phân tích khái niệm vi phạm hành chính- bài tập cá nhân 2 luật hành chính - Pdf 58

Bài làm
Vi phạm hành chính là một phạm trù pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong thực
tiễn của hoạt động hành pháp của nước ta, được khoa học luật hành chính nghiên
cứu như một đối tượng, một nội dung cơ bản. Xét về mặt lý luận vi phạm hành
chính là một dạng cụ thể của vi phạm pháp luật, đây là một loại vi phạm trong
lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Tuy không nghiêm trọng như tội phạm
song là vi phạm rất phổ biến xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, và tính
nghiêm trọng đang ngày càng gia tăng, mỗi ngày một “nóng” hơn, với những
hành vi kéo dài như “ giết sông Thị Vải của VEDAN”, “đầu độc sông Hồng của
MIWON”, xả các chất độc hại ra môi trường của nhiều cơ sở khác… gây tác hại
đến trật tự quản lý hành chính.Chính vì thế mà công tác đấu tranh phòng và
chống vi phạm hành chính luôn là vấn đề được xã hội quan tâm.
Việc đưa ra khái niệm vi phạm hành chính, một mặt nêu ra sự khác biệt giữa vi
phạm hành chính với tội phạm và các loại vi phạm pháp luật khác, đồng thời xác
định được những vi phạm hành chính cụ thể. Mặt khác thông qua đó để xác định
trách nhiệm hành chính cho các chủ thể vi phạm hành chính dưới các hình thức
xử phạt, các biện pháp hành chính khác v.v… Hành vi vi phạm hành chính từ
trước tới nay đã được nhà nước quy định ở nhiều văn bản khác nhau. Trong đó có
một số văn bản đáng chú ý như: Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị
định 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ. Pháp lệnh xử phạt vi phạm
hành chính ngày 30/11/1989 có hiệu lực từ ngày 1/1/1990 do Hội đồng nhà nước
ban hành. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính ngày 6/7/1995 do Ủy ban thường vụ
Quốc hội ban hành; có hiệu lực thi hành từ 1/8/1995. Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính ngày 2/7/2002, đã được sửa đổi bổ xung theo pháp lệnh số
31/2007/PL-UBTVQH11ngày 08/3/2007 và pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12
ngày 2/4/2008.
Trước năm 1989, pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta chỉ dừng lại ở mức
thấp, đáng kể nhất là Nghị định phạt vi cảnh số 143 năm 1977 Bước ngoặt cơ bản
là pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 được ban hành. Đây văn bản
đầu tiên có tầm pháp lệnh quy định về trách nhiệm hành chính và quy định đầy đủ
hơn, cụ thể hơn Nghị định 143. Điều 1 pháp lệnh xử phạt hành chính 1989 đã đưa

các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ. Là sự phá vỡ,
đảo lộn các trật tự quản lý nhà nước. Mặc dù mức độ nguy hiểm ít hơn so với tội
phạm nhưng lại xảy ra thường xuyên, mọi lúc mọi nơi tạo nên một trở lực to lớn
cho việc duy trì, củng cố trật tự kỉ cương nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển
chung của xã hội.
VD: Pháp luật Việt Nam bảo vệ chế độ một vợ một chồng, hành vi vi phạm chế
độ một vợ một chồng là hành vi vi phạm hành chính, phá vỡ các quy tắc mà pháp
luật bảo vệ.
Thứ hai, tính trái pháp luật hành chính của vi phạm hành chính: Thể hiện ở
chỗ, những hành vi do chủ thể thực hiện trái với các quy định của pháp luật hành
chính điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Một người
hoặc một tổ chức khi thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính ngăn cấm,
không thực hiện những hành vi mà pháp luật yêu cầu, hoặc thực hiện những hành
vi vượt quá giới hạn pháp luật hành chính cho phép đều là những hành vi vi phạm
hành chính. Ngược lại những hành vi trái pháp luật nhưng không được ngành luật
hành chính quy định và bảo vệ ( thể hiện trong các văn bản pháp luật quy định về
hành vi vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính ) thì không coi là trái
pháp luật hành chính.Điều này đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính 2002.
VD: Hành vi vi phạm quy định về thủ tục xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp là hành vi vi phạm hành chính đã được quy định cụ thể tại NĐ
số 97/2010/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công
2
nghiệp. Hành vi đó là hành vi trái với pháp luật, bị luật pháp luật hành chính ngăn
cấm.
Thứ ba, tính có lỗi của vi phạm hành chính: Lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc
để xác định hành vi vi phạm hành chính. Sẽ không có đủ cơ sở truy cứu trách
nhiệm pháp lý đối với đối tượng vi phạm pháp luật khi đối tượng thực hiện hành
vi vi phạm không có lỗi. Lỗi là dấu hiệu cơ bản trong mặt chủ quan của vi phạm
hành chính. Lỗi thể hiện thái độ của chủ thể vi phạm đối với hành vi vi phạm

chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bởi lẽ, khái niệm vi
phạm hành chính là cơ sở đầu tiên để phân biệt vi phạm hành chính với các loại
vi phạm pháp luật khác, cũng là cơ sở để xác định đúng hành vi vi phạm hành
chính cụ thể, đánh giá đúng được tính chất vi phạm và mức độ xâm hại của hành
3
vi, qua đó nhận thức đúng đắn, thấu đáo về bản chất của vi phạm hành chính.
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status