Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 - Pdf 58

UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN 
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4”

      
                   
                   
                   
                     HỌ VÀ TÊN:       VŨ THỊ MAI 
                     CHỨC VỤ   :        GIÁO VIÊN
                     ĐƠN VỊ CÔNG TÁC :  TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH  TÂN 
I
                      SKKN THUỘC MÔN:       TIẾNG VIỆT

                                                          

1


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm thuéc n¨m häc: 2010 - 2011

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Tập đọc là một phân môn của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học. 
Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng  
Việt vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng 
đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học.
Biết đọc ( đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) giúp các 

2


II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng dạy­ học phần luyện đọc diễn cảm trong phân môn 
Tập đọc ở Trường Tiểu học Thanh Tân 1
Trường Tiểu học Thanh Tân 1 là một trường thuộc xã vùng sâu, vùng 
xa của huyện Như Thanh. Do địa bàn xã rộng, nên trường chia thành nhiều  
khu, cách xa nhau. Hơn 90% học sinh có bố mẹ sống bằng nghề trồng trọt,  
không có nghề phụ nên đời sống kinh tế còn rất nhiều khó khăn. Phần lớn  
nhận thức của phụ  huynh học sinh chưa cao, chưa ý thức được việc dạy 
dỗ, tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ con cái mình  học tập. Nhiều gia đình  
còn có tư tưởng phó mặc con cái cho nhà trường .
Một số  ít gia đình có quan tâm đến con cái thì lại không  biết cách  
dạy hoặc do học sinh không chịu học. Mặt khác, phần lớn học sinh của  
trường Tiểu học Thanh Tân 1 là người dân tộc thiểu số, vốn từ  ngữ  của  
các em rất nghèo nàn do ở gia đình các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ 
đẻ. Bên cạnh đó, có một số  học sinh chuyển đến từ  các huyện: Thường  
Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương...bị   ảnh hưởng rất nhiều của  
tiếng địa phương nơi các em đã sinh ra. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ 
đến chất lượng giáo dục của xã nhà.
Ở trường chúng tôi, mặc dù phân môn Tập đọc là môn học được chú 
trọng nhiều trong quá trình dạy học của tất cả giáo viên nhưng phần luyện  
đọc diễn cảm vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này do nhiều 
nguyên nhân: Từ  việc xác định mục tiêu, nội dung chương trình SGK, vai 
trò của giáo viên khi giảng dạy đến việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Qua trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, qua quan sát một 
số giờ dạy phân môn Tập đọc của giáo viên, tôi nhận thấy rằng: Khả năng 
đọc của học sinh còn rất thấp, phần lớn các em mới chỉ  đạt được ở  mức 
độ đọc trơn nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu về tốc độ, âm lượng đọc,  

Thanh Tân 1:

                                                          

3


Năm học 2010­ 2011, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4A, gồm có 
29 học sinh, trong đó: Dân tộc (Thái, Mường): 14 em; Dân tộc Kinh : 15 em.  
Đây là lớp thuộc khu chính­ nằm ngay trung tâm của xã. Các em sống trên 
địa bàn của các thôn: Tiền Tiến, Vườn Dâu, Tân Tiến, Tân Thành, Dồng 
Dẻ, Đồng Lấm và một số  học sinh của xã Yên Mỹ( huyện Nông Cống).  
Dẫu khoảng cách về địa lý nằm bên cạnh nhau nhưng cách phát âm của các  
em cũng có những điểm khác nhau (do đặc điểm về phương ngữ, quá trình 
di dân). Bên cạnh đó, các em còn đọc sai  ở  nhiều âm, tiếng, từ; độ  sai so  
với chuẩn phát âm (chuẩn chính âm) là tương đối nhiều, nhất là đọc lẫn  
lộn  ở  những từ  ngữ  có dấu hỏi, dấu ngã..... Kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh 
chưa tốt và tất nhiên đọc diễn cảm cũng không tốt.
Mặt khác, ý thức tự học, đọc sách báo của các em cũng rất ít nên hạn 
chế  tầm hiểu biết, hạn chế khả năng đọc các loại văn bản khác nhau nên 
cũng ảnh hưởng đến việc đọc các bài học trong nội dung chương trình quy  
định.
Sau một thời gian giảng dạy ( từ giữa tháng 8 đến đầu tháng 10 năm 
2010), tôi đã khảo sát khả năng đọc diễn cảm của học sinh lớp tôi, kết quả 
thu được như sau:
Mức độ đọc
Tổng số 
Tốt
Khá
Trung bình

Mức độ đọc
Tổng số 
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
28
1
3,6%
2
7,1%
13
46,4%
12
42,9%

                                                          

4



thẩm thấu hết được yêu cầu, ý nghĩa của việc đọc diễn cảm (từ, ngữ, câu,  
đoạn, bài) trong một bài văn cụ thể thì đã hết giờ. Vì vậy, số lượng các em 
được đọc ít và chỉ chú trọng vào các em đọc khá giỏi với hình thức đọc lại  
bài, còn học sinh trung bình, yếu thì dường như không có.
Bên cạnh đó, công việc chuẩn bị cho việc luyện đọc diễn cảm trong  
một giờ  tập đọc cũng khá công phu như: phải có bảng phụ  viết sẵn đoạn 
văn, đoạn thơ  cần luyện  đọc, bút dạ, phấn màu, bút chì...nên giáo viên  
thường có tư  tưởng “ngại” vì mất nhiều thời gian,  đa số  giáo viên chỉ 
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học ở các tiết học có người dự  giờ, còn lại  
thì thực hiện dạy “chay” nội dung này. 

                                                          

5


Vì vậy, luyện đọc diễn cảm trong giờ tập đọc ở bậc Tiểu học đã và 
đang là vấn đề  cần được quan tâm đúng mức, cần làm sáng tỏ, để  tìm ra 
được những biện pháp, hình thức dạy học có hiệu quả  nhất cho từng thể 
loại văn bản, từng bài học cụ  thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh, 
nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất trong mỗi giờ tập đọc ở  Tiểu  
học. 

B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Đứng trước thực trạng đó, tôi luôn luôn trăn trở, không ngừng tìm tòi, 
học hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và 
mạnh dạn đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả  đọc  
diễn cảm cho học sinh lớp 4  như sau:
1. Nắm bắt khả năng đọc cũng như  hoàn cảnh gia đình của từng học 

môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, tôi đã áp dụng những biện pháp rèn luyện 
kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
* Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc nội dung bài đọc:
Học sinh chỉ có thể đọc diễn cảm một đoạn hay một bài tập đọc khi 
đã hiểu thấu đáo nội dung bài đọc đó. Vì vậy, việc giúp học sinh hiểu được 
nội dung bài đọc là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Tôi đã hướng  
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc bằng một hệ  thống câu hỏi phù 
hợp với trình độ  nhận thức của học sinh (dựa vào các câu hỏi trong SGK). 
Sau khi học sinh đã nắm vững nội dung bài học tôi hướng dẫn các em cách  
đọc thể hiện nội dung đó. 
Ví dụ:       Bài “Người ăn xin” – tập 1, trang 30
Tôi giúp học sinh hiểu:
­ Đây là câu chuyện của một người ăn xin và một cậu bé qua đường.
­ Hình  ảnh người ăn xin: già lọm khọm, đôi mắt đỏ  đọc, giàn giụa nước 
mắt, đôi môi tái nhợt, áo quần tả  tơi, xấu xí, bàn tay sưng húp, bẩn thỉu,  
giọng rên rỉ cầu xin.
­ Hành động của cậu bé: Lục tìm hết túi nọ  đến túi kia nhưng không có gì  
để cho ông, đành nắm chặt lấy bàn tay ông xin lỗi.
­ Cậu bé không có gì cho ông lão, cậu chỉ có tấm lòng. Ông lão không nhận  
được vật gì, nhưng quý tấm lòng của cậu. Hai con người, hai thân phận,  
hoàn cảnh khác xa nhau nhưng vẫn cho được nhau, nhận được từ nhau.
­ Học sinh hiểu nội dung bài đọc: Ca ngợi cậu bé có tấm lòng nhân hậu, 
biết đồng cảm, thương xót trước nỗi bất hạnh của ông lão ăn xin nghèo 
khổ.

                                                          

7



a) Ngắt nghỉ giọng đọc đúng lúc, đúng chỗ, nhằm bộc lộ được ý tứ, 
nội dung bài đọc:
 Sau khi học sinh đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy toàn bài tôi hướng dẫn học 
sinh biết ngắt nghỉ  hơi đúng  ở  các dấu câu và giữa các cụm từ. Cụ  thể:  
nghỉ ít hơn  ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm; phải ngắt nghỉ hơi một  
cách tự nhiên, tránh kiểu đọc nhát gừng .
Đối với các bài văn xuôi: chỗ  ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới 
ngữ đoạn, nên khi đọc phải dựa vào nghĩa của các tiếng, các từ để ngắt hơi 

                                                          

8


cho đúng, không được tách từ  ra thành hai phần. Khi đọc một bài thơ, chỗ 
ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời  
ở  dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ  ngắt giọng, sự  phân chia lời  ở 
dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ  ngắt giọng cũng là một  
căn cứ  để  người nghe xác định được ý nghĩa từ  vựng, ngữ  pháp, nội dung 
bài đọc. Vì thế, trước khi dạy một bài tập đọc cụ thể, ngoài việc giáo viên 
cần luyện đọc diễn cảm cho thật chuẩn còn phải dự tính được những chỗ 
học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.
Việc làm này tôi đã tiến hành theo mức độ  từ  thấp đến cao như  sau: 
Thời gian đầu, tôi treo bảng phụ ghi sẵn câu văn cần hướng dẫn, dùng bút  
dạ vạch chỗ cần ngắt hơi,  giáo viên đọc mẫu rồi yêu cầu học sinh luyện  
đọc cho đúng. Khi học sinh đã đọc tốt hơn và được làm quen nhiều với  
cách ngắt, nghỉ hơi tôi đã nâng dần yêu cầu lên bằng cách gợi ý để học sinh  
tự phát hiện và chỉ ra chỗ cần ngắt hơi, tổ chức cho học sinh thảo luận để 
đi đến thống nhất, gọi một học sinh khá giỏi đọc mẫu ­ giáo viên nhận xét, 
chỉnh sửa, sau đó yêu cầu học sinh luyện đọc. Để  thể  hiện chỗ  ngắt, nghỉ 

lâu hơn bình thường, hay chỗ dừng không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý 
của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ 
ngừng “gây bão tố”, tập trung sự  chú ý của người nghe vào những từ  ngữ 
sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ :                                                   Sông La / ơi sông La
                                                              Trong veo / như  ánh mắt
                                                         Bờ tre / xanh im mát
                                                        Mươn mướt / đôi hàng mi
                                                        Bè đi / chiều thầm thì
                                                        Gỗ lượn đàn thong thả.  
                                                               (Bè xuôi sông La­ tập 2, trang  
26).
Chọn cách ngắt nhịp “Sông La/  ơi sông La” để  “ơi” được ngân dài tha  
thiết, làm nổi bật cách nhân hoá sông La bằng cách gọi tên, giúp biểu hiện  
tình cảm thân thương của tác giả  với con sông quê hương... Cách so sánh 
dòng sông “ trong veo như ánh mắt” cũng có tác dụng đem đến cho sắc màu  
trong xanh của nước sông La tình cảm của con người. Vẫn nhịp 2/3 “ Bè đi/  
chiều thầm thì” làm cho câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng được  
miêu tả, nhiều hoạt động  được lột tả và để không hạn chế thời gian “ Bè 
đi” mà tạo một kết hợp bất thường “ chiều thầm thì” cho thời gian cất lên  
thành lời, để  âm điệu câu thơ  bỗng vang động, ngân dài và bay bổng mê 
say...
c) Thể hiện cường độ đọc :
Tôi  giúp  học  sinh  hiểu:   đọc  chậm  quá,  nhanh  quá   hoặc   đọc  liến 
thoáng đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ 
nội dung của bài đọc. Âm lượng đọc (độ  to nhỏ  của giọng đọc) phải phù 
hợp, không nhỏ quá hoặc to quá. Vì thế cần hướng dẫn học sinh điều chỉnh  
âm lượng đọc  ở từng từ ngữ, câu, đoạn, bài cho phù hợp với nội dung bài 
học và ẩn ý của tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ ngôn từ.
Ví dụ 1:                                 

Ví dụ 2 : 
Công chúa nhìn chú hề, mỉm cười:
­ Khi ta mất một chiếc răng, chiếc mới sẽ  mọc ngay vào chỗ ấy. Khi ta  
cắt những bông hoa trong vườn, những bông hoa mới sẽ   mọc lên. Có đúng 
không nào?
Chú hề vội tiếp lời:
­ Tất nhiên rồi. Khi một con hươu mất sừng, cái sừng mới sẽ  mọc ra. 
Sau khi đêm thay thế cho ngày, ngày lại thế chỗ của đêm.
­ Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ  đều như vậy…// ­ Giọng công chúa  
nhỏ dần, nhỏ dần. Nàng đã ngủ.
                                                     (Có rất nhiều mặt trăng ­ tập 1, trang  
168).
Khi đọc đoạn văn trên, cần thể hiện giọng đọc của chú hề nhẹ 
nhàng, khôn khéo; lời công chúa hồn nhiên, tự tin, thông minh ( ở câu 
trước); giọng đọc chậm rãi, nhỏ dần, nghỉ hơi lâu sau dấu ba chấm ( ở câu 
sau).
d) Thể hiện giọng đọc lên cao hay xuống thấp: 
Để thực hiện được yêu cầu này, trong giờ tập đọc giáo viên không nên  
xem nhẹ  khâu nào ( từ  đọc đúng­ đọc hiểu­ đọc diễn cảm ); thực chất cả 
ba quá trình đọc này có mối quan hệ  chặt chẽ  và biện chứng với nhau để 
đạt đến cái đích cuối cùng trong một giờ tập đọc.
Tuy vậy, để học sinh có giọng đọc ( ngữ  điệu) phù hợp, chính xác cần 
phải  thực hiện tốt  kĩ  năng  đọc hiểu như: hiểu nghĩa từ, tìm  được “từ 
khoá”, “câu khoá” trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài; phát hiện  
ra những yếu tố văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần 
chú ý đến các biện pháp nghệ  thuật được tác giả  sử  dụng trong văn thơ 
như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ,...
                                                          

11

tình cảm đa dạng của con người như: buồn, yêu, ghét, lo lắng, hờn giận,  
khinh bỉ, hóm hỉnh, phẫn nộ... phù hợp với từng thể loại văn học, nhân vật 
trong tác phẩm và dụng ý của tác giả  được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ 
ngôn từ.
 Ví dụ 1:                                
... Cáo kia / đon đả ngỏ lời:
  “ Kìa / anh bạn quý, xin mời xuống đây
Để nghe cho rõ tin này
 Muôn loài mạnh yếu từ rày kết thân
             Lòng tôi sung sướng muôn phần
                                         Báo cho bạn hữu xa gần đều hay
 Xin đừng e ngại, xuống đây
Cho tôi hôn  bạn, tỏ bày tình thân.”
                                                          

12


 Nghe lời Cáo dụ thiệt hơn
   Gà rằng: “ Xin được ghi ơn trong lòng
  Hòa bình gà cáo sống chung
Mừng này còn có tin mừng nào hơn
Kìa, tôi thấy cặp chó săn
Từ xa chạy lại, chắc loan tin này.”
     Cáo nghe, hồn  lạc phách bay
    Quắp đuôi, co cẳng chạy ngay tức thì.
Gà ta khoái chí cười phì:
“ Rõ phường gian dối, làm gì được ai.”
( Gà Trống và Cáo­ tập 1, trang 50)
Đoạn thơ trên cần đọc với giọng vui, dí dỏm, thay đổi sắc thái giọng  


13


­ Không, con không có lỗi. Chẳng thuốc nào cứu nổi ông đâu. Ông đã 
mất từ lúc con vừa mới ra khỏi nhà.
Nhưng An­ đrây­ ca không nghĩ như vậy. Cả đêm đó, em ngồi nức nở 
dưới gốc cây táo do tay ông vun trồng. Mãi sau này, khi đã  lớn lên, em vẫn  
luôn tự dằn vặt: “ Giá mình mua thuốc về kịp thì ông còn sống thêm được ít 
năm nữa!”
( Nỗi dằn vặt của An­ đrây­ ca, tập 1, trang 55)
Khi đọc đoạn văn trên cần thể hiện giọng đọc, nét mặt buồn bã, sự 
ân hận, day dứt của An­ đrây­ ca trước cái chết của ông.
* Biện pháp 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả đọc của học sinh:
Trong giờ dạy Tập đọc, tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả 
đọc của học sinh nhằm động viên khuyến khích các em trong quá trình học 
tập, đồng thời điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Sau mỗi 
lần kiểm tra học sinh đọc tôi thường nhận xét, sửa lỗi và yêu cầu các em  
luyện đọc ở mức độ cao hơn. Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em tự đánh 
giá lẫn nhau để  tạo ra không khí thi đua học tập  ở  trong nhóm, trong lớp. 
Bởi vì, khi được tham gia vào việc nhận xét, đánh giá bạn đọc các em sẽ 
cảm thấy mình là trung tâm của hoạt động học, các em sẽ phấn khởi và cố 
gắng hơn trong học tập.

                                                          

14


C.KTLUN

03/ 2011

Tt
SL TL(%)

Mcc
Khỏ
Trungbỡnh
Yu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)

1

3,4

3

10,4

12

41,4

13

44,8

5

17,3

kết quả cộng hởng của cả ba quá trình rèn đọc ở học sinh: Đọc đúngnhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Bởi cả ba quá trình này có sự tác


15


động tơng hỗ với nhau, không thể tách rời, đó là quá trình chuyển từ
thấp đến cao về chất trong một giờ tập đọc.
Từ kết quả thu đợc nh trên tôi nhận thấy rằng: Việc áp dụng một
số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 đã
mang lại cho tôi một kết quả đáng phấn khởi. Khả năng đọc (đặc biệt
là đọc diễn cảm) của học sinh lớp tôi có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm
học, cao hơn so với lớp bạn ( ở cùng thời điểm đánh giá). Tuy kết quả
thu đợc cha phải là cao nhng phần nào đã nói lên tính hiệu quả của
sáng kiến kinh nghiệm này.
II.BIHCKINHNGHIM:
1.ivigiỏoviờn:
DyhctingVitnúichung(dyphõnmụntpc,phnluync
dincmnúiriờng),thycụgiỏokhụngcũnúngvaingitruynth
kinthcchohcsinhchyubngphngphỏpthuyttrỡnh,ginggii
hcsinhthngnghevghinhnhtrcõymtrthnhngit
chc,iukhinquỏtrỡnhdyhc hcsinhtớchcc,ch ng,sỏng
tochimlnhkinthcmi.Doú, rốnluynknngcdincm
chohcsinhtktquttgiỏoviờncnphi:
ưHiurừcimtõmsinhlớlatuihcsinhTiuhctỏcng,
truynthkinthckhoahccỏcmụnhcncỏcemmtcỏchphựhp
nht,hiuqunht.
ư Giỏoviờnphi thngxuyờnluyn c cúth cmutht
chunttccỏcbitpc.
ưNmvngvphihpnhunnhuynnhiuphngphỏp,hỡnhthc

mình. 
III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để  góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần luyện  đọc diễn  
cảm   trong phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt Tiểu học nói  
chung, tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau:
* Đối với giáo viên: Không ngừng học tập để  nâng cao trình độ  chuyên 
môn nghiệp vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, mạnh 
dạn đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với nhà trường:
­ Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên 
trao đổi những vướng mắc, hay chia sẻ  những kinh nghiệm giảng dạy có 
hiệu quả trong quá trình công tác.
­  Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để học sinh có thể được học hai 
buổi/ ngày.
*Đối với Ngành:  Để tạo ra động lực và thói quen thường xuyên luyện đọc  
cho cả  giáo viên và học sinh, hằng năm Ngành giáo dục nên tổ  chức cuộc  
thi : “ Đọc diễn cảm” cho giáo viên và học sinh.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân, được đúc rút trong  
quá trình công tác, với năng lực có hạn và áp dụng trong thực tế  dạy học  
chưa được lâu... nên không tránh khỏi những hạn chế  cần được bổ  sung, 
cần được làm sáng tỏ  thêm. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng  
góp, trao đổi, bổ sung từ phía các nhà lãnh đạo trong ngành Giáo dục và các 
bạn đồng nghiệp để  sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và có thể  áp 
dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
                                                             Thanh Tân, ngày 05 tháng 04 năm 2011
Người viết:
                                                          

17

Nguyờnnhõn
Giải Quyết vấn đề
CCGIIPHPTHCHIN
MTSBINPHPTCHCTHCHIN


Trang
1
1
1

1

2
3
5
5
5
18


C.
I.
II.
III.

KẾT LUẬN
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Bµi häc kinh nghiÖm
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status