Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
Giải thích từ ngữ
GPMB: giải phóng mặt bằng
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SDĐ: Sử dụng đất
KT: Kinh tế
SXKD: Sản xuất doanh
UBND: Ủy ban nhân dân
NN: Nhà nước
BT: Bồi thường
QH, KHSDĐ: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
HT: Hỗ trợ
LĐĐ: Luật đất đai
TĐC: Tái định cư
BQL: Ban quản lý
HTX: Hợp tỏc xó
GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HT&TĐC: Hỗ trợ và tái định cư
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
TN,MT&NĐ: Tài nguyên, môi trường, nhà đất
HTKT: Hỗ trợ kinh tế
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
2.3. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ về đất................................................................................................26
2.3.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất...........................................................................................26
2.3.2. Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ về đất.............................................................................28
2.3.3. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại......................................................38
2.3.4. Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân........................................................43
2.3.5. Về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của tổ chức......................................................................47
2.4. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ về tài sản...........................................................................................47
2.4.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về tài sản.....................................................................................47
2.4.2. Bồi thường, hỗ trợ về nhà, công trình xây dựng trên đất.............................................................48
2.4.3. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả, công trình văn hoá, di tích lịch sử, nhà thờ, đền, chùa, am
miếu...........................................................................................................................................................50
2.4.4. Về bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng, vật nuôi.......................................................................51
2.5. Về các chính sách hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm cho người bị thu hồi đất.................................................................................................................55
2.5.1. Hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX..........................................................................55
2.5.2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm.......................................................................................55
2.6. Pháp luật về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở.....................................................57
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
2.6.1. Các nguyên tắc bố trí TĐC cho người bị thu hồi đất....................................................................57
2.6.2. Thực tế áp dụng các quy định về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trên địa
bàn TP Hà Nội...........................................................................................................................................59
Chương 3..........................................................................................................................................1
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRấN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
một thủ đô có bề dày lịch sử 1.000 năm tuổi, Hà Nội đang diễn ra quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ. Hàng ngàn dự án đã và đang được triển khai
trên địa bàn thành phố Hà Nội với kế hoạch dự kiến thu hồi hàng vạn héc ta đất
canh tác ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng chục nghìn hộ gia đình
nông dân. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), hỗ trợ, đào tạo
chuyển đổi nghề, bố trí công ăn việc làm mới cho người nông dân bị mất đất
sản xuất đang là những thách thức không nhỏ cho các cấp Uỷ Đảng và chính
quyền từ thành phố đến cơ sở. Thực tế giải quyết vấn đề này cho thấy đây là
công việc khó khăn, phức tạp nảy sinh nhiều tranh chấp, khi ếu kiện kéo dài và
dễ phát sinh thành những điểm nóng gây mất ổn định về chính trị. Nhận thức sâu
sắc được những khó khăn, thách thức của công tác bồi thường, GPMB, Hà Nội
đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản nhằm thực thi có hiệu quả
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của thủ đô. Tuy nhiên trong điều kiện Hà Nội
mở rộng địa giới hành chính và triển khai nhiều dự án lớn để chào mừng Đại lễ
1.000 năm Thăng Long Hà Nội và phát triển Hà Nội trở thành một thủ đô hiện
đại, văn minh của một đất nước có dân số 100 triệu dân trong tương lai không xa
thì việc thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất trên địa bàn thủ đô vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu xót, khiếm khuyết cần
được nghiên cứu để chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trên cơ
sở đó, kiến nghị, đề xuất với chính quyền thành phố Hà Nội những giải pháp
khắc phục nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án góp phần xây dựng Hà
Nội trở thành thủ đô văn minh, giàu đẹp đáp ứng với lòng tin yêu của đồng bào
cả nước và ban bè quốc tế. Với những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Thực
trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học
Luật.
cư khi Nhà nước thu hồi đất được đề cập trong Luật đất đai năm 2003 và các
văn bản hướng dẫn thi hành;
Nghiên cứu các quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân (UBND)
thành phố Hà Nội nhằm tổ chức triển khai pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Nghiên cứu quan điểm, chủ trương, đường lối, chinh sách của
Đảng và Nhà nước ta về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất;
Nghiên cứu chủ trương, đường lối của Thành ủy Hà Nội về lãnh
đạo, chỉ đạo việc thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội v.v;
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu
khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê nin;
Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:
(i) Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử
v.v
được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI
ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất
1.1.1. Quan niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất;
1.1.1.1. Khái niệm về bồi thường
Trong đời sống hàng ngày, “ bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có
trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn
hại gây ra”;
Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ
thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội.
Trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà
nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959
của Hội đồng Chính phủ quy định Thể lệ tam thời về trưng dụng ruộng đất, tại
Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”.
Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về
quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lõu
niờn, cỏc hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành
phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt khi
Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban
hành quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất
nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ
“bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ này tiếp tục
của Nhà nước gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ phát sinh sau khi có quyết định
hành chính về thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa
một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu
tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây
ra;
Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích thực tế bị thu hồi;
thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và khung giá đất do Nhà
nước quy định tại thời điểm thu hồi đất;
Người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất muốn được bồi
thường về đất phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định;
Người bị Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất
mà còn được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất và được hưởng các chính
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
sách hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và
sản xuất;
1.1.1.2. Khái niệm hỗ trợ, tái định cư
Bên cạnh thuật ngữ bồi thường, trong các văn bản pháp luật hiện hành
còn đề cập đến khái niệm hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Hỗ trợ,
tái định cư thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất
“của dân, do dân và vỡ dõn” của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với
người bị thu hồi đất và giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống. Vậy hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước là gì?;
Theo khoản 7 Điều 4 Luật đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu
Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai (làm chấm
dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất) mà
còn “đụng chạm” đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích của
người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng
lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân
…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất (thực chất
là xử lý hài hòa lợi ích kinh tế giữa cỏc bờn) gặp rất khó khăn, phức tạp. Việc
giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện;
1.2.1.1. Về phương diện chính trị
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất
đai ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách,
pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này
có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với
thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy trì và củng cố
sự ổn định chính trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy
cơ gây mất ổn định về chính trị. Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai
được xã hội đặc biệt quan tâm đó là chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; bởi lẽ mảng chính sách, pháp luật này ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong
trường hợp bị thu hồi đất nói chung và thu hồi đất ở nói riêng, quyền và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền
sử dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường
nhật của họ bị đảo lộn. Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam “cú
an cư mới lạc nghiệp” thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự là một “cỳ sốc”
đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông
qua việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được
bồi thường, tái định cư thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu
kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm
mức sống. Hơn nữa điều này cũn giỳp củng cố niềm tin của người bị thu hồi
đất vào đường lối, chủ trương, chính sách; pháp luật của Đảng và Nhà nước;
đồng thời loại trừ cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên truyền, kích động quần
chúng nhân dân khiếu kiện, đối đầu với chính quyền nhằm gây mất ổn định tình
hình trật tự an toàn xã hội và làm đình trệ sản xuất;
1.2. Cơ sở của việc quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được
đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo
hộ. Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài
sản: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều
12). Quyền này tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992: “Cụng dõn
có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh
hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và các tài sản khác trong doanh nghiệp… Nhà nước
bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dõn” ( Điều 58) [5,
tr1]. Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn ghi nhận: “Tài sản hợp pháp của cá
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do
quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng
dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…”
(Điều 23); [5, tr1]
trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
đem lại. Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hóa về
kinh tế, chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và khơi
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân đóng góp vào sự
nghiệp chấn hưng đất nước. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước
biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân. Đây cũng là
một lý do dẫn đến việc ra đời các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất;
Thứ năm, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
được xây dựng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài;
Nhìn lại thành tựu 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có thể
nhận thấy rằng những thành tựu này là kết quả của quá trình đổi mới tư duy mà
hạt nhân cơ bản là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản. Để giải phóng mọi năng
lực sản xuất của người lao động, tạo ra một động lực mới cho sản xuất nông
nghiệp, Đảng ta đã rất sáng suốt khi lựa chọn và thực hiện việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế trong nông nghiệp làm khâu đột phá cho toàn bộ quá trình cải
cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân
đối với đất đai thông qua việc giao đất cho họ sử dụng ổn định, lâu dài và mở
rộng các quyền năng cho người sử dụng đất. Như vậy, “kể từ đây quyền sử
dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển
giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản
thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói cách khác “Quyền sở hữu đất đai
người sử dụng đất bị mất quyền sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà
nước gây ra) và thu hồi đất ở nói riêng, Nhà nước phải bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư cho người sử dụng đất;
1.3. Khái quát lịch sử hình thành các quy định về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1993
Trước năm 1987, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, ở nước
ta pháp luật đất đai chưa phát triển. Trong thời kỳ này chỉ có một số văn bản quy
phạm pháp luật về đất đai mà tiêu biểu là Nghị định số 151/TTg ngày
14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng
ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị
trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng
Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai,
cây cối lõu niờn, cỏc hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở
rộng thành phố đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định
số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chớnh phủ về tăng cường công tác quản
lý ruộng đất trong cả nước. Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất mặc dù được ban hành song chưa đầy đủ, thống nhất;
Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật
đất đai; trong đó quy định: “Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà
nước hoặc của xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khỏc”
(Khoản 5 Điều 49). Tuy nhiên quy định này mới dừng lại ở mức độ khái quát
chưa nêu cụ thể các trường hợp được bồi thường hay không được bồi thường;
mức độ bồi thường như thế nào v.v. Cụ thể hóa quy định này của Luật đất đai
năm 1987, Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất trong trường hợp chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang
sử dụng vào mục đích khác. Theo đó, người được Nhà nước cho phép chuyển
mục đích sử dụng đất phải nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Nhà
số 22/1998/NĐCP. Các văn bản này đó cú những sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau
đây:
Quy định rõ tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất có trách nhiệm đền bù thiệt hại ( Điều 2 Nghị định số 22/1998/NĐCP);
Giá đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất
do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ nhân với hệ số K
nhằm đảm bảo giá đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và không quá thấp so
với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường (Điều 8 Nghị Định số
22/1998/NĐCP);
Ngoài việc được đền bù, người bị thu hồi đất còn được trợ cấp
nhằm ổn định đời sống trong trường hợp phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa
điểm sản xuất kinh doanh; trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, được chuyển
đến khu tái định cư nếu họ có nhu cầu… (Điều 25, Điều 28 Nghị định số
22/1998/NĐCP);
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
Tuy nhiên, trên thực tế do việc xác định hệ số K quá phức tạp nên nhiều
địa phương xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn thấp hơn
nhiều giá đất chuyển nhượng trên thị trường. Điều này đã gây ra nhiều tranh
chấp, khiếu kiện về đất đai phức tạp, kéo dài. Để khắc phục những hạn chế
này và sửa đổi một số quy định của pháp luật đất đai cho phù hợp với yêu cầu
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 26/11/2003, Quốc
GPMB, ngày 25/05/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007NĐCP quy
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực
hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Mặc dù thường xuyên
được sửa đổi, bổ sung song những quy định trên đây cũng chỉ giải quyết một số
vấn đề bức xúc nảy sinh từ công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi
đất. Do đây là công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân nếu các quy định được xây dựng không hợp lý và thường xuyên được
sửa đổi, bổ sung thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài,
gây mất ổn định về chính trị. Nhận thức được vấn đề này, ngày 13/08/2009,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐCP quy định bổ sung về quy
hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư... Nghị
định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy
định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ đất, cấp
GCNQSDĐ, sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử dụng đất. Ngày
01/10/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 14/2009/TT
BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nhằm xử lý các tình huống mới nảy sinh trong
quá trình thu hồi đất, GPMB thời gian vừa qua.;
Tóm lại: Song hành với sự phát triển của pháp luật đất đai, các quy định
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất luôn được xây dựng,
sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh
70 ha trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức đất này, chính quyền cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định thu hồi. Đất nông nghiệp sau
khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà
nước.
1.4.1.2. Về trách nhiệm bồi thường
Pháp luật Trung Quốc quy định người nào sử dụng đất thì người đó có
trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả.
Tiền bồi thường này bao gồm: Lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và
các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi;
Lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước: Theo quy định của pháp
luật, 70% mức lệ phí này được giữ lại ở ngõn sách cấp tỉnh và 30% còn lại nộp
về ngõn sách trung ương;
Các khoản đền bù cho người có đất bị thu hồi: Theo quy định, khi thu
hồi đất phải trả cho người bị thu hồi các loại tiền sau đây: Tiền bồi thường đất
đai; tiền trợ cấp về tái định cư; tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Theo
đó, cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá
trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đõy nhõn với một hệ số do Nhà
nước quy định. Đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định
theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất. Ví dụ: ở Bắc Kinh, khoản tiền bồi
thường hoa màu này được tính bằng 6 10 lần sản lượng trung bình của 3 năm
trước đó. Tuy nhiên, tổng 2 khoản tiền này không được vượt quá 30 lần sản
lượng trung bình của 3 năm trước của thửa đất đó.
1.4.1.3. Về nguyên tắc bồi thường
Pháp luật Trung Quốc quy định khoản tiền bồi thường cho GPMB phải
đảm bảo cho người bị thu hồi đất ở có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở
cũ; Thực tế ở Bắc Kinh cho thấy, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường
đó cộng với khoản tiền tiết kiệm, họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới. Cũn giỏ đất tiêu chuẩn do Nhà nước
xác định căn cứ theo giá đất của những nhà thương phẩm trong cùng một khu
vực, rồi quyết định. Trợ cấp về giá cả cũng do chính quyền xác định. Khoản
tiền đền bù này được tính theo m2, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng của
nhà ở. Người dân sẽ được nhận số tiền đó và có thể đi mua nhà trên thị trường.
Trường hợp Nhà nước có diện tích nhà tái định cư thì nếu người được bồi
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
thường có nhu cầu sẽ được phân nhà với diện tích tương đương số tiền họ đã
được nhận bồi thường.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Thông qua việc tìm hiểu pháp luật Trung Quốc về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cho
Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
Thứ nhất, về thời điểm bồi thường, tái định cư. Theo quy định của pháp
luật hiện hành thì việc xác định thời điểm bồi thường, thực hiện tái định cư là
thời điểm có quyết định thu hồi đất là chưa hợp lý và chưa phù hợp với thực tế.
Để khắc phục những bất cập này, nên sửa đổi quy định về thời điểm tớnh giỏ
bồi thường và thực hiện tái định cư cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu
hồi đất như sau:
Quy định về tớnh giỏ bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường tái
định cư trên thực tế;
Ngoài việc bồi thường theo giá đất tại thời điểm thu hồi cần quy định
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội đã được Nghị quyết 15 NQ/TW của Bộ
chính trị Khóa VIII về phương hướng nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội thời kỳ
2001 2010 khẳng định: “Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị,
hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
giao dịch quốc tế”. Nghị quyết 15/2008/QH12 của Quốc hội có hiệu lực từ
01/08/2008, Hà Nội mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây, Huyện Mê Linh (Vĩnh
Phúc) và 4 xã thuộc Huyện Lương sơn (Hòa Bình). Hà Nội có quy mô 3.344,7km2
(rộng gấp 3,5 lần trước khi chưa mở rộng), với số dân khoảng 6.232.000 người
(gấp 2 lần khi chưa mở rộng) thành phố có 29 đơn vị hành chính cấp huyện, 409
xã, 147 phường và 21 thị trấn (so với 19 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 9
quận, 5 huyện, 128 phường, 99 xã, 5 thị trấn khi chưa mở rộng). Hà Nội mở
rộng hiện nay, đã tạo cho thủ đô có nhiều tiềm năng thuận lợi vươn lên tầm cao
và vị thế mới. Tuy nhiên, trước mắt Hà Nội cũng có nhiều thách thức phải vượt
qua. Đó là thu nhập GDP bình quân đầu người phải tính lại (từ 2.300 USD, tính
toán lại còn khoảng 1500 USD). [14, tr2]
2.1.2. Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Thời gian vừa qua, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có
đất bị thu hồi trên địa bàn TP Hà Nội về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu SDĐ
phục vụ phát triển kinh tế xã hội ( KT XH). Số lượng các dự án phải thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng tăng cả về số lượng cũng như
quy mô dự án, năm sau nhiều hơn năm trước, liên quan đến nhiều hộ dân. Nếu
công cộng và phát triển KT quy định tại Khoản 1, Điều 38.
So với Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003 bổ sung quy định về trường
hợp người bị thu hồi đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích phát triển KT. Cụ thể hóa quy định này của Luật đất đai năm 2003,
Nghị định số 181/2004/NĐCP ngày 29/10/2004 “Về thi hành Luật đất đai” (Sau
đây gọi tắt là Nghị định số 181/2004/NĐCP), Nghị định số 197/2004/NĐCP
ngày 03/12/2004 “Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất” (Sau đây gọi tắt là Nghị định 197/2004/NĐCP) đã quy định các trường hợp
Nhà nước thu hồi đất vào mục đích phát triển KT bao gồm:
(i) SDĐ để đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu KT, khu công nghệ cao;
(ii) SDĐ để thực hiện các dự án đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA);
(iii) SDĐ để thực hiện các dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự
án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
(iv) SDĐ để thực hiện các dự án đầu tư SXKD, dịch vụ, du lịch thuộc
nhóm A theo quy định của pháp luật đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự ỏn đú khụng thể đầu tư trong khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu KT; [9, tr1]
Tiếp đó, Nghị định số 84/2007/NĐCP ngày 25/5/2007 về sửa đổi, bổ sung
một số điều về cấp GCNQSDĐ, về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ... đã
bổ sung thêm một số trường hợp về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vào
mục đích phát triển KT bao gồm:
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
phát triển quỹ đất (do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập)
thực hiện việc thu hồi đất, BT GPMB và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi
đối với trường hợp sau khi QH, KHSDĐ được công bố mà chưa có dự án đầu tư;
2.1.1.2. Về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
TinCanBan.Com
Về đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất theo quy định của LĐĐ
2003 và NĐ số 197/2004/NĐCP, bao gồm: Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở
tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
tổ chức, cá nhân nước ngoài đang SDĐ bị NN thu hồi đất.
Như vậy, so với LĐĐ 1993, đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất
theo LĐĐ 2003 đã được mở rộng hơn, không chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
trong nước mà còn bao gồm cả cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị NN
thu hồi đất cũng được BT, HT. Việc mở rộng đối tượng được BT, HT khi NN
thu hồi đất là rất cần thiết nhằm phù hợp với thực tế SDĐ ở nước ta hiện nay;
bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của người SDĐ là cộng đồng dân cư, cơ sở
tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Hơn nữa, việc mở rộng đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất còn phù hợp
với mục tiêu bảo đảm tính tương thích về pháp luật trong quá trình hội nhập
kinh tế thế giới; đồng thời “xoá dần sự khác biệt về quyền SDĐ giữa người
Việt Nam trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, động viên
người Việt nam định cư ở nước ngoài hướng về tổ quốc” [18, tr.12].
2.2.2. Nguyên tắc chung về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư