Quản trị huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh hải dương - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LÊ THỊ MỴ

QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỒN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM-CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2018


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LÊ THỊ MỴ

QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỒN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM-CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ


tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp làm tại
Chi nhánh Ngân hàng BIDV Hải Dương đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện
hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin, số liệu cũng như những thực tiễn
trong công việc cần thiết để hoàn thành luận văn của mình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự khuyến khích, quan tâm, tạo
điều kiện của những người thân trong gia đình cũng như các bạn cùng lớp cao
học khóa 22B, đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tác giả luận văn

Lê Thị Mỵ


6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


7


8
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1.
Bảng 2.2.

2015-2017
Cơ cấu huy động vốn tại BIDV Hải Dương
48
Lãi suất và chi phí trả lãi 2015 – 2017
54
Biểu lãi suất huy động của một số ngân hàng
55
tháng 6 năm 2018
Bảng dư nợ tín dụng bình quân năm 2015 -2017
57
Số lỗi tác nghiệp trong công tác huy
động vốn của BIDV Hải Dương năm
60
2015 - 2017
HÌNH VẼ
Mô hình cơ cấu tổ chức của BIDV Hải Dương
29
Sơ đồ mua bán vốn giữa các Chi nhánh và Hội
38
sở chính BIDV


9
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Huy động vốn là một trong những yếu tố giúp cho ngân hàng nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Hoạt động chính của Ngân hàng
thương mại là nhận tiền gửi và cho vay, kiếm lợi nhuận từ mức lãi suất chênh
lệch. Do đó, để có thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn cung cấp cho nền kinh tế, Ngân
hàng thương mại phải huy động thêm nhiều nguồn vốn từ bên ngoài.

sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề “Quản trị huy động vốn tại NHTM”. Ở các
đơn vị đào tạo khác nhau, có nhiều học viên cao học đã nghiên cứu về quản
trị huy động vốn, hoạt động quản lý huy động vốn và những vấn đề liên quan
trong luận văn cao học của mình.
Điển hình là các luận văn sau:
Tác giả Võ Thị Thu Trang (2014) có công trình: “Quản trị huy động vốn
tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng”, luận
văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng.
Công trình đã nghiên cứu về quản trị huy động vốn tại Vietcombank Đà
Nẵng. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng huy động vốn, chi phí hoạt
động này, quản trị qui mô cơ cấu nguồn vốn và công tác tổ chức bộ phận huy
động vốn tại Vietcombank ĐàNẵng. Từ đó đưa ra kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân, sau đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản
trị huy động vốn tại Vietcombank Đà Nằng.
Tác giả Trịnh Thị Kim Hảo (2011) có bài viết với đề tài: “Tăng cường
quản lý nguồn vốn huy động trong bối cảnh hội nhập quốc tế tại Agribank
Thanh Hóa”, Học viện Ngân hàng. Tác giả đã trình bày về “hoạt động quản trị
nguồn vốn huy động tại các NHTM”, đồng thời đưa ra các nhóm giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý huy động vốn tại ngân hàng Agribank
Thanh Hóa.


11
Tác giả Lưu Thị Thúy Hà (2010) đã có công trình nghiên cứu với đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị nguồn vốn huy động tại Sở Giao dịch
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Học viện Ngân hàng. Công trình
nghiên cứu đã đưa ra những vấn đề cơ bản nhất trong quản trị huy động vốn
NHTM, kinh nghiệm của một số NHTM trên thế giới và có những giải pháp
cụ thể, hữu ích cho công tác quản trị nguồn vốn huy động tại Sở giao dịch
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

cường huy động vốn tại Ngân hàng này.
Bên cạnh đó, nhiều hội thảo, các buổi đàm thoại, diễn đàn nghiên cứu
khoa học cũng đã diễn ra trên cả nước, nghiên cứu về “chính sách huy động
vốn của các NHTM”.
Có thể kể đến một số đề tài nổi bật:
Đề tài: “Chính sách lãi suất huy động của Ngân hàng Agribank Việt Nam
Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện”. Tác giả đã đi sâu phân tích,
nhận xét về chính sách lãi suất huy động vốn trong giai đoạn từ năm 2008 tới
năm 2012 tại Agribank, rồi từ đó đưa ra “ba nhóm giải pháp, với tám giải
pháp điều chỉnh cụ thể, chi tiết, nhằm hoàn thiện chính sách lãi suất huy động
vốn tại ngân hàng Agribank Việt Nam”.
Đề tài: “Chính sách huy động vốn của NHTM Việt Nam trong môi
trường hội nhập kinh tế quốc tế”, (2012), Hội thảo khoa học Trường Đại học
Đà Nẵng. Đề tài này phân tích “những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
tới chính sách huy động vốn của NHTM Việt Nam”. Trong đó cũng đưa ra
sáu giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách huy động vốn, đẩy mạnh
huy động vốn trong môi trường kinh tế quốc tế đầy cạnh tranh.
Như vậy, trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động
huy động vốn và quản trị huy động vốn tại các NHTM, nhưng cho đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống từ khung lý


13
thuyết đến thực tiễn về quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
phát triển Việt Nam, chi nhánh Hải Dương.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận về quản trị huy động vốn của NHTM
- Đánh giá thực trạng công tác quản trị hoạt động huy động vốn tại BIDV Hải
Dương. Từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường công tác quản

tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Hải Dương
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản trị
huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh
Hải Dương.


15
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn để cho vay,
đầu tư và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác. Huy động vốn là hoạt động
tạo thêm nguồn vốn cho Ngân hàng thương mại, nó có một vai trò vô cùng
quan trọng, liên quan và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của NHTM, nó
được xem là lẽ sống, đóng vai trò trọng yếu của các NHTM, đặc biệt là các
NHTM có quy mô lớn.
Hoạt động huy động vốn là “nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình
thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng”.
Nghĩa là, ngân hàng “mua quyền sử dụng” các khoản vốn trong một thời
gian nhất định và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch. Vốn
huy động là vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng.
1.1.2 Phân loại
Các loại vốn huy động của NHTM bao gồm:
- Vốn huy động từ tiền gửi:
Tiền gửi của khách hàng là “nguồn tài nguyên quan trọng nhất” của ngân
hàng thương mại.
Bất cứ một ngân hàng nào khi bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên của

quy định, họ phải vay mượn thêm để đảm bảo khả năng thanh khoản do khả
năng huy động bị hạn chế.
Bao gồm các khoản vay NHNN, vay các TCTD khác và vay trên thị
trường vốn (thông qua phát hành giấy tờ có giá).
- Vốn huy động từ nguồn khác:
Ngoài các nguồn trên, NHTM còn thực hiện việc huy động vốn thông
qua các nguồn từ hoạt động Uỷ thác (bao gồm uỷ thác đầu tư, cho vay, giải
ngân và thu hộ…).
Các khoản nợ khác, có thể kể đến như các khoản thuế chưa nộp, lương
còn phải trả,… cũng là một vài thành phần làm tăng thêm nguồn huy động
cho các NHTM.


17
1.2. QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.2.1. Quản trị huy động vốn của Ngân hàng thương mại
a. Khái niệm
Quản trị huy động vốn của NHTM là “quản trị quá trình huy động vốn, và
nguồn vốn huy động để đảm bảo cho NHTM luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và
phát triển các hoạt động kinh doanh với chi phí hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất”.
Việc quản trị nguồn vốn huy động nhằm giúp cho NH luôn có đủ vốn
duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh này. Và để có thể quản trị tốt
nguồn vốn thì mỗi cán bộ quản trị cần phải am hiểu về đặc điểm của từng loại
nguồn vốn để sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất.
b. Mục tiêu của quản trị huy động vốn
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm nhiều thành
phần. Một số thành phần trong đó không ổn định, nhưng có khả năng giao
dịch cao với lãi suất thấp và ngược lại.
Do đó, cơ cấu vốn (tỷ trọng nguồn huy động trên tổng nguồn vốn), chi
phí vốn, cùng tính chất ổn định và thời hạn của nguồn vốn đều là các nhân tố

vốn tự có, khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng...”.
Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động phải thực sự ổn
định thì việc mở rộng hoạt động mới thực sự an toàn. Nếu quy mô vốn hiện
tại lớn, nhưng nếu Ngân hàng lại lơ là kiểm soát, coi nhẹ việc dự đoán xu
hướng của các dòng tiền gửi vào và rút ra trong tương lai thì sẽ rất khó khăn
đối với họ, trong việc cho vay đầu tư và mất đi sự chủ động của mình. Vì vậy
đây là một trong những mục tiêu quan trọng cần phải thực hiện và đạt được
của hoạt động quản trị huy động vốn trong NHTM.
- Đảm bảo duy trì khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh
của ngân hàng.
Nguồn vốn được huy động phải đem lại hiệu quả nhất định cho Ngân
hang. Mục tiêu của quản trị huy động vốn, là xác định khối lượng vốn dung
cho hoạt động của NHTM có sự phù hợp giữa vốn cho vay – dự trữ, cho vay
ngắn hạn – cho vay dài hạn, để từ đó, vừa đáp ứng được nhu cầu thanh toán
kịp thời, đầy đủ, vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh, đem lại nguồn lợi nhuận
lớn cho Ngân hàng.
c.Nội dung công tác quản trị huy động vốn


19
- Xác lập mục tiêu, chiến lược huy động vốn cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Chiến lược được hiểu là những kế hoạch hành động được lập ra để đạt
được một mục tiêu cụ thể, hay là tổ hợp các mục tiêu và các biện pháp, các
cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.
Những mục tiêu trong hoạt động huy động vốn được xác định như thành
quả của NHTM khi huy động và sử dụng nguồn vốn trong thời gian dài.
Những mục tiêu ngắn hạn giúp Ngân hàng có được bước đi cụ thể phù hợp
với từng giai đoạn, còn mục tiêu trong dài hạn là mục tiêu cần thiết đối với
mỗi NHTM, giúp Ngân hàng định hướng được con đường hoạt động và cái
đích thành công mà họ cần phải đạt được trong tương lai.

tố của môi trường kinh tế vi mô, vĩ mô, sẽ đưa ra các chương trình, kế hoạch
hoạt động sao cho phù hợp.
Hệ thống chính sách Marketing bổ trợ là cần thiết đối với các NHTM
trong việc huy động vốn. Một chính sách marketing hiệu quả sẽ giúp Ngân
hàng huy đông được nguồn vốn lớn trong thời gian ngắn cùng chi phí được
hạn chế. Chính sách marketing phụ thuộc vào các nhân tố như: lãi suất huy
động, chính sách về sản phẩm (chính sách cung ứng những dịch vụ mà ngân
hàng có khả năng), chính sách phân phối,…
- Điều hành mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn.
Như nhiều người vẫn nói, Ngân hàng hoạt động dựa trên nguyên tắc “đi
vay để cho vay”. Thực chất thì đó không phải toàn bộ bản chất hoạt động của
NHTM, nhưng đúng là, để có được nguồn cho khách hàng vay, Ngân hàng
phải “đi vay”, thông qua việc huy động tiền gửi của các tổ chức, dân cư.
Nguồn vốn huy động càng nhiều, thì ngân hàng có thể sử dụng được nhiều
vốn, mở rộng cho vay, gia tăng các khoản đầu tư.
Đồng thời, việc sử dụng vốn của NHTM, chính sách đầu tư, tín dụng
cũng có ảnh hưởng qua lại với việc huy động vốn, quyết định quy mô vốn mà
ngân hàng cần phải huy động trong thời gian tới là bao nhiêu.
Như vậy, công tác quản lý các hoạt động của NHTM nói chung và quản
trị huy động vốn nói riêng, phải kết hợp đựơc một cách tối ưu và hài hòa nhất
hoạt động của việc huy động và sử dụng vốn, nhằm đem lại hiệu quả kinh
doanh cao nhất cho Ngân hàng.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá quản trị huy động vốn


21
- Về quy mô
Quy mô là “chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng. Các
NHTM thường đánh giá quy mô huy động vốn thông qua tỷ lệ hoàn thành kế
hoạch huy động”. Nghĩa là, quy mô huy động vốn được biểu hiện qua chỉ tiêu

bao nhiêu lần hay phần trăm (%).
Vốn ngắn hạn: nguồn vốn có thời hạn dưới 12 tháng, chiếm tỷ trọng lớn
trong NHTM. Có nhiều nguồn huy động với mức kỳ hạn như 1, 3, 6, 9, 12
tháng với các mức lãi suất khác nhau.
Vốn trung hạn: có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Tỷ trọng của loại vốn
này trong tổng nguồn là không lớn do không được khách hàng ưu chuộng nên
thường được gộp chung nhóm với vốn dài hạn.
Vốn dài hạn: là những nguồn có thời hạn trên 5 năm. Nguồn này chiếm
tỷ trọng rất nhỏ trong các NHTM. Do có tính chất là thời hạn dài, tính ổn định
cao nên chi phí cũng đắt hơn các nguồn khác. Vì vậy được khá nhiều khách
hàng tin tưởng chọn lựa.
Căn cứ vào 2 yếu tố: tỷ trọng vốn ngắn, trung, dài hạn trong tổng số vốn
huy động, và nhu cầu thời gian cung ứng vốn ra thị trường cho các đối tượng
khác nhau, mà ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy các
nguồn vốn ở kỳ hạn huy động tương ứng, để từ đó đảm bảo tính thanh khoản
và lợi nhận cao nhất cho ngân hàng.
• Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền
“Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của vốn
huy động bằng nội tệ hay ngoại tệ trong tổng huy động. Theo đó, ngân hàng sẽ


23
tiến hành phân tích cơ cấu vốn huy động theo hình thức này để thấy tình trạng của
từng loại vốn huy động nội, ngoại tệ trong tổng vốn huy động”.
Dựa vào tỷ trọng của từng loại tiền tệ huy động được, tỷ giá, và nhu cầu
vay vốn của các đối tượng khách hàng... ngân hàng có thể điều tiết được
nguồn huy động của từng loại ngoại tệ một cách hợp lý và phù hợp nhất,
mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
• Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng khách hàng.
“Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn huy động của từng đối tượng huy

những lĩnh vực, hạng mục khác có lợi hơn”.
• Rủi ro thanh khoản:
Đây là rủi ro khi có tình trạng khách hàng rút tiền hàng loạt hoặc rút số
lượng tiền lớn, làm sụt giảm nghiêm trọng nguồn vốn của ngân hàng. Rủi ro này
khiến ngân hàng mất khả năng trả nợ, gây ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế.
Người gửi tiền không rút được tiền, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
của các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế; Ngân hàng có nguy cơ bị phá sản,
tác động đến toàn bộ hệ thống ngân hàng khi sự tin tưởng của khách hàng bị
dao động.
Do đó quản trị rủi ro thanh khoản luôn là vấn đề hàng đầu, quan trọng
nhất đối với các NHTM.
• Rủi ro ngoại hối: là rủi ro mà sự thay đổi về tỷ giá và lãi suất ngoại tệ có thể
tác động bất lợi đến giá trị các tài sản và nợ bằng ngoại tệ của ngân hàng hoặc
gây nên sự tổn thất về lợi nhuận.
Rủi ro luôn tồn tại song song với hoạt động của NHTM, do đó Các nhà
quản trị ngân hàng thường xuyên phải đối đầu với những thách thức trong
việc quản trị và kiểm soát các chiều hướng rủi ro bởi huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau.
Sự đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn, thường phải cân nhắc
và lựa chọn, xử lý hợp lý. Rủi ro càng lớn, lợi nhuận kỳ vọng càng cao, do đó


25
công việc quản trị phải đảm bảo yêu cầu về cân đối giữa rủi ro và nguồn lợi
mà ngân hàng đạt được.
Như vậy, mỗi khi phải huy động vốn mới, nhà quản trị ngân hàng phải
lựa chọn, xử lý mối quan hệ giữa chi phí và rủi ro, rủi ro và lợi nhuận, sao cho
thích hợp với hoàn cảnh thực tế, và phù hợp với chính sách của ngân hàng.
1.3.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status