ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÂM HỒNG NHUNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SINH HỌC THAY THẾ
CHO SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT
LÖA CỦA HỘ NÔNG DÂN: TRƢỜNG HỢP
HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60 31 01 05
Đà Nẵng - Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HIỆP
Phản biện 1: GS.TS. Trương Bá Thanh
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Kinh tế phát triển họp tại Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 8 năm 2018.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
2
đầu đã áp dụng những kĩ thuật mới, an toàn vào những vùng chuyên
canh sản xuất lúa. Mặc dù, có rất nhiều chương trình về phát triển
nông nghiệp sinh học nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều vương mắc
trong việc tham gia của người dân vào những chương trình trên. Do
đó, để người dân tích cực tham gia vào các chương trình dự án nông
nghiệp xanh và phát huy những lợi ích của các biện pháp sinh học
trong canh tác lúa nói riêng và nông nghiệp nói chung, cần phải có
một nghiên cứu mang tính hệ thống để tìm ra những nhân tố tác động
đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học của nông dân trên đồng
ruộng của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện
pháp sinh học thay thế cho hóa học của nông dân trồng lúa tại huyện
Hòa Vang, TP Đà Nẵng dựa trên lý thuyết hành vi.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp bảo vệ thực vật
trong sản xuất lúa của hộ nông dân tại huyện Hòa Vang
- Xác định và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử
dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong
sản xuất lúa của nông dân tại huyện Hòa Vang
- Đề xuất một số hàm ý chính sách
3. Đối tƣơng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh
hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử
dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân. Kết quả nghiên cứu góp
phần phát triển hệ thống thang đo và mô hình nghiên cứu tác động đến ý
định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất
trong sản xuất lúa của nông dân.
Về mặt thực tiễn:
Đề tài phân tích và khám phá các nhân tố và mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế
cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân theo
hướng tăng trưởng xanh tại Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Kết quả của
nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định
chính sách và được coi là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu
về ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng
hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân theo hướng tăng trưởng
xanh. Từ đó, tháo gỡ những rào cản khiến người nông dân khó thực
hiện sự thay đổi phương thức canh tác sử dụng quá nhiều chất hóa
học sang các biện pháp sinh học an toàn hơn.
5. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Giới thiệu địa bàn và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách
6. Tổng quan nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu dự định hành vi, đề tài trình bày học
5
thuyết quan trọng là thuyết dự định hành vi (Ajzen, 1991) và mô hình
chấp nhận công nghệ (Teo, T., Su Luan, W., & Sing, C.C., 2008). Mô
hình chấp nhận công nghệ (TAM) dựa trên nền tảng lý thuyết Thuyết
hai nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn
chủ quan.
1.2.2. Thuyết hành vi đƣợc hoạch định
Thuyết hành vi được hoạch định ra đời để giải quyết những
hạn chế của thuyết TRA, Ajzen đã phát triển một lý thuyết gọi là
thuyết hành vi được hoạch định (TPB) vào năm 1985. Lý thuyết hành
vi được hoạch định (TPB) do Ajzen (1991) dựa trên nền tảng thuyết
hành động hợp lý nên nó đã kế thừa hai yếu tố của thuyết hành động
hợp lý và thêm vào nhân tố thứ ba đó là Nhận thức kiểm soát hành vi
((Perceived Behavioral Control). Nhận thức kiểm soát hành vi phản
ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực
hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991,
tr. 183)
1.2.3. Mô hình chấp nhận công nghệ
Con người luôn đứng trước các lựa chọn những công nghệ
mới. Một trong những công cụ hữu ích trong việc giải thích ý định
7
chấp nhận một công nghệ mới là mô hình chấp nhận công nghệ
(TAM). Trong đó, Nhận thức sự hữu ích (PU – Perceived
Usefulness) là cấp độ mà cá nhân tin rằng sử dụng một phương pháp
đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis, 1985, trích
trong Chuttur, M.Y., 2009, tr. 5). Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU –
Perceived Ease of Use) là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một
phương pháp đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis, 1985, trích trong
Chuttur, M.Y., 2009, tr. 5).
1.2.4. Các mô hình kết hợp
Nhận thức sự hữu ích
Chuẩn chủ quan
đến ý định sử dụng PPSH.
Giả thuyết H5: Nhận thức về rào cản càng lớn thì ý định sử dụng
PPSH càng thấp.
9
CHƢƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nguồn: Điều chỉnh từ quy trình của Cao Hào Thi, 2006, trích trong Châu
Ngô Anh Nhân, 2011, tr. 18.
2.2. XÂY DỰNG THANG ĐO
2.2.1. Thang đo ban đầu
2.2.1.1. Thang đo nhận thức sự hữu ích của PPSH
2.2.1.2. Thang đo Nhận thức về việc cải thiện môi trường
2.2.1.3. Thang đo Chuẩn chủ quan
2.2.1.4. Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi
2.2.1.5. Thang đo Nhận thức về những rào cản
2.2.1.6. Thang đo Ý định sử dụng PPSH
10
2.2.2.
Thang đo chính thức và bản hỏi điều tra
Để điều chỉnh thang đo sơ bộ nhằm có được thang đo chính
tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng của họ.
Các thang đo được xây dựng và phát triển từ cơ sở lý thuyết và
mô hình nghiên cứu. Các thang đo này được dịch sang tiếng Việt từ
những thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu được công bố
trước đó. Vì vậy, trước khi hình thành thang đo chính thức cho mục
tiêu nghiên cứu, các cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện nhằm
khẳng định các đố tượng được phỏng vấn hiểu rõ được nội dung các
khái niệm và ý nghĩa của từ ngữ.Trong nghiên cứu này bản câu hỏi sử
dụng thang đo Likert năm mức độ từ 1 đến 5, cụ thể: “1: Rất không
đồng ý”; “2: Không đồng ý; “3: Trung lập (không có ý kiến)”; “4:
Đồng ý”; “5: Rất đồng ý”.
2.4. TỔ CHỨC THU THẬP DỮ LIỆU
2.4.1. Chọn mẫu
Đối tƣợng khảo sát: bao gồm cả nam và nữ tại Huyện Hòa
Vang, nhóm người này đều tự quyết định trong việc sử dụng các biện
pháp BVTV trong sản xuất.
Kỹ thuật chọn mẫu: sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận
tiện. Theo cách chọn mẫu này thì tác giả sẽ chọn ra các đơn vị mẫu
dựa vào sự thuận tiện hay tính dễ tiếp cận nông dân tại các khu vực
trồng lúa, tại Huyện Hòa Vang.
Kích thƣớc mẫu:
Theo Bollen (1989, trích trong Nguyễn Đình Thọ &
Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) thì mỗi biến quan sát cần ít nhất là 5
12
mẫu. Trong đề tài này, có khoảng 34 biến quan sát cần để phân tích
nhân tố do đó kích thước mẫu tối thiểu cần thiết là 34 x 5 = 170. Vì
vấn đề nghiên cứu tương đối rộng, với nhiều địa điểm khác nhau, do
đó tác giả
Giới tinh
Độ tuổi
Trình độ
Missing
Tần suất
Phần trăm
Nam
208
61.2
Nu
132
38.8
Total
340
100
Total
340
100
cap 1
29
8.5
cap 2
204
60
cap 3
105
30.9
Tren dai hoc
1
0.3
31
9.1
Total
Xã
14
Phân bố theo
Thu Nhập /Tháng
Tần suất
Phần trăm
Hoa Phong
49
14.4
Hoa Phuoc
76
22.4
4 den 5 trieu
45
13.2
Tren 5 trieu
9
2.6
Total
340
100
Mẫu được thu thập bằng phương pháp phát bản câu hỏi và thu
trực tiếp: tổng số bản câu hỏi phát ra là 340, và thu về là 340. Trong
quá trình khảo sát có 4 phiếu chưa trả lời hết các câu hỏi nhưng tác
giả vẫn đưa vào nghiên cứu. Như vậy, sử dụng 340 mẫu khảo sát để
tiến hành phân tích
3.1.2. Phân tích thống kê mô tả
Mẫu quan sát gồm 34 biến quan sát đo lường 6 khái niệm trong
nghiên cứu được tiến hành mã hóa để phập liệu và phân tích, sử dụng
phần mềm SPSS phiên bản 22.0
Phân bố mẫu theo thuộc tính (Giới tính, độ tuổi, trình độ, thu
nhập) và tần số về đặc trưng của cá nhân được khảo sát.
3.1.3. Thống kê mô tả và tần số về đặc trƣng có liên quan
16
Kết quả cho thấy có 5 nhân tố được trích sau khi xoay nhân tố.
Nhân tố thứ 1 (chuẩn chủ quan) gồm 5 biến quan sát (C3, B5,
C1, C2, B4, C4, C5);
Nhân tố thứ 2 (Nhận thức về rào cản) bao gồm 4 biến quan sát
(E1, E2, E3, E4)
Nhân tố thứ 3 (Lợi ích sử dụng PPSH) bao gồm 4 biến quan sát
(A3, A4, A5 A6);
Nhân tố thứ 4 (Nhận thức kiểm soát hành vi) bao gồm 4 biến
quan sát (D1, D4, D5, D6).
Nhân tố thứ 5 (Nhận thức về cải thiện môi trường) gồm 2 biến
quan sát (B1, B2).
Sau khi chỉnh sửa, mô hình được hình thành gồm 5 nhân tố với
21 biến quan sát. Kết quả của việc phân tích các nhân tố sẽ là tiền đề
để xây dựng mô hình điều chỉnh.
3.4. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ
THUYẾT
3.4.1. Kiểm định hệ số tƣơng quan Pearson
Nhân tố rào cản bị âm có hiện tượng đa cộng tuyến. Loại bỏ nhân
tố rào cản nên ta loại bỏ nhân tố rào cản ra khỏi mô hình nghiên cứu.
Mức độ tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc với ý
định sử dụng PPSH thể hiện qua hệ số tương quan Pearson với mức ý
nghĩa 1%. Qua bảng kết quả kiểm định Pearson cho thấy có sự tương
quan giữa biến phụ thuộc (ý định sử dụng) với các biến độc lập.
Nhân tố chuẩn chủ quan (hệ số Pearson = 0.636), Nhân tố nhận
thức sự hữu ích của PPSH (hệ số Pearson = 0.550), Nhân tố nhận
17
18
Tuy nhiên,
chỉ cho biết được mô hình hồi quy với tập dữ liệu
nhưng vẫn chưa thể biết được mô hình hồi quy hồi quy vừa xây dựng
được có phù hợp với tổng thể hay không. Vì vậy, cần phải có thêm
kiểm định F qua bảng phân tích ANOVA để kiểm tra độ phù hợp của
mô hình hồi quy vừa xây dựng với tổng thể nghiên cứu.
Trong Bảng kết quả phân tích ANOVA, cho thấy giá trị sig rất
nhỏ (sig = 0.000) nên mô hình hồi quy phù hợp với tập dữ liệu và có
thể sử dụng được.
3.5. KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT
Kết quả cho thấy có 4 nhân tố tác động Ý định sử dụng PPSH
của nông dân trồng lúa tại Huyện Hòa Vang, đó là các nhân tố như
nhận thức sự hữu ích của PPSH, nhận thức về việc cải thiện môi
trường, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan. Kết quả cho
thấy mối quan hệ giữa các nhân tố và Ý định được thể hiện thông qua
phương trình hồi quy chuẩn hóa sau:
BI = 0.782 + 0.409*SN + 0.327*PU + 0.207*PCB + 0.186*EA
Như vậy nhân tố Chuẩn chủ quan là nhân tố tác động mạnh nhất
đến Ý định sử dụng PPSH trong trồng lúa của nông dân Huyện Hòa
Vang, TP Đà Nẵng, tiếp theo lần lượt là các nhân tố Nhận thức sự
hữu ích, Kiểm soát hành vi, Nhận thức về môi trường. Kết quả phân
tích hồi quy cho kết quả tương tự như phân tích thống kê mô tả và
phân tích tương quan.
3.6. KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁC BIẾN ĐỊNH
TÍNH
Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt giữa nữ giới
đồng bộ cao, có nghĩa là nếu muốn sản xuất lúa hữu cơ thì cả thôn
phải cùng nhau sản xuất, nếu một người không tuân theo vẫn sử dụng
PPHH thì sẽ ảnh hưởng tới đồng rộng của những người khác. Ngoài
21
ra, người tiêu dùng là một trong những nhân tố tác động mạnh tới ý
định sử dụng PPSH của người nông dân, do đó chính quyền địa
phương cần có tổ chức giới thiệu sản phẩm lúa sạch tới người tiêu
dùng thông qua những hội chợ quảng bá nông sản. Đồng thời, xây
dựng thương hiệu lúa sạch hữu cơ cho những vùng sản xuất lúa đạt
tiêu chuẩn chất lượng tạo niềm tin cho người tiêu dùng khi sử dụng
các sản phẩm lúa của địa phương
Đối với nhân tố Nhận thức về môi trường, kết quả nghiên cứu
cho thấy khi người dân có nhận thức tốt về môi trường thì ý định sử
dụng PPSH cao. Chính quyền địa phương cần xây dựng các chương
trình tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức về môi trường đối với mọi
tầng lớp nông dân.
4.1.2. Đối với phòng NN&PTNT huyện
Ý kiến của những chuyên gia nông nghiệp có tác động mạnh
tới ý định sử dụng PPSH của nông dân Huyện Hòa Vang, TP Đà
Nẵng.
Phòng NN&PTNT huyện nên thường xuyên cử chuyên gia
nông nghiệp thăm đồng theo dõi tình hình ở những thôn xã đã thực
hiện canh tác lúa hữu cơ để kịp thời hướng dẫn cho bà con nông dân
cách sử dụng PPSH trong suốt quá trình trồng lúa từ khi làm đất đến
khi thu hoạch để đảm bảo nông dân không sử dụng các chất hóa học
hoặc sử dụng rất ít. Nên tiếp tục đẩy mạnh và triển khai các chính
sách hỗ trợ đầu tư vùng sản xuất, chế biến và bảo quản lúa sau thu
hoạch đạt chất lượng tốt. Phát triển nông thôn đô thị tạo thành các
23
Thứ ba, là hạn chế của phương pháp phân tích dữ liệu, nghiên
cứu sử dụng công cụ phân tích hồi quy đa biến để xác định mối quan
hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Tuy nhiên, phép phân
tích này không cho thấy mối quan hệ giữa các biến độc lập với nhau.
Thứ tư, là giải pháp còn mang tính định tính và chưa đánh giá
được những trở ngại khi thực hiện các giải pháp trên.
Thứ năm, đề tài chưa xem xét yếu tố doanh nghiệp tác động tới ý
định sử dụng PPSH của người nông dân trồng lúa.