Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội - Nguyễn Văn Chiến - Pdf 58

    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

Giải thích từ ngữ
GPMB: giải phóng mặt bằng
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SDĐ: Sử dụng đất
KT: Kinh tế
SX­KD: Sản xuất ­ doanh
UBND: Ủy ban nhân dân
NN: Nhà nước
BT: Bồi thường
QH, KHSDĐ: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
HT: Hỗ trợ
LĐĐ: Luật đất đai
TĐC: Tái định cư
BQL: Ban quản lý
HTX: Hợp tỏc xó
GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HT&TĐC: Hỗ trợ và tái định cư
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
TN,MT&NĐ: Tài nguyên, môi trường, nhà đất
HTKT: Hỗ trợ kinh tế

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com


2.3. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ về đất................................................................................................26
2.3.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất...........................................................................................26
2.3.2. Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ về đất.............................................................................28
2.3.3. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại......................................................38
2.3.4. Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân........................................................43
2.3.5. Về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của tổ chức......................................................................47
2.4. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ về tài sản...........................................................................................47
2.4.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về tài sản.....................................................................................47
2.4.2. Bồi thường, hỗ trợ về nhà, công trình xây dựng trên đất.............................................................48
2.4.3. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả, công trình văn hoá, di tích lịch sử, nhà thờ, đền, chùa, am 
miếu...........................................................................................................................................................50
2.4.4. Về bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng, vật nuôi.......................................................................51
2.5. Về các chính sách hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo 
việc làm cho người bị thu hồi đất.................................................................................................................55
2.5.1. Hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX..........................................................................55
2.5.2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm.......................................................................................55
2.6. Pháp luật về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở.....................................................57

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
2.6.1. Các nguyên tắc bố trí TĐC cho người bị thu hồi đất....................................................................57
2.6.2. Thực tế áp dụng các quy định về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trên địa 
bàn TP Hà Nội...........................................................................................................................................59

Chương 3..........................................................................................................................................1
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ 
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRấN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG 

    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

một thủ đô có bề dày lịch sử 1.000 năm tuổi, Hà Nội đang diễn ra quá trình công  
nghiệp hóa, đô thị  hóa mạnh mẽ. Hàng ngàn dự  án đã và đang được triển khai 
trên địa bàn thành phố Hà Nội với kế hoạch dự kiến thu hồi hàng vạn héc ta đất  
canh tác  ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng chục nghìn hộ  gia đình  
nông dân. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), hỗ  trợ, đào tạo  
chuyển đổi nghề, bố  trí công ăn việc làm mới cho người nông dân bị  mất đất  
sản xuất đang là những thách thức không nhỏ  cho các cấp Uỷ  Đảng và chính  
quyền từ thành phố  đến cơ  sở. Thực tế  giải quyết vấn đề  này cho thấy đây là  
công việc khó khăn, phức tạp nảy sinh nhiều tranh chấp, khi ếu kiện kéo dài và  
dễ phát sinh thành những điểm nóng gây mất ổn định về chính trị. Nhận thức sâu 
sắc được những khó khăn, thách thức của công tác bồi thường, GPMB, Hà Nội  
đã ban hành nhiều chủ  trương, chính sách, văn bản nhằm thực thi có hiệu quả 
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp 
với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của thủ đô. Tuy nhiên trong điều kiện Hà Nội 
mở rộng địa giới hành chính và triển khai nhiều dự án lớn để chào mừng Đại lễ 
1.000 năm Thăng Long ­ Hà Nội và phát triển Hà Nội trở thành một thủ đô hiện  
đại, văn minh của một đất nước có dân số 100 triệu dân trong tương lai không xa 
thì việc thực thi pháp luật về  bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  khi Nhà nước thu  
hồi đất trên địa bàn thủ  đô vẫn còn bộc lộ  nhiều thiếu xót, khiếm khuyết cần  
được nghiên cứu để chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trên cơ 
sở  đó, kiến nghị, đề  xuất với chính quyền thành phố  Hà Nội những giải pháp  
khắc phục nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án góp phần xây dựng Hà  
Nội trở thành thủ đô văn minh, giàu đẹp đáp ứng với lòng tin yêu của đồng bào  
cả  nước và ban bè quốc tế. Với những lý do trên, em lựa chọn đề  tài   “Thực  
trạng áp dụng pháp luật về  bồi thường, hỗ  trợ, tái định cư  khi Nhà nước  
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học 
Luật.

cư  khi Nhà nước thu hồi đất được đề  cập trong Luật đất đai năm 2003 và các  
văn bản hướng dẫn thi hành;
­ Nghiên cứu các quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân (UBND)  
thành phố Hà Nội nhằm tổ chức triển khai pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái  
định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
­ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, 
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
­ Nghiên cứu quan điểm, chủ  trương, đường lối, chinh sách của 
Đảng và Nhà nước ta về  bồi thường, hỗ  trợ, tái định cư  khi Nhà nước thu hồi  
đất;
­ Nghiên cứu chủ trương, đường lối của Thành ủy Hà Nội về  lãnh 
đạo, chỉ đạo việc thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  khi Nhà  
nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội v.v;
4. Phương pháp nghiên cứu
Để  giải quyết các yêu cầu mà đề  tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu 
khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

­ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật  
lịch sử của Chủ nghĩa Mác ­ Lê nin;
­ Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể 
sau:
(i) Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử 
v.v 
được sử  dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề  lý luận về 

NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI 
ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT 
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ 
NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu 
hồi đất
1.1.1. Quan niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi 
đất;
1.1.1.1. Khái niệm về bồi thường
Trong đời sống hàng ngày, “ bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong 
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ  phải có  
trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn  
hại gây ra”;
Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ 
thể  có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ  thể  khác trong xã hội. 
Trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ  bồi thường (hay đền bù) khi Nhà 
nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959  
của Hội đồng Chính phủ quy định Thể lệ tam thời về trưng dụng ruộng đất, tại  
Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. 
Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về 
quy định một số  điểm tạm thời  về  bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lõu  
niờn, cỏc hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành  
phố  cũng đề  cập vấn đề  bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt khi  
Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ  trưởng (nay là Chính phủ) đã ban  
hành quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất  
nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ 
“bồi thường” được thay thế  bằng thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ  này tiếp tục 

của Nhà nước gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ  phát sinh sau khi có quyết định 
hành chính về thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
 ­ Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa 
một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu  
tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây  
ra;
  ­ Căn cứ  để  xác định bồi thường là diện tích thực tế  bị  thu hồi;  
thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và khung giá đất do Nhà 
nước quy định tại thời điểm thu hồi đất;
 ­ Người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất muốn được bồi 
thường về đất phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định;
­ Người bị Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất 
mà còn được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất và được hưởng các chính  

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

sách hỗ  trợ, tái định cư  của Nhà nước nhằm nhanh chóng  ổn định đời sống và 
sản xuất;
1.1.1.2. Khái niệm hỗ trợ, tái định cư 
Bên cạnh thuật ngữ  bồi thường, trong các văn bản pháp luật hiện hành 
còn đề cập đến khái niệm hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Hỗ trợ,  
tái định cư thể hiện chính sách  nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất  
“của dân, do dân và vỡ dõn” của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với 
người bị thu hồi đất và giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống. Vậy hỗ trợ, tái 
định cư khi Nhà nước là gì?;
Theo khoản 7 Điều 4 Luật đất đai năm 2003: “Hỗ  trợ  khi Nhà nước thu  

 
Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai (làm chấm  
dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất) mà  
còn “đụng chạm” đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích của 
người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng 
lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân  
…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất (thực chất 
là xử lý hài hòa lợi ích kinh tế giữa cỏc bờn) gặp rất khó khăn, phức tạp. Việc 
giải quyết tốt vấn đề  bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  khi Nhà nước thu hồi đất  
sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện;
1.2.1.1. Về phương diện chính trị
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất 
đai  ở  Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách,  
pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này 
có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với 
thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ  góp phần vào việc duy trì và củng cố 
sự ổn định chính trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy 
cơ  gây mất  ổn định về chính trị. Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai 
được xã hội đặc biệt quan tâm đó là chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,  
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; bởi lẽ mảng chính sách, pháp luật này ảnh  
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong  
trường hợp bị thu hồi đất nói chung và thu hồi đất ở  nói riêng, quyền và lợi ích 
hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền 
sử  dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ  ở. Hậu quả là cuộc sống thường  
nhật của họ bị đảo lộn. Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam “cú 
an cư  mới lạc nghiệp” thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự là một “cỳ sốc” 
đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông 
qua việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được 
bồi thường, tái định cư thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu 
kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm 

mức sống. Hơn nữa điều này cũn giỳp củng cố  niềm tin của người bị  thu hồi  
đất vào đường lối, chủ  trương, chính sách; pháp luật của Đảng và Nhà nước;  
đồng thời loại trừ  cơ  hội để  kẻ  xấu lợi dụng, tuyên truyền, kích động quần 
chúng nhân dân khiếu kiện, đối đầu với chính quyền nhằm gây mất ổn định tình 
hình trật tự an toàn xã hội và làm đình trệ sản xuất;

1.2. Cơ  sở  của việc quy định về  bồi thường, hỗ  trợ  và tái định cư  khi 
Nhà nước thu hồi đất
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất  
được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu sau đây: 
 Thứ nhất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được  
đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo  
hộ. Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ  quyền sở  hữu tư  nhân về  tài  
sản: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều  
12). Quyền này tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992: “Cụng dõn 
có quyền sở  hữu về  thu nhập hợp pháp, của cải để  dành, nhà  ở, tư  liệu sinh  
hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và các tài sản khác trong doanh nghiệp… Nhà nước 
bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dõn” ( Điều 58) [5, 
tr1]. Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn ghi nhận: “Tài sản hợp pháp của cá 

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

nhân, tổ  chức không bị  quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do 
quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia,   Nhà nước trưng mua hoặc trưng 
dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…”  
(Điều 23); [5, tr1]

trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 
đem lại. Để  tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hóa về 
kinh tế, chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và khơi 

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân đóng góp vào sự 
nghiệp chấn hưng đất nước. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước 
biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân. Đây cũng là  
một lý do dẫn đến việc ra đời các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi 
Nhà nước thu hồi đất;
Thứ năm, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 
được xây dựng dựa trên chế độ  sở  hữu toàn dân về  đất đai, Nhà nước giao đất  
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài;
Nhìn lại thành tựu 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có thể 
nhận thấy rằng những thành tựu này là kết quả của quá trình đổi mới tư duy mà  
hạt nhân cơ  bản là đổi mới tư  duy về  sở hữu tài sản. Để  giải phóng mọi năng 
lực sản xuất của người lao động, tạo ra một động lực mới cho sản xuất nông 
nghiệp, Đảng ta đã rất sáng suốt khi lựa chọn và thực hiện việc đổi mới cơ chế 
quản lý kinh tế  trong nông nghiệp làm khâu đột phá cho toàn bộ  quá trình cải  
cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân  
đối với đất đai thông qua việc giao đất cho họ  sử  dụng  ổn định, lâu dài và mở 
rộng các quyền năng cho người sử  dụng đất. Như  vậy, “kể  từ  đây quyền sử 
dụng đất đã tách khỏi quyền sở  hữu đất đai được chủ  sở  hữu đất đai chuyển  
giao cho người sử  dụng đất thực hiện và trở  thành một loại quyền về  tài sản 
thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói cách khác “Quyền sở hữu đất đai  

người sử  dụng đất bị  mất quyền sử  dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà 
nước gây ra) và thu hồi đất  ở  nói riêng, Nhà nước phải bồi thường, hỗ  trợ, tái  
định cư cho người sử dụng đất;

1.3. Khái quát lịch sử hình thành các quy định về bồi thường, hỗ trợ và 
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1993
Trước năm 1987, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ  quan,  ở  nước  
ta pháp luật đất đai chưa phát triển. Trong thời kỳ này chỉ có một số văn bản quy  
phạm   pháp   luật   về   đất   đai   mà   tiêu   biểu   là   Nghị   định   số   151/TTg     ngày 
14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ  quy định Thể  lệ  tạm thời về  trưng dụng  
ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị 
trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư  số  1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ  tướng  
Chính phủ  về  quy định một số  điểm tạm thời về  bồi thường nhà cửa, đất đai,  
cây cối lõu niờn, cỏc hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở 
rộng thành phố đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định  
số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chớnh phủ về tăng cường công tác quản  
lý ruộng đất trong cả  nước. Các quy định về  bồi thường khi Nhà nước thu hồi  
đất mặc dù được ban hành song chưa đầy đủ, thống nhất;
Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII kỳ  họp thứ  hai đã thông qua Luật  
đất đai; trong đó quy định: “Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà  
nước hoặc của xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khỏc”  
(Khoản 5 Điều 49). Tuy nhiên quy định này mới dừng lại  ở  mức độ  khái quát  
chưa nêu cụ  thể các trường hợp được bồi thường hay không được bồi thường; 
mức độ bồi thường như thế nào v.v. Cụ thể hóa quy định này của Luật đất đai 
năm 1987, Quyết định số  186/HĐBT ngày 31/05/1990 của Hội đồng Bộ  trưởng 
(nay là Chính phủ) quy định về  vấn đề  bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu  
hồi đất trong trường hợp chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang 
sử  dụng vào mục đích khác. Theo đó, người được Nhà nước cho phép chuyển 
mục đích sử  dụng đất phải nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Nhà 

số 22/1998/NĐ­CP. Các văn bản này đó cú những sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau 
đây:
 
 ­ Quy định rõ tổ  chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê 
đất có trách nhiệm đền bù thiệt hại ( Điều 2 Nghị định số 22/1998/NĐ­CP);
 
 ­ Giá đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ  sở giá đất 
do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ  nhân với hệ  số  K  
nhằm đảm bảo giá đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và không quá thấp so  
với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường (Điều 8 Nghị Định số 
22/1998/NĐ­CP);
 
 ­ Ngoài việc được đền bù, người bị  thu hồi đất còn được trợ  cấp  
nhằm  ổn định đời sống trong trường hợp phải di chuyển chỗ  ở, di chuyển địa 
điểm sản xuất ­ kinh doanh; trả chi phí chuyển đổi nghề  nghiệp, được chuyển  
đến  khu  tái  định  cư   nếu  họ  có   nhu  cầu…  (Điều  25,  Điều   28  Nghị   định  số 
22/1998/NĐ­CP);

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

Tuy nhiên, trên thực tế do việc xác định hệ  số K quá phức tạp nên nhiều 
địa phương xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn thấp hơn 
nhiều giá đất chuyển nhượng trên thị  trường. Điều này đã gây ra nhiều tranh  
chấp, khiếu kiện về  đất đai phức tạp, kéo dài. Để  khắc phục những hạn chế 
này và sửa đổi một số quy định của pháp luật đất đai cho phù hợp với yêu cầu 
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 26/11/2003, Quốc 

GPMB, ngày 25/05/2007, Chính phủ  ban hành Nghị  định số  84/2007NĐ­CP quy 
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực  
hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà  

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về  đất đai. Mặc dù thường xuyên  
được sửa đổi, bổ sung song những quy định trên đây cũng chỉ giải quyết một số 
vấn đề  bức xúc nảy sinh từ công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi 
đất. Do đây là công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của  
người dân nếu các quy định được xây dựng không hợp lý và thường xuyên được 
sửa đổi, bổ sung thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài,  
gây mất  ổn định về  chính trị. Nhận thức được vấn đề  này, ngày 13/08/2009, 
Chính phủ  đã ban hành Nghị  định số  69/2009/NĐ­CP quy định bổ  sung về  quy 
hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư... Nghị 
định này có hiệu lực thi hành từ  ngày 01/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy 
định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; 
trình tự, thủ  tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ  đất, cấp  
GCNQSDĐ,   sử   dụng   đất   công   trình   ngầm   và   gia   hạn   sử   dụng   đất.   Ngày 
01/10/2009, Bộ  Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư  số  14/2009/TT­
BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư  và trình tự, thủ tục  
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nhằm xử lý các tình huống mới nảy sinh trong 
quá trình thu hồi đất, GPMB thời gian vừa qua.;
Tóm lại: Song hành với sự  phát triển của pháp luật đất đai, các quy định  
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất luôn được xây dựng, 
sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh  

70 ha trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức đất này, chính quyền cấp  
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định thu hồi. Đất nông nghiệp sau  
khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở  hữu tập thể thành đất thuộc sở  hữu nhà 
nước.
1.4.1.2. Về trách nhiệm bồi thường
Pháp luật Trung Quốc quy định người nào sử  dụng đất thì người đó có 
trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường do người sử  dụng đất trả.  
Tiền bồi thường này bao gồm: Lệ  phí sử  dụng đất phải nộp cho Nhà nước và  
các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi;
  ­ Lệ  phí sử  dụng đất phải nộp cho Nhà nước:  Theo quy định của pháp 
luật, 70% mức lệ phí này được giữ lại ở ngõn sách cấp tỉnh và 30% còn lại nộp 
về ngõn sách trung ương;
 ­ Các khoản đền bù cho người có đất bị  thu hồi: Theo quy định, khi thu 
hồi đất phải trả cho người bị thu hồi các loại tiền sau đây: Tiền bồi thường đất 
đai; tiền trợ cấp về tái định cư; tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Theo  
đó, cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ  cấp tái định cư  căn cứ  theo giá  
trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đõy nhõn với một hệ số do Nhà  
nước quy định. Đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định 
theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất. Ví dụ:  ở Bắc Kinh, khoản tiền bồi 
thường hoa màu này được tính bằng 6 ­ 10 lần sản lượng trung bình của 3 năm 
trước đó. Tuy nhiên, tổng 2 khoản tiền này không được vượt quá 30 lần sản 
lượng trung bình của 3 năm trước của thửa đất đó.
 1.4.1.3. Về nguyên tắc bồi thường
Pháp luật Trung Quốc quy định khoản tiền bồi thường cho GPMB phải  
đảm bảo cho người bị thu hồi đất  ở  có chỗ   ở  bằng hoặc cao hơn so với nơi  ở 
cũ; Thực tế ở Bắc Kinh cho thấy, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường  
đó cộng với khoản tiền tiết kiệm, họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với 

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới. Cũn giỏ đất tiêu chuẩn do Nhà nước 
xác định căn cứ  theo giá đất của những nhà thương phẩm trong cùng một khu  
vực, rồi quyết định. Trợ  cấp về  giá cả  cũng do chính quyền xác định. Khoản 
tiền đền bù này được tính theo m2, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng của 
nhà ở. Người dân sẽ được nhận số tiền đó và có thể đi mua nhà trên thị trường.  
Trường hợp Nhà nước có diện tích nhà tái định cư  thì nếu người được bồi 

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

thường có nhu cầu sẽ  được phân nhà với diện tích tương đương số  tiền họ  đã  
được nhận bồi thường.  

1.4.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
 Thông qua việc tìm hiểu pháp luật Trung Quốc về bồi thường, hỗ trợ, tái  
định cư khi Nhà nước thu hồi đất, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cho  
Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ 
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
Thứ  nhất, về  thời điểm bồi thường, tái định cư. Theo quy định của pháp  
luật hiện hành thì việc xác định thời điểm bồi thường, thực hiện tái định cư  là  
thời điểm có quyết định thu hồi đất là chưa hợp lý và chưa phù hợp với thực tế.  
Để khắc phục những bất cập này, nên sửa đổi quy định về  thời điểm tớnh giỏ 
bồi thường và thực hiện tái định cư cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu 
hồi đất như sau:
 ­ Quy định về tớnh giỏ bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường tái 
định cư trên thực tế;
 ­ Ngoài việc bồi thường theo giá đất tại thời điểm thu hồi cần quy định 

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội đã được Nghị quyết 15 ­NQ/TW của Bộ 
chính trị Khóa VIII về phương hướng nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội thời kỳ 
2001 ­ 2010 khẳng định: “Hà Nội là trái tim của cả  nước, đầu não chính trị,  
hành chính quốc gia, trung tâm lớn về  văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế  và  

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

giao dịch quốc tế”.   Nghị  quyết 15/2008/QH12 của Quốc hội có hiệu lực từ 
01/08/2008, Hà Nội mở  rộng bao gồm cả  tỉnh Hà Tây, Huyện Mê Linh (Vĩnh 
Phúc) và 4 xã thuộc Huyện Lương sơn (Hòa Bình). Hà Nội có quy mô 3.344,7km2 
(rộng gấp 3,5 lần trước khi chưa mở rộng), với số dân khoảng 6.232.000 người 
(gấp 2 lần khi chưa mở rộng) thành phố có 29 đơn vị hành chính cấp huyện, 409  
xã, 147 phường và 21 thị trấn (so với 19 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 9 
quận, 5 huyện, 128 phường, 99 xã, 5 thị  trấn khi chưa mở  rộng). Hà Nội mở 
rộng hiện nay, đã tạo cho thủ đô có nhiều tiềm năng thuận lợi vươn lên tầm cao 
và vị thế mới. Tuy nhiên, trước mắt Hà Nội cũng có nhiều thách thức phải vượt  
qua. Đó là thu nhập GDP bình quân đầu người phải tính lại (từ 2.300 USD, tính  
toán lại còn khoảng 1500 USD). [14, tr2]

2.1.2. Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Thời gian vừa qua, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có 
đất bị thu hồi trên địa bàn TP Hà Nội về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu SDĐ 
phục vụ phát triển kinh tế ­ xã hội ( KT ­ XH). Số lượng các dự án phải thu hồi  
đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư  ngày càng tăng cả  về  số lượng cũng như 
quy mô dự  án, năm sau nhiều hơn năm trước, liên quan đến nhiều hộ dân. Nếu 

công cộng và phát triển KT quy định tại Khoản 1, Điều 38.
So với Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003 bổ  sung quy định về  trường 
hợp người bị thu hồi đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng 
vào mục đích phát triển KT. Cụ thể hóa quy định này của Luật đất đai năm 2003,  
Nghị định số 181/2004/NĐ­CP ngày 29/10/2004 “Về thi hành Luật đất đai” (Sau 
đây gọi tắt là Nghị  định số  181/2004/NĐ­CP), Nghị  định số  197/2004/NĐ­CP 
ngày 03/12/2004 “Về  bồi thường, hỗ  trợ  và tái định cư  khi Nhà nước thu hồi  
đất” (Sau đây gọi tắt là Nghị định 197/2004/NĐ­CP) đã quy định các trường hợp 
Nhà nước thu hồi đất vào mục đích phát triển KT bao gồm:
(i) SDĐ để đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu KT, khu công nghệ cao;
(ii) SDĐ để  thực hiện các dự  án đầu tư  có nguồn vốn hỗ  trợ  phát triển  
chính thức (ODA);
(iii) SDĐ để  thực hiện các dự  án có 100% vốn đầu tư  nước ngoài đã  
được cơ  quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư  mà dự  
án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
(iv) SDĐ để   thực hiện các dự  án đầu tư  SX­KD, dịch vụ, du lịch thuộc  
nhóm A theo quy định của pháp luật đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự ỏn đú khụng thể đầu tư trong khu  
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu KT;  [9, tr1]
Tiếp đó, Nghị định số 84/2007/NĐ­CP ngày 25/5/2007 về sửa đổi, bổ sung  
một số điều về cấp GCNQSDĐ, về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ... đã  
bổ  sung thêm một số trường hợp về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vào 
mục đích phát triển KT bao gồm:

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com


phát triển quỹ đất (do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung  ương thành lập)  
thực hiện việc thu hồi đất, BT GPMB và trực tiếp quản lý quỹ  đất đã thu hồi  
đối với trường hợp sau khi QH, KHSDĐ được công bố mà chưa có dự án đầu tư;
2.1.1.2. Về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

    Nguyễn Văn Chiến                                                                          KT31H 025  


    Khóa luận tốt nghiệp                                                                    Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com

Về  đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất theo quy định của LĐĐ 
2003 và NĐ số  197/2004/NĐ­CP, bao gồm: Tổ  chức, cộng đồng dân cư, cơ  sở 
tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; 
tổ chức, cá nhân nước ngoài đang SDĐ bị NN thu hồi đất.
Như  vậy, so với LĐĐ 1993, đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất 
theo LĐĐ 2003 đã được mở rộng hơn, không chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân  
trong nước mà còn bao gồm cả  cộng đồng dân cư, cơ  sở  tôn giáo; người Việt 
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị NN  
thu hồi đất cũng được BT, HT. Việc mở  rộng đối tượng được BT, HT khi NN  
thu hồi đất là rất cần thiết nhằm phù hợp với thực tế SDĐ ở  nước ta hiện nay; 
bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của người SDĐ là cộng đồng dân cư, cơ  sở 
tôn giáo, người Việt Nam định cư   ở  nước ngoài, tổ  chức, cá nhân nước ngoài. 
Hơn nữa, việc mở rộng đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất còn phù hợp 
với mục tiêu bảo đảm tính tương thích về  pháp luật trong quá trình hội nhập 
kinh tế  thế  giới; đồng thời “xoá dần sự  khác biệt về  quyền SDĐ giữa người  
Việt Nam trong nước và người Việt Nam  định cư   ở  nước ngoài,  động viên 
người Việt nam định cư ở nước ngoài hướng về tổ quốc” [18, tr.12].

2.2.2. Nguyên tắc chung về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status