SKKN: Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện - Pdf 58

CỘNG HOÀ XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc
                                                    ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KỸ THUẬT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ  4­5 
TUỔI NHẰM GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN MỘT TOÀN DIỆN

                                      
                         

Quảng Bình, tháng 3 năm 2019


CỘNG HOÀ XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                     Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc
                                             ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KỸ THUẬT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 4­5 
TUỔI NHẰM GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Họ và tên: Nguyễn Thị Liên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường MN Sen Thủy, Lệ Thủy, QB


Quảng Bình, tháng 3 năm 2019
Đề tài: “Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4­5 tuổi nhằm giúp  


còn rất quan trọng đối với trẻ lứa tuổi mầm non trong giai đoạn hiện nay.


Trong năm học 2018­2019, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân 
công phụ trách lớp Mẫu giáo 4­5 tuổi . Đây là lứa tuổi trẻ bắt đầu nhận thức, 
phân biệt được những   hành vi đúng sai, biết được những gì mình nên hay 
không nên, thậm chí bước đầu trẻ  còn biết tự  giải quyết được một số  tình 
huống do cô tạo ra trong các hoạt động. Vì thế, tôi đã chọn đề  tài  “Một  
số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4­5 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển  
toàn diện”.
1.2. Điểm mới và phạm vị áp dụng của đề tài
1.2.1. Điểm mới của đề tài
Tôi đã sữ dụng một số biện pháp mới có tính khả thi cao, phù hợp với 
tình hình của lớp, tác động và có hiệu quả rất lớn về rèn kỹ năng sống cho 
trẻ 4­5 tuổi. Các biện pháp như: Tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý 
của trẻ  4 ­5 tuổi và xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ; Xây 
dựng nôi dung giáo d
̣
ục kỹ năng sống cho  trẻ   4 ­ 5 tuổi; Tổ chức các hoạt 
động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động cụ thể hàng 
ngày; Tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ; Phối hợp phụ huynh giáo 
dục kỹ năng sống cho trẻ.
1.2.2. Phạm vi áp dụng của đề tài: 
Với đề tài này, tôi đã áp dụng tại lớp nơi tôi đang công tác nhằm rèn kỹ 
năng sống cho trẻ 4­5 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện năm học 2018­
2019. Đề  tài này có thể áp dụng rộng rãi có hiệu quả  đối với các nhóm lớp 
mầm non trong toàn trường, toàn huyện.
2.Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung cần giải quyết
          Con người khi đã có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có 

̣ ỹ  năng thực hiện 
các nghi thưc văn hoa ăn uông.
́
́
́
Đôi v
́ ơi giao viên m
́ ́
ầm non thường tập trung lo lắng cho nhưng tre co
̃
̉ ́ 
nhưng vân đê vê hanh vi va kha năng tâp trung trong nh
̃
́ ̀ ̀ ̀
̀ ̉
̣
ững năm tháng đầu 
tiên trẻ đến trường. Đơn giản là vì những trẻ này thường không có khả năng 
chờ  đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều này  
làm cho trẻ  không thể  tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy. Vì vậy,  
giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian vào đầu năm học để  giúp trẻ có được 
những kỹ năng sống cơ bản ở trường mầm non.
2.1.1. Thuận lợi :

Năm học 2018­2019 nhà trường đã chỉ  đạo 100% nhóm lớp thực hiện  
hình thức dạy học lấy trẻ làm trung tâm.  Vơi nh
́ ưng biên phap cu thê đ
̃
̣
́ ̣

sạch sẽ nên thuân l
̣ ợi trong viêc th
̣ ực hiên nôi dung xây d
̣
̣
ựng môi trương giao
̀
́ 
duc sach đep, an toan cho tre. 
̣
̣
̣
̀
̉
  Phân chia nhóm lớp theo độ  tuổi rỏ  ràng theo từng khu vực nên giáo 
viên dễ tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của từng nhóm lớp mình phụ trách.
2.1.2.Khó khăn:


*  Đôi v
́ ơi giao viên m
́ ́
ầm non
Một số giao viên ch
́
ưa hiêu nhiêu vê n
̉
̀ ̀ ội dung phai day tre l
̉
̣

̃
̣ ợi va kho khăn trong qua trinh th
̀ ́
́ ̀
ực hiên, tôi đa suy nghi,
̣
̃
̃ 
nghiên cưu tai liêu đê tao điêu kiên thuân l
́ ̀ ̣
̉ ̣
̀
̣
̣ ợi giup cha me day tre mâm non cac
́
̣ ̣
̉
̀
́ 
ky năng sông qua đ
̃
́
ề tài: “Kinh nghiệm dạy trẻ mâm non k
̀
ỹ năng sống ” 
* Qua khảo sát đầu năm, tôi nhận được kết quả như sau:
* Qua khảo sát đầu năm, tôi nhận được kết quả như sau:
Nội dung giáo dục lễ giáo

Kết quả


2.2. Biện pháp thực hiện


Trước những khó khăn như  vậy, tôi cảm thấy rất băn khoăn và suy  
nghĩ xem phải dạy trẻ như thế nào, bằng cách nào để tất cả trẻ lớp tôi tự tin, 
có được những hành vi lành mạnh và biết cách  ứng xử với mọi người xung  
quanh mình. Từ  những suy nghĩ đó, tôi mạnh dạn đưa ra một số  biện pháp 
nhằm giải quyết vấn đề trên như sau:
2.2.1. Biện pháp 1:  Tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý 
của trẻ  4 ­5 tuổi và xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Để  bắt đầu với đề  tài này, tôi đã xác định được công việc trước tiên  
cần phải làm đó là tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4­5 tuổi để  từ 
đó có được cơ sở cho việc đưa ra các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 
phù hợp nhất.
Trẻ 4­5 tuổi ngày càng ý thức mình là một thành viên trong tập thể, trẻ 
rất dễ  dàng sử  dụng vốn từ  vựng để  khen, chê hay “chỉnh” những đứa trẻ 
khác nhằm hướng sự  chú ý của người khác vào chúng và thuyết phục các 
bạn cùng chơi khác chấp nhận ý tưởng mà chúng đưa ra.
Trẻ rất thích chơi với trẻ khác, có thể dọa dẫm để dành lại một đứa bạn  
hoặc để được tham gia vào một nhóm bạn. Vậy nên, đôi khi ta có thể nghe thấy 
chúng nói với nhau “mình là bạn nhé” hoặc “mình không chơi với bạn đâu”
Trẻ 4­5 tuổi cần nhiều không gian để chơi vì trò nào chúng cũng có thể 
chơi được, chúng có thể  tranh dành đồ  chơi thậm chí còn đánh đấm nhau để 
dành được đồ chơi.
Trẻ  thích được khám phá những điều mới lạ. Chúng tin vào những gì  
chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm vào. Ở tuổi này trẻ cũng rất tò mò và hay  
đặt câu hỏi “Tại sao?”
Từ việc tìm hiểu và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ 
đã giúp tôi xây dựng nội dung giáo dục kỹ  năng sống cho trẻ  được dễ  dàng 

với các bạn.
* Giáo dục cho trẻ ky năng s
̃
ống tự tin :
Một trong những kỹ  năng quan trọng mà giáo viên cần chú tâm là phát triển 
sự  tự  tin, lòng tự  trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ  cảm nhận được mình là 
ai, cả  về  cá nhân cũng như  trong mối quan hệ  với những người khác. Kỹ 
năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.
* Giáo dục cho trẻ tính tò mò, ham hoc hoi, kh
̣
̉
ả năng thấu hiểu:
Đây la m
̀ ột trong những kỹ  năng quan trọng nhất cần có  ở  trẻ  vào giai 
đoạn này là sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý 
tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho 
thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác 
lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được.

 

* Giáo dục cho trẻ ky năng giao ti
̃
ếp:

Giao viên c
́
ần day tre bi
̣
̉ ết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của  

­ Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua việc tạo tình huống cụ thể
­ Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi
a, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ đích:
* Mục đích:
Trẻ ở lứa tuổi này, học mà chơi, chơi mà học. Trẻ dễ nhớ nhưng cũng  
rất nhanh quên nên việc lồng nội dung giáo dục kỹ  năng sống  vào   hoạt  
động học chiếm  nhiều  ưu thế  nhằm  hình  thành  cho trẻ  những thói  quen, 
hành vi có văn hoá.
Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến  
khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giao viên c
́
ần phải biêt khai thac phat huy
́
́
́
 
năng khiêu, tiêm năng sang tao 
́
̀
́
̣ ở môi tre. Vì m
̃ ̉
ỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc 
biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để  trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình 
huống của cuộc sống.
Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc 
giáo dục trẻ môt cách thich h
̣
́ ợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát 


những bức ảnh đó  ­> trẻ rất hào hứng, phấn khởi khi những bức ảnh của nhà 
mình được cô giáo đưa ra trưng bày.Sau đó tôi cho trẻ kể về gia đình minh bằng 
những bức hình đó.Tôi nhận thấy những trẻ lên kể rất vui vẻ, rất tự hào khi kể 
cho cô giáo và các bạn nghe về  những thành viên trong gia đình mình, và kỷ 
niệm gắn với bức ảnh đó.
b, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua các hoạt động vui chơi


* Mục đích: Đối với trẻ  mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò 
chủ  đạo trong hoạt động của trẻ   ở  trường. Thông qua giờ  chơi, trẻ  được  
đóng các vai khác nhau trong xã hội, trẻ đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ 
nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả  những kiến thức và kinh nghiệm cuộc 
sống mà trẻ có sẽ  được trẻ  thể  hiện qua họat động vui chơi. Chính vì vậy, 
tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách 
giải quyết, cũng như   quan sát những điều trẻ  thể  hiện được những kiến 
thức mà trẻ đã có. Thông qua hoạt động vui chơi trẻ được trải nghiệm nhiều  
vai chơi khác nhau trong cuộc sống từ  đó biết cách  ứng xử  với mọi người 
xung quanh.
* Cách thực hiện:
Qua các góc chơi như: góc chơi xây dựng, góc phân vai, góc chơi vận 
động, góc nghệ thuật ….Cô giáo luôn là người bạn chơi cùng trẻ  để  hướng 
dẫn trẻ  giao lưu với nhau trong từng góc, từng nhóm. Cô giáo gợi ý, hướng  
dẫn trẻ  cách chơi, cách xưng hô khi chơi. Cô chơi với trẻ  như  người bạn 
thật sự của trẻ  để  cho trẻ  học cách  ứng xử  với nhau khi chơi, biết đối đáp  
với nhau trong quá trình chơi.
Ví dụ: Qua góc chơi phân vai với trò chơi nấu ăn­ gia đình:
Trẻ được làm quen với những đồ  dùng, vật dụng khác nhau, (bộ  đồ 
bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự 
sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ, ăn uống 
từ  tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm  ấm, những cuộc  

và rèn luyện cho trẻ  biết phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau khi tham gia 
chơi thì mới đạt được kết quả mong đợi.
c, Giáo dục kỹ  năng sống cho trẻ  thông qua việc tạo tình huống cụ  
thể:
Trước đây, với những nội dung dạy trẻ  nhận   biết một số  nguy cơ 
không an toàn và cách phòng tránh thì giáo viên thường   giáo dục trẻ  với 
những lời dặn dò nhắc nhở  đơn giản thông qua   nội dung các bài thơ, câu 
chuyện,   bài   hát   có   nội   dung   giáo   dục   dạy   trẻ.   Song   trên   thực   tế,   trong 
chương trình có rất ít bài hát, bài thơ, câu chuyện có nội dung đó. Vì vậy, 
trong  năm   học  này,  tôi   nghiên  cứu   lựa   chọn   những tình huống bất   trắc 
thường xảy ra đưa ra những tình huống cụ thể để  dạy trẻ  có kỹ năng ứng  
biến  khi gặp tình huống khó khăn, biết cách   suy nghĩ và giải quyết .
Ví   dụ:  với   chủ   điểm “Bản   thân”. Trước   đây,   thông   qua   câu 
chuyện “Chú vịt xám”   hoặc   nội dung bài hát “Đàn Vịt con” chúng tôi chỉ 
dùng lời giáo dục trẻ:“Khi đi công viên hoặc đến những nơi công cộng thì  
phải đi với bố mẹ, không được chạy lung tung để khỏi bị lạc” chứ chưa dạy 
trẻ nếu chẳng may xảy ra sẽ phải xử lý như thế nào.
Với cách  giáo dục  như vậy tôi thấy kết quả đạt trên trẻ chưa đạt hiệu 
quả. Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Và điều cốt yếu trẻ 
không hiểu cốt lõi của vấn đề là tại sao không nên làm như vậy và nếu xảy ra  
thì phải làm thế nào.  Do đó bây giờ ngoài việc giáo dục như vậy vào giờ  hoạt 


động chiều, tôi  đã đưa ra tình huống “Khi bé bị lạc mẹ trong siêu thị ­ bé sẽ  
làm gì ?”
Tôi đã cho trẻ  suy nghĩ, mỗi trẻ  đưa ra một cách giải quyết của riêng 
mình. Lắng nghe ý kiến của trẻ, cho trẻ suy nghĩ và trả  lời theo ý kiến của 
mình, gợi mở  cho trẻ  bằng các câu hỏi: Theo con làm như  vậy có được  
không? Tại sao? Sau đó, cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất :  
Khi bị lạc mẹ, bé hãy bình tĩnh,  không khóc và chạy lung tung mà hãy 

cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của mình đã 
có để tìm cách giải quyết vấn đề. Thông qua đó cô giúp trẻ tìm ra phương án 
tối  ưu nhất, đó cũng chính là kinh nghiệm mà ta cần dạy trẻ  . Thông    qua 
hoạt động đó cũng giúp trẻ  có sự  tư  duy logic, biết cách diễn đạt suy nghĩ  
của mình, và giúp trẻ có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống.
d, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
Giờ  đón trẻ  hoặc trả  trẻ: tôi rất ân cần và chuẩn mực trong xưng hô 
với bố mẹ trẻ. Tôi tập cho trẻ khi đến lớp chào cô như thế nào, sau đó chào  
bố mẹ và người thân để vào lớp học.
Giờ hoạt động ngoài trời: Cô luôn nhắc nhở trẻ khi ra sân trường chơi  
 phải đi theo hàng, bạn nọ  nối duôi theo bạn kia, không đẩy bạn để  bạn  
ngã…..Nếu trẻ làm gì sai với bạn, với cô thì phải biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn.  
Khi đi chơi gặp các bác, các cô làm việc trong trường phải biết chào hỏi lễ 
phép. Ai cho gì phải biết nhận bằng hai tay và nói cảm ơn.
Ví dụ:  Khi quan sát cây nhãn, cô hỏi trẻ:
           + Muốn cây cho nhiều quả nhãn thì chúng ta phải làm gì?
           +  Khi ăn quả nhãn, chúng mình phải nhớ ơn ai?
­> Giáo dục trẻ kính trọng, yêu quý người lao động. Đồng thời giáo dục trẻ 
thói quen vệ sinh trong ăn uống như: ăn từ tốn, không vứt vỏ, bỏ hạt bừa bãi….
Giờ  ăn cơm:  Ở  trường mầm non giao viên cân d
́
̀ ạy trẻ  nghi thức văn 
hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ  kỹ  năng lao động tự  phục vụ, rèn tính tự 
lập như: Biết tự  rửa tay sạch sẽ  trước khi ăn, chỉ  ăn uống tại bàn ăn, biêt́ 
cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn  
uống   gọn   gàng,   không   rơi   vãi,   nhai   nhỏ   nhẹ   không   gây   tiếng   ồn,   ngậm  
miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm  ơn sau khi ăn, biết tự 
dọn, cất đúng chỗ  bát, thìa … hoặc biết giúp cô giáo dọn dẹp, ngồi ngay 
ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.
Giờ  hoạt động chiều: Tăng cương kê cho tre nghe cac câu chuyên cô

 
các truyên băng tranh, g
̣
̀
ợi mở  tinh to mo, ham h
́
̀ ̀
ọc hỏi, phát triển khả  năng  
thấu hiểu ở trẻ.
Ví dụ: Khi kể  chuyện “Tích Chu” giáo viên đăt nh
̣
ưng câu hoi g
̃
̉ ợi mở 
như: Nêu là con khi bà b
́
ị ốm, con sẽ làm gì? Và khi bà hóa thành chim thì con 


sẽ làm như thế nào để  giúp bà?  gợi mở tinh to mo thay đ
́
̀ ̀
ổi tình huống của  
truyện,  đặt tên khác cho câu chuyện v,v….
Hoạt động khác: tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày hội lễ như 
Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, Lễ noel, quốc Tế Phụ nữ 8/3, sinh nhật bé…
2.2.4.Biện pháp 4: Tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
­ Xây dựng cảnh quan sư phạm trong lớp học:
Cùng với toàn ngành thực hiện phong trào “ Xây dựng trường học thân  
thiện­ học sinh tích cực”, việc tạo cảnh quan sư phạm trong lớp học cũng là một 

sống cho trẻ đạt hiệu quả.
­ Trẻ được rèn luyện ở trường và ở nhà.
* Cách thực hiện:
­ Trong buổi họp đầu năm, tôi đã mạnh dạn trao đổi  với phụ huynh về 
tầm quan trọng của giáo dục kỹ  năng sống   đối với trẻ. Đặc biệt là trong 
thời kỳ hội nhập, nước ta tiếp nhận nhiều nền văn hóa và trò chơi giải trí đã  
ảnh hưởng một phần không nhỏ về hành vi văn minh của trẻ. Trẻ có thể đối  
xử thô bạo với bạn sau một đoạn phim hành động, hay trẻ có những lời nói 
không nên đối với bố  mẹ  khi bố mẹ  không đồng ý cho trẻ  làm một việc gì 
đó theo ý trẻ.
          Thông qua buổi họp phụ  huynh, tôi phổ  biến và tuyên truyền cách 
nuôi dạy con như thế nào cho khoa học   và cách giáo dục kỹ năng sống đối 
với trẻ lúc ở nhà.
­ Phụ  huynh phải là tấm gương sáng cho con về  giáo dục kỹ  năng 
sống. Ở nhà, bố mẹ phải mẫu mực trong giao tiếp,  ứng xử, xưng hô để con 
học noi theo. Đồng thời, phụ  huynh phải chú ý sửa sai cho trẻ  kịp thời khi  
thấy trẻ ứng xử chưa đúng với bạn hay với người lớn.
­ Sưu tầm một số  bài thơ, câu chuyện, bài tuyên truyền trên báo mạng 
dán ở góc tuyên truyền của lớp để phụ huynh có thể đọc, tham khảo, sau đó  
về nhà giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
* Hiệu quả:
­ Trẻ rất hứng thú nghe và nhớ được những tấm gương tốt, những bài 
học về  kỹ  năng sống của mỗi câu chuyện. Từ  đó, trẻ  học theo. Qua những  
câu chuyện đó, kích thích trẻ  cố  gắng hơn, nỗ  lực hơn như  ý muốn. Thêm 
vào đó, được cô động viên khen ngợi, trẻ  sẽ  thêm tự  tin và hào hứng thực  
hiện tốt các yêu cầu của cô. 
­ Phụ huynh có được 1 số tài liệu tham khảo về cách dạy trẻ kỹ năng 
sống  để  kết hợp với cô giáo về nhà giáo dục trẻ thêm.
          2.3.Kết quả đạt được
          Sau một năm nghiên cứu và áp dụng đề  tài “Một số  giải pháp rèn kỹ 

Trẻ có nề nếp, thói quen vệ sinh trong ăn uống

41/46 = 89,1%

Trẻ  biết nhường nhịn,chia sẻ, hợp tác   giúp đỡ 
43/46 = 93,4%
bạn
Trẻ biết cất dọn, sắp xếp đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy 
42/46 = 91 %
định
Trẻ   biết   giữ   gìn   vệ   sinh   cá   nhân,   vệ   sinh   môi 
44/46 = 95,6%
trường
*Bài học kinh nghiệm

Xuất phát từ yêu cầu của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ 4­5 tuổi nhằm 
giúp trẻ  phát triển toàn diện.  Qua đó bản thân tuổi ra một số  kinh nghiệm  
cho bản thân sau: 


­Tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ  4 ­5 tuổi và xác định 
nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
­Xây dựng nôi dung giáo d
̣
ục kỹ năng sống cho  trẻ  4 ­ 5 tuổi:
­Tổ  chức các hoạt động giáo dục kỹ  năng sống cho trẻ  thông qua các  
hoạt động cụ thể hàng ngày
­Tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
­Phối hợp phụ huynh giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
3. Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status