhớ  nhanh nội  
dung kiến thức . Qua đó học sinh có thể  tự  nhiên, phát huy được tính chủ 
động sáng tạo. 
   Góc Tiếng Việt:   Trong lớp có hai bảng, một bảng chính và một bảng 
giành cho các hoạt động khác. Do vậy,  tôi thường ghi lên những câu đố về 
phân môn Luyện từ và câu, những lỗi sai mà học sinh thường mắc phải và  
yêu cầu học sinh sửa lại hay phần đố  vui qua tranh cũng tạo cho học sinh  
hứng thú.
   Hình thức ngoại khoá Tiếng Việt được tổ  chức thường xuyên, liên tục 
nhằm tạo tính tích cực ở học sinh, sự thi đua giữa các tổ.
Biện pháp 8. Sử dụng từ điển
16


  Để giúp học sinh hiểu rõ hơn nghĩa một số từ, phân biệt đúng từ ghép, từ 
láy,… giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng từ điển Tiếng Việt.
­ Trước hết, tôi hướng dẫn cho các em nắm được nội dung cấu trúc của từ 
điển giúp học sinh hiểu mục đích, tính chất của từ điển .
­ Hướng dẫn xem phần mục từ và ví dụ.
­ Hướng dẫn xem đến phần chú thích, các chữ  viết tắt có trong từ  điển. 
Đặc biệt, chú ý đến thứ  tự  sắp xếp các tiếng­ mục từ  theo thứ tự chữ cái 
trong bảng chữ cái.
   Tôi luôn yêu cầu học sinh tập suy nghĩ viết câu giải thích vào vở nháp sau  
đó xem lại trong từ điển. Từ điển giúp hiểu rõ nghĩa một số từ, do vậy cần  
hướng cho học sinh không nên lạm dụng, không nên phụ  thuộc vì điều đó  
sẽ làm cho học sinh thụ động. 
Biện pháp 9. Phối hợp với gia đình
   Trong quá trình giảng dạy tôi luôn có sự phối hợp với gia đình nhằm giúp  
học sinh có ý thức, có thời gian học tập, tìm hiểu. Luôn trao đổi với gia  
đình trong những lần họp phụ  huynh hoặc qua sổ  liên lạc về  tầm quan 

được ranh giới từ. từ ghép, từ láy.

Không   xác   định 
đúng   danh   từ, 
động từ, tính từ.

23
2
1
1
   Việc phát hiện lỗi rồi thống kê, điều tra nguyên nhân gây lỗi. Từ đó đưa 
ra các biện pháp khắc phục là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên. 
Nhưng không phải cứ  khi nào đưa ra giải pháp, biện pháp là có thể  làm  
ngay được mà điều đó cần cả một quá trình lâu dài đòi hỏi người giáo viên  
phải kiên trì, nhẫn nại. Bởi vì, không phải học sinh nào cũng tiến bộ  như 
nhau. Kiến thức khoa học là vô hạn, khả năng tiếp thu của học sinh có giới  
hạn nên tôi luôn lựa chọn, xác định nội dung và các yêu cầu phù hợp với 
khả  năng tiếp thu của các em. Nhằm đảm bảo sự  hài hoà giữa mục tiêu 
chung của môn học với mục tiêu chung của cấp học.
    Việc rèn luyện sửa lỗi cho học sinh phải được tiến hành thường xuyên  
liên tục trong tất cả các môn học cũng như trong thực tế giao tiếp. Bởi : Có 
xuất phát từ thực tiễn nếu phản ánh đúng bản chất của việc dạy học mới  
phát huy được tác dụng thực sự. Trong lĩnh vực này giao tiếp là hoạt động 
thường ngày không thể thiếu của con người. Chỉ có trong giao tiếp thì các 
yếu tố ngôn ngữ mới bộc lộ hết đặc điểm của mình. Vì vậy trong dạy học 
cần phải hướng quá trình dạy từ, dạy câu vào giao tiếp để  thực hiện mục 
đích của việc dạy học. Dù dạy bất cứ  yếu tố  chính tả  nào cũng phải  
hướng dẫn học sinh thấy chúng được sử dụng trong giao tiếp như thế nào  
và liên hệ  với bản thân mình để  có phương pháp tự  luyện. Đặc biệt giáo  
viên phải hướng dẫn cho các em có ý thức nói, viết đúng từ , câu ở mọi lúc,  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status