UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4”
HỌ VÀ TÊN: VŨ THỊ MAI
CHỨC VỤ : GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC : TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH TÂN
I
SKKN THUỘC MÔN: TIẾNG VIỆT
1
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm thuéc n¨m häc: 2010 - 2011
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Tập đọc là một phân môn của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học.
Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng
Việt vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng
đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học.
Biết đọc ( đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) giúp các
2
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng dạy học phần luyện đọc diễn cảm trong phân môn
Tập đọc ở Trường Tiểu học Thanh Tân 1
Trường Tiểu học Thanh Tân 1 là một trường thuộc xã vùng sâu, vùng
xa của huyện Như Thanh. Do địa bàn xã rộng, nên trường chia thành nhiều
khu, cách xa nhau. Hơn 90% học sinh có bố mẹ sống bằng nghề trồng trọt,
không có nghề phụ nên đời sống kinh tế còn rất nhiều khó khăn. Phần lớn
nhận thức của phụ huynh học sinh chưa cao, chưa ý thức được việc dạy
dỗ, tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ con cái mình học tập. Nhiều gia đình
còn có tư tưởng phó mặc con cái cho nhà trường .
Một số ít gia đình có quan tâm đến con cái thì lại không biết cách
dạy hoặc do học sinh không chịu học. Mặt khác, phần lớn học sinh của
trường Tiểu học Thanh Tân 1 là người dân tộc thiểu số, vốn từ ngữ của
các em rất nghèo nàn do ở gia đình các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ
đẻ. Bên cạnh đó, có một số học sinh chuyển đến từ các huyện: Thường
Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương...bị ảnh hưởng rất nhiều của
tiếng địa phương nơi các em đã sinh ra. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng giáo dục của xã nhà.
Ở trường chúng tôi, mặc dù phân môn Tập đọc là môn học được chú
trọng nhiều trong quá trình dạy học của tất cả giáo viên nhưng phần luyện
đọc diễn cảm vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này do nhiều
nguyên nhân: Từ việc xác định mục tiêu, nội dung chương trình SGK, vai
trò của giáo viên khi giảng dạy đến việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Qua trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, qua quan sát một
số giờ dạy phân môn Tập đọc của giáo viên, tôi nhận thấy rằng: Khả năng
đọc của học sinh còn rất thấp, phần lớn các em mới chỉ đạt được ở mức
độ đọc trơn nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu về tốc độ, âm lượng đọc,
Thanh Tân 1:
3
Năm học 2010 2011, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4A, gồm có
29 học sinh, trong đó: Dân tộc (Thái, Mường): 14 em; Dân tộc Kinh : 15 em.
Đây là lớp thuộc khu chính nằm ngay trung tâm của xã. Các em sống trên
địa bàn của các thôn: Tiền Tiến, Vườn Dâu, Tân Tiến, Tân Thành, Dồng
Dẻ, Đồng Lấm và một số học sinh của xã Yên Mỹ( huyện Nông Cống).
Dẫu khoảng cách về địa lý nằm bên cạnh nhau nhưng cách phát âm của các
em cũng có những điểm khác nhau (do đặc điểm về phương ngữ, quá trình
di dân). Bên cạnh đó, các em còn đọc sai ở nhiều âm, tiếng, từ; độ sai so
với chuẩn phát âm (chuẩn chính âm) là tương đối nhiều, nhất là đọc lẫn
lộn ở những từ ngữ có dấu hỏi, dấu ngã..... Kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh
chưa tốt và tất nhiên đọc diễn cảm cũng không tốt.
Mặt khác, ý thức tự học, đọc sách báo của các em cũng rất ít nên hạn
chế tầm hiểu biết, hạn chế khả năng đọc các loại văn bản khác nhau nên
cũng ảnh hưởng đến việc đọc các bài học trong nội dung chương trình quy
định.
Sau một thời gian giảng dạy ( từ giữa tháng 8 đến đầu tháng 10 năm
2010), tôi đã khảo sát khả năng đọc diễn cảm của học sinh lớp tôi, kết quả
thu được như sau:
Mức độ đọc
Tổng số
Tốt
Khá
Trung bình
Mức độ đọc
Tổng số
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
28
1
3,6%
2
7,1%
13
46,4%
12
42,9%
4
thẩm thấu hết được yêu cầu, ý nghĩa của việc đọc diễn cảm (từ, ngữ, câu,
đoạn, bài) trong một bài văn cụ thể thì đã hết giờ. Vì vậy, số lượng các em
được đọc ít và chỉ chú trọng vào các em đọc khá giỏi với hình thức đọc lại
bài, còn học sinh trung bình, yếu thì dường như không có.
Bên cạnh đó, công việc chuẩn bị cho việc luyện đọc diễn cảm trong
một giờ tập đọc cũng khá công phu như: phải có bảng phụ viết sẵn đoạn
văn, đoạn thơ cần luyện đọc, bút dạ, phấn màu, bút chì...nên giáo viên
thường có tư tưởng “ngại” vì mất nhiều thời gian, đa số giáo viên chỉ
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học ở các tiết học có người dự giờ, còn lại
thì thực hiện dạy “chay” nội dung này.
5
Vì vậy, luyện đọc diễn cảm trong giờ tập đọc ở bậc Tiểu học đã và
đang là vấn đề cần được quan tâm đúng mức, cần làm sáng tỏ, để tìm ra
được những biện pháp, hình thức dạy học có hiệu quả nhất cho từng thể
loại văn bản, từng bài học cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh,
nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất trong mỗi giờ tập đọc ở Tiểu
học.
B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Đứng trước thực trạng đó, tôi luôn luôn trăn trở, không ngừng tìm tòi,
học hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và
mạnh dạn đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 4 như sau:
1. Nắm bắt khả năng đọc cũng như hoàn cảnh gia đình của từng học
môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, tôi đã áp dụng những biện pháp rèn luyện
kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
* Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc nội dung bài đọc:
Học sinh chỉ có thể đọc diễn cảm một đoạn hay một bài tập đọc khi
đã hiểu thấu đáo nội dung bài đọc đó. Vì vậy, việc giúp học sinh hiểu được
nội dung bài đọc là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Tôi đã hướng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc bằng một hệ thống câu hỏi phù
hợp với trình độ nhận thức của học sinh (dựa vào các câu hỏi trong SGK).
Sau khi học sinh đã nắm vững nội dung bài học tôi hướng dẫn các em cách
đọc thể hiện nội dung đó.
Ví dụ: Bài “Người ăn xin” – tập 1, trang 30
Tôi giúp học sinh hiểu:
Đây là câu chuyện của một người ăn xin và một cậu bé qua đường.
Hình ảnh người ăn xin: già lọm khọm, đôi mắt đỏ đọc, giàn giụa nước
mắt, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi, xấu xí, bàn tay sưng húp, bẩn thỉu,
giọng rên rỉ cầu xin.
Hành động của cậu bé: Lục tìm hết túi nọ đến túi kia nhưng không có gì
để cho ông, đành nắm chặt lấy bàn tay ông xin lỗi.
Cậu bé không có gì cho ông lão, cậu chỉ có tấm lòng. Ông lão không nhận
được vật gì, nhưng quý tấm lòng của cậu. Hai con người, hai thân phận,
hoàn cảnh khác xa nhau nhưng vẫn cho được nhau, nhận được từ nhau.
Học sinh hiểu nội dung bài đọc: Ca ngợi cậu bé có tấm lòng nhân hậu,
biết đồng cảm, thương xót trước nỗi bất hạnh của ông lão ăn xin nghèo
khổ.
7
a) Ngắt nghỉ giọng đọc đúng lúc, đúng chỗ, nhằm bộc lộ được ý tứ,
nội dung bài đọc:
Sau khi học sinh đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy toàn bài tôi hướng dẫn học
sinh biết ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu và giữa các cụm từ. Cụ thể:
nghỉ ít hơn ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm; phải ngắt nghỉ hơi một
cách tự nhiên, tránh kiểu đọc nhát gừng .
Đối với các bài văn xuôi: chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới
ngữ đoạn, nên khi đọc phải dựa vào nghĩa của các tiếng, các từ để ngắt hơi
8
cho đúng, không được tách từ ra thành hai phần. Khi đọc một bài thơ, chỗ
ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời
ở dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ ngắt giọng, sự phân chia lời ở
dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ ngắt giọng cũng là một
căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung
bài đọc. Vì thế, trước khi dạy một bài tập đọc cụ thể, ngoài việc giáo viên
cần luyện đọc diễn cảm cho thật chuẩn còn phải dự tính được những chỗ
học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.
Việc làm này tôi đã tiến hành theo mức độ từ thấp đến cao như sau:
Thời gian đầu, tôi treo bảng phụ ghi sẵn câu văn cần hướng dẫn, dùng bút
dạ vạch chỗ cần ngắt hơi, giáo viên đọc mẫu rồi yêu cầu học sinh luyện
đọc cho đúng. Khi học sinh đã đọc tốt hơn và được làm quen nhiều với
cách ngắt, nghỉ hơi tôi đã nâng dần yêu cầu lên bằng cách gợi ý để học sinh
tự phát hiện và chỉ ra chỗ cần ngắt hơi, tổ chức cho học sinh thảo luận để
đi đến thống nhất, gọi một học sinh khá giỏi đọc mẫu giáo viên nhận xét,
chỉnh sửa, sau đó yêu cầu học sinh luyện đọc. Để thể hiện chỗ ngắt, nghỉ
lâu hơn bình thường, hay chỗ dừng không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý
của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ
ngừng “gây bão tố”, tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ
sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ : Sông La / ơi sông La
Trong veo / như ánh mắt
Bờ tre / xanh im mát
Mươn mướt / đôi hàng mi
Bè đi / chiều thầm thì
Gỗ lượn đàn thong thả.
(Bè xuôi sông La tập 2, trang
26).
Chọn cách ngắt nhịp “Sông La/ ơi sông La” để “ơi” được ngân dài tha
thiết, làm nổi bật cách nhân hoá sông La bằng cách gọi tên, giúp biểu hiện
tình cảm thân thương của tác giả với con sông quê hương... Cách so sánh
dòng sông “ trong veo như ánh mắt” cũng có tác dụng đem đến cho sắc màu
trong xanh của nước sông La tình cảm của con người. Vẫn nhịp 2/3 “ Bè đi/
chiều thầm thì” làm cho câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng được
miêu tả, nhiều hoạt động được lột tả và để không hạn chế thời gian “ Bè
đi” mà tạo một kết hợp bất thường “ chiều thầm thì” cho thời gian cất lên
thành lời, để âm điệu câu thơ bỗng vang động, ngân dài và bay bổng mê
say...
c) Thể hiện cường độ đọc :
Tôi giúp học sinh hiểu: đọc chậm quá, nhanh quá hoặc đọc liến
thoáng đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ
nội dung của bài đọc. Âm lượng đọc (độ to nhỏ của giọng đọc) phải phù
hợp, không nhỏ quá hoặc to quá. Vì thế cần hướng dẫn học sinh điều chỉnh
âm lượng đọc ở từng từ ngữ, câu, đoạn, bài cho phù hợp với nội dung bài
học và ẩn ý của tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ ngôn từ.
Ví dụ 1:
Ví dụ 2 :
Công chúa nhìn chú hề, mỉm cười:
Khi ta mất một chiếc răng, chiếc mới sẽ mọc ngay vào chỗ ấy. Khi ta
cắt những bông hoa trong vườn, những bông hoa mới sẽ mọc lên. Có đúng
không nào?
Chú hề vội tiếp lời:
Tất nhiên rồi. Khi một con hươu mất sừng, cái sừng mới sẽ mọc ra.
Sau khi đêm thay thế cho ngày, ngày lại thế chỗ của đêm.
Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ đều như vậy…// Giọng công chúa
nhỏ dần, nhỏ dần. Nàng đã ngủ.
(Có rất nhiều mặt trăng tập 1, trang
168).
Khi đọc đoạn văn trên, cần thể hiện giọng đọc của chú hề nhẹ
nhàng, khôn khéo; lời công chúa hồn nhiên, tự tin, thông minh ( ở câu
trước); giọng đọc chậm rãi, nhỏ dần, nghỉ hơi lâu sau dấu ba chấm ( ở câu
sau).
d) Thể hiện giọng đọc lên cao hay xuống thấp:
Để thực hiện được yêu cầu này, trong giờ tập đọc giáo viên không nên
xem nhẹ khâu nào ( từ đọc đúng đọc hiểu đọc diễn cảm ); thực chất cả
ba quá trình đọc này có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau để
đạt đến cái đích cuối cùng trong một giờ tập đọc.
Tuy vậy, để học sinh có giọng đọc ( ngữ điệu) phù hợp, chính xác cần
phải thực hiện tốt kĩ năng đọc hiểu như: hiểu nghĩa từ, tìm được “từ
khoá”, “câu khoá” trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài; phát hiện
ra những yếu tố văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần
chú ý đến các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong văn thơ
như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ,...
11
tình cảm đa dạng của con người như: buồn, yêu, ghét, lo lắng, hờn giận,
khinh bỉ, hóm hỉnh, phẫn nộ... phù hợp với từng thể loại văn học, nhân vật
trong tác phẩm và dụng ý của tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ
ngôn từ.
Ví dụ 1:
... Cáo kia / đon đả ngỏ lời:
“ Kìa / anh bạn quý, xin mời xuống đây
Để nghe cho rõ tin này
Muôn loài mạnh yếu từ rày kết thân
Lòng tôi sung sướng muôn phần
Báo cho bạn hữu xa gần đều hay
Xin đừng e ngại, xuống đây
Cho tôi hôn bạn, tỏ bày tình thân.”
12
Nghe lời Cáo dụ thiệt hơn
Gà rằng: “ Xin được ghi ơn trong lòng
Hòa bình gà cáo sống chung
Mừng này còn có tin mừng nào hơn
Kìa, tôi thấy cặp chó săn
Từ xa chạy lại, chắc loan tin này.”
Cáo nghe, hồn lạc phách bay
Quắp đuôi, co cẳng chạy ngay tức thì.
Gà ta khoái chí cười phì:
“ Rõ phường gian dối, làm gì được ai.”
( Gà Trống và Cáo tập 1, trang 50)
Đoạn thơ trên cần đọc với giọng vui, dí dỏm, thay đổi sắc thái giọng
13
Không, con không có lỗi. Chẳng thuốc nào cứu nổi ông đâu. Ông đã
mất từ lúc con vừa mới ra khỏi nhà.
Nhưng An đrây ca không nghĩ như vậy. Cả đêm đó, em ngồi nức nở
dưới gốc cây táo do tay ông vun trồng. Mãi sau này, khi đã lớn lên, em vẫn
luôn tự dằn vặt: “ Giá mình mua thuốc về kịp thì ông còn sống thêm được ít
năm nữa!”
( Nỗi dằn vặt của An đrây ca, tập 1, trang 55)
Khi đọc đoạn văn trên cần thể hiện giọng đọc, nét mặt buồn bã, sự
ân hận, day dứt của An đrây ca trước cái chết của ông.
* Biện pháp 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả đọc của học sinh:
Trong giờ dạy Tập đọc, tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả
đọc của học sinh nhằm động viên khuyến khích các em trong quá trình học
tập, đồng thời điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Sau mỗi
lần kiểm tra học sinh đọc tôi thường nhận xét, sửa lỗi và yêu cầu các em
luyện đọc ở mức độ cao hơn. Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em tự đánh
giá lẫn nhau để tạo ra không khí thi đua học tập ở trong nhóm, trong lớp.
Bởi vì, khi được tham gia vào việc nhận xét, đánh giá bạn đọc các em sẽ
cảm thấy mình là trung tâm của hoạt động học, các em sẽ phấn khởi và cố
gắng hơn trong học tập.
14
C.KTLUN
03/ 2011
Tt
SL TL(%)
Mcc
Khỏ
Trungbỡnh
Yu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
1
3,4
3
10,4
12
41,4
13
44,8
5
17,3
kết quả cộng hởng của cả ba quá trình rèn đọc ở học sinh: Đọc đúngnhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Bởi cả ba quá trình này có sự tác
15
động tơng hỗ với nhau, không thể tách rời, đó là quá trình chuyển từ
thấp đến cao về chất trong một giờ tập đọc.
Từ kết quả thu đợc nh trên tôi nhận thấy rằng: Việc áp dụng một
số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 đã
mang lại cho tôi một kết quả đáng phấn khởi. Khả năng đọc (đặc biệt
là đọc diễn cảm) của học sinh lớp tôi có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm
học, cao hơn so với lớp bạn ( ở cùng thời điểm đánh giá). Tuy kết quả
thu đợc cha phải là cao nhng phần nào đã nói lên tính hiệu quả của
sáng kiến kinh nghiệm này.
II.BIHCKINHNGHIM:
1.ivigiỏoviờn:
DyhctingVitnúichung(dyphõnmụntpc,phnluync
dincmnúiriờng),thycụgiỏokhụngcũnúngvaingitruynth
kinthcchohcsinhchyubngphngphỏpthuyttrỡnh,ginggii
hcsinhthngnghevghinhnhtrcõymtrthnhngit
chc,iukhinquỏtrỡnhdyhc hcsinhtớchcc,ch ng,sỏng
tochimlnhkinthcmi.Doú, rốnluynknngcdincm
chohcsinhtktquttgiỏoviờncnphi:
ưHiurừcimtõmsinhlớlatuihcsinhTiuhctỏcng,
truynthkinthckhoahccỏcmụnhcncỏcemmtcỏchphựhp
nht,hiuqunht.
ư Giỏoviờnphi thngxuyờnluyn c cúth cmutht
chunttccỏcbitpc.
ưNmvngvphihpnhunnhuynnhiuphngphỏp,hỡnhthc
mình.
III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần luyện đọc diễn
cảm trong phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt Tiểu học nói
chung, tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau:
* Đối với giáo viên: Không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, mạnh
dạn đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với nhà trường:
Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên
trao đổi những vướng mắc, hay chia sẻ những kinh nghiệm giảng dạy có
hiệu quả trong quá trình công tác.
Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để học sinh có thể được học hai
buổi/ ngày.
*Đối với Ngành: Để tạo ra động lực và thói quen thường xuyên luyện đọc
cho cả giáo viên và học sinh, hằng năm Ngành giáo dục nên tổ chức cuộc
thi : “ Đọc diễn cảm” cho giáo viên và học sinh.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân, được đúc rút trong
quá trình công tác, với năng lực có hạn và áp dụng trong thực tế dạy học
chưa được lâu... nên không tránh khỏi những hạn chế cần được bổ sung,
cần được làm sáng tỏ thêm. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp, trao đổi, bổ sung từ phía các nhà lãnh đạo trong ngành Giáo dục và các
bạn đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và có thể áp
dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thanh Tân, ngày 05 tháng 04 năm 2011
Người viết:
17
Nguyờnnhõn
Giải Quyết vấn đề
CCGIIPHPTHCHIN
MTSBINPHPTCHCTHCHIN
Trang
1
1
1
1
2
3
5
5
5
18
C.
I.
II.
III.
KẾT LUẬN
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Bµi häc kinh nghiÖm
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT