Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành nông nghiệp Việt Nam: Tiếp cận đa cấp độ - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

--------------

Hoàng Văn Việt

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH
NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM:
TIẾP CẬN ĐA CẤP ĐỘ

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62310105

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

1


Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học :
Hướng dẫn 1: PGS.TS. Trần Tiến Khai
Hướng dẫn 2: PGS.TS. Từ Văn Bình

Phản biện 1 : ......................................................................................
............................................................................................................
Phản biện 2 : ......................................................................................
............................................................................................................

- Viet Hoang (2014), “Nghiên cứu đa dạng hóa thị trường tiêu thụ Bưởi Da Xanh Bến
Tre”, Tạp chí Hội nhập & Phát triển, Số 16(26), p83.
- Tran Khai & Viet Hoang và cộng sự (2013), “Ước lượng hiệu quả tài chính từ chuỗi giá
trị Dừa Bến Tre”, Tạp chí Kinh tế Phát triển, Số 215, p147.

3


CHƯƠNG 1.

GIỚI THIỆU

1.1. Giới thiệu chung
Nền kinh tế Việt Nam đã có những cải cách mạnh mẽ với mục tiêu xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ sau quyết định Đổi Mới năm 1986 và đặc
biệt là đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu trong những năm 1990. Việt Nam
cũng đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức, hiệp định và chương trình hợp tác kinh
tế, thương mại khu vực và quốc tế. Quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và chuyển đổi kinh tế của Việt Nam có được sự đóng góp đáng kể của ngành nông
nghiệp. Mặc dù có nhiều lợi thế với vai trò quan trọng, nhưng ngành nông nghiệp của
Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách khác nhau. Những thách thức đó đòi
hỏi chính phủ, doanh nghiệp và người nông dân phải tái cấu trúc và quy hoạch tổng thể
ngành nông nghiệp.
Kiến thức kinh tế học phổ thông cho rằng, mỗi quốc gia nên tận dụng nguồn lực của
mình và tập trung vào sản xuất các loại hàng hóa nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh cao
hơn và tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn (Yu và cộng sự, 2010). Vấn đề cơ bản của kinh tế
học là phân bổ nguồn lực khan hiếm như thế nào để đảm bảo phúc lợi xã hội, bao gồm
đủ công ăn việc làm và mức sống cao cho người dân ở cả hiện tại và tương lai (Latruffe,
2010). Nguồn lực kinh tế khan hiếm buộc mọi người phải ra quyết định lựa chọn bằng
cách trả lời 3 câu hỏi là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sản xuất cho ai (Begg

có nghiên cứu nào đo lường và so sánh lợi thế cạnh tranh tĩnh và động của các nước
trong khu vực ASEAN theo thời gian bằng nhiều chỉ số thương mại khác nhau đồng thời
phân tích các tính tương đồng của các chỉ số đó trong tình huống ngành nông nghiệp của
các quốc gia trong khu vực ASEAN. Đặc biệt, việc đánh giá tính giống nhau, cạnh tranh,
thay thế hay hỗ trợ giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN về các sản phẩm nông
nghiệp vẫn là một khoảng trống nghiên cứu.
Các chỉ số kinh tế-sản xuất là những công cụ rất ý nghĩa và quan trọng để doanh
nghiệp và người nông dân ra quyết định sản xuất cây gì. Các nghiên cứu ở Việt Nam
hiện nay thường đo lường các chỉ số kinh tế của các ngành nông nghiệp theo giá thị
trường để xác định xem việc sản xuất nông sản đó có lợi nhuận hay lợi thế cạnh tranh
không. Một số nhà nghiên cứu đo lường lợi nhuận hay lợi thế cạnh tranh của một ngành
hàng theo giá xã hội bằng chỉ số DRC. Tuy nhiên, các nghiên cứu này giải thích lợi thế
cạnh tranh bằng cách so sánh DRC ở giá thị trường với tỷ giá hối đoái chính thức. Hơn
nữa, các nghiên cứu này không phân tích sự biến động của lợi thế cạnh tranh khi mà các
điều kiện của thị trường và tự nhiên thay đổi.
Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành nông nghiệp bằng
các chỉ số kinh tế khác nhau trong ma trận chính sách PAM kết hợp với việc phân tích độ
nhạy theo sự biến động của các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đó tập trung
vào đo lường và so sánh lợi thế cạnh tranh giữa các ngành hàng cụ thể với nhau. Chỉ có
Yao (1997a) đo lường và so sánh ba sản phẩm là gạo, đậu nành và đậu xanh. Đặc biệt,
chưa có nghiên cứu nào trên thế giới sử dụng và so sánh các cách tiếp cận khác nhau
trong nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành nông nghiệp.
1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án này có mục tiêu chung là cung cấp tổng quan lý thuyết kinh tế về năng lực
cạnh tranh một cách có hệ thống đồng thời phân tích năng lực cạnh tranh ngành nông
nghiệp Việt Nam ở nhiều mức độ khác nhau, phạm vi khác nhau với các cách tiếp cận
khác nhau trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, tái cấu trúc ngành nông nghiệp và gia
nhập vào thị trường toàn cầu. Luận án có bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: (i)
một là đánh giá năng lực cạnh tranh tĩnh và động của ngành nông nghiệp Việt Nam; (ii)
hai là nghiên cứu và so sánh năng lực cạnh tranh tĩnh và động của ngành nông nghiệp

thuyết về năng lực cạnh tranh. Chương 3 giải thích các phương pháp nghiên cứu và dữ
liệu sử dụng cho luận án. Chương 4, 5, 6 trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 7 sẽ đưa
ra kết luận và các gợi ý chính sách.
CHƯƠNG 2.

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1. Định nghĩa năng lực cạnh tranh
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh và thường được điều chỉnh
cho phù hợp với mục tiêu và tình huống nghiên cứu. Những tranh luận chủ yếu về định
nghĩa năng lực cạnh tranh tập trung vào khía cạnh sau: (i) một là phân biệt giữa lợi thế so
sánh và năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh; (ii) hai là mức độ, phạm vi và đối tượng
của năng lực cạnh tranh: kinh tế hay quản trị; vi mô hay vĩ mô; cấp khu vực, quốc gia,
6


cấp vùng, tỉnh, chuỗi giá trị; ngành hàng hay doanh nghiệp; bản chất của năng lực cạnh
tranh là thực hiện, quá trình, tiềm năng hay yếu tố tác động; (iii) và ba là ý nghĩa, mục
tiêu, quan điểm hay góc nhìn trong định nghĩa năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu này không phân biệt các khái niệm trên và định nghĩa năng lực cạnh
tranh là “khả năng của một chủ thể (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) đạt được thị
phần tương đối cao hơn trên thị trường thế giới dựa trên chi phí nội nguồn thấp hơn để
tối đa hóa và gia tăng phúc lợi xã hội ở cả hiện tại và tương lai. Tác giả chấp nhận và hài
hòa sự khác biệt giữa các học giả và các trường phái về ý nghĩa, mục tiêu và quan điểm
của khái niệm năng lực cạnh tranh.
2.2. Quá trình phát triển của lý thuyết năng lực cạnh tranh
Một cách tóm lược, lý thuyết về năng lực cạnh tranh có thể nói là bắt đầu từ lý thuyết
về thương mại quốc tế với thuyết trọng thương và lý thuyết lợi thế tuyệt đối và dần trở
thành một khái niệm rộng với nhiều định nghĩa, cách tiếp cận và thang đo khác nhau.
Quá trình phát triển của lý thuyết năng lực cạnh tranh có thể hệ thống hóa như (trong

- Mối quan hệ giữa cung một yếu tố sản xuất và giá
hàng hóa sử dụng yếu tố đó.
- Salter (1959), Swan (1960)
- Tỷ giá hối đoái thực.
Thách thức đối với thuyết lợi thế so sánh và thương mại mới
- Leontief (1953)
- Nghịch lý Leontief.
- Linder (1961)
- Nhu cầu chồng lấn.
- Vernon (1966)
- Thuyết vòng đời sản phẩm.
- Krugman (1979), Lancaster (1979)
- Lợi thế kinh tế nhờ quy mô; Thương mại nội ngành.
7


- McKenzie (1953), Shiozawa (2007)

- Thương mại quốc tế với nhiều quốc gia, nhiều hàng
hóa và nhiều tác nhân trung gian.

Năng lực cạnh tranh tiếp cận đa chiều
- Porter (1990a, 1998)
- Các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh. Mô hình lợi
thế cạnh tranh kim cương.
- Rugman and D’ Cruz (1993)
- Mô hình kim cương đôi.
- Cho (1994)
- Mô hình chín nhân tố của lợi thế cạnh tranh.
- Moon, Rugman and Verbeke (1995)


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

Các chỉ số thương mại quốc tế

3.1.1. Lợi thế cạnh tranh biểu hiện (RCA)
Balassa (1965) xây dựng chỉ số RCA với ý tưởng là so sánh thành tích của một quốc
gia về một hàng hóa so với với thành tích của một nhóm quốc gia hoặc thế giới sử dụng
dữ liệu biểu hiện. Nếu RCA > 1 thì quốc gia i đó có lợi thế cạnh tranh về sản phẩm j.
Nếu RCA < 1 thì quốc gia i không có lợi thế về ngành hàng j.
3.1.2. Lợi thế thương mại tương đối (RTA)
Chỉ số RTA được phát triển bởi Vollrath (1991) đo lường lợi thế cạnh tranh của một
quốc gia về một ngành hàng. Chỉ số này được tính dựa trên sự khác biệt giữa lợi thế xuất
khẩu tương đối (RXA), chỉ số được tính tương tự như RCA, và lợi thế nhập nhẩu tương
đối (RMA). Giá trị của RTA có thể dương khi quốc gia có lợi thế cạnh tranh và âm khi
quốc gia đó không có lợi thế cạnh tranh.
3.1.3. Lợi thế cạnh tranh biểu hiện chuẩn hóa (NRCA)
Yu và cộng sự (2009) đưa ra chỉ số NRCA như là một chỉ số thay thế và cải tiến của
chỉ số RCA. Chỉ số NRCA được diễn tả như là hình thức chuẩn hóa của độ chênh lệch
trong dòng thương mại thực so với mức kỳ vọng. Ý tưởng của NRCA là đo lường mức
chênh lệch trong xuất khẩu thực của một quốc gia cụ thể so với điểm trung hòa xét về
quy mô tương đối so với thị trường xuất khẩu thế giới và vì vậy thiết lập sự so sánh giữa
các quốc gia và hàng hóa. NRCA > 0 thể hiện rằng quốc gia i có giá trị xuất khẩu thực
đối với hàng hóa j cao hơn so với mức kỳ vọng của ngành này trên thế giới, và như vậy
là có lợi thế cạnh tranh. NRCA < 0 thể hiện rằng quốc gia i không có lợi thế cạnh tranh
đối với ngành hàng j.
3.1.4. Tính động của các chỉ số lợi thế so sánh
Tính động của các chỉ số năng lực cạnh tranh thương mại được đánh giá theo 3 cách:
một là hồi quy OLS, hai là ma trận Markov, và ba là phân tích xu hướng.
3.1.5. Phân tích tính bổ sung, thay thế hay cạnh tranh

E
I
M
Q
U

Chi phí
Đầu vào thương
Các yếu tố
mại được
nội địa
B
C
F
G
J
K
N
O
R
S
V
W

Lợi nhuận

D
H
L
P


4.1. Năng lực cạnh tranh thương mại nông nghiệp của Việt Nam
Luận án này cho thấy rằng năm 2014 Việt Nam đạt được lợi thế so sánh ở 19 nhóm
hàng hóa theo chỉ số RCA, 27 nhóm theo chỉ số RTA, 12 nhóm theo chỉ số NRCA. Các
nhóm có lợi thế so sánh hàng đầu là gạo, động vật giáp xác và động vật thân mềm, gia vị,
cao su tự nhiên, cà phê, vỏ bào, chè, cá đã chế biến, cá tươi, xơ dệt gốc thực vật. Nhìn
chung, Việt Nam có lợi thế so sánh mạnh về cây trồng như gia vị, gạo, cà phê, chè, quả
& quả hạch và rau; và thủy sản như động vật giáp xác và cá trong khi hoàn toàn không
có lợi thế so sánh về chăn nuôi như động vật sống, thịt, trứng và chim; và ngành thực
phẩm chế biến như sô cô la, pho mát, bơ, thịt và thực phẩm chế biến khác.
4.2. Phân tích tính động của các chỉ số cạnh tranh
Phân tích tính động bằng ước lượng OLS cho thấy Việt Nam dần mất đi lợi thế so
sánh ở những nhóm hàng hóa cạnh tranh mạnh trong khi Việt Nam đạt được lợi thế so
sánh ở những nhóm hàng hóa cạnh tranh yếu theo thời gian. Kết quả nghiên cứu cho thấy
độ phân tán của RCA và RTA giảm theo thời gian. Chỉ số NRCA thể hiện kết quả khác
với giá trị β cho thấy độ phân tán của chỉ số này tăng trong cả giai đoạn.
Phân tích tính động bằng ma trận Markov cho thấy xác suất các chỉ số cạnh tranh vẫn
ở lại nhóm theo thời gian là cao, trong đó nhóm 1 là nhóm không có lợi thế cạnh tranh và
nhóm 4 là nhóm có lợi thế cạnh tranh mạnh đặc biệt duy trì với xác suất cao và chúng là
2 nhóm ổn định nhất. Kết quả cũng cho thấy rằng các nhóm không có lợi thế cạnh tranh
ban đầu vẫn nằm trong nhóm không cạnh tranh trong khi các nhóm có lợi thế cạnh tranh
ban đầu mạnh vẫn nằm trong nhóm cạnh tranh mạnh theo thời gian. Xác suất dịch
chuyển từ nhóm có ít lợi thế cạnh tranh sang nhóm có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn là
thấp trong khi xác suất dịch chuyển từ nhóm có lợi thế cạnh tranh nhiều hơn sang nhóm
có lợi thế cạnh tranh thấp hơn là cao.
Tính nhất quán của các chỉ số hiệu quả hoạt động thương mại: xếp hạng theo
ngành
Kết quả kiểm định tính nhất quán cho thấy rằng những chỉ số cạnh tranh thương mại
này nhất quán yếu theo thước đo thứ bậc trong khi chúng nhất quán mạnh theo thước đo
số và thước đo nhị phân. Nói cách khác, các chỉ số hiệu quả hoạt động thương mại thể

động thấp nhất về lợi thế cạnh tranh nông nghiệp. Nhìn chung, các quốc gia ASEAN
thành công trong việc duy trì thứ hạng năng lực cạnh tranh nông nghiệp.
5.3. Tính bổ sung thương mại nông nghiệp của các quốc gia ASEAN
Kết quả của chỉ số TCI cho thấy rằng các quốc gia ASEAN có mô hình thương mại
nông nghiệp bổ sung yếu cho nhau hay có tính cạnh tranh mạnh trong thị trường thế giới.
Nói cách khác, mô hình xuất khẩu nông nghiệp của các quốc gia ASEAN tương thích
yếu với các mô hình nhập khẩu nông nghiệp của các nước đối tác trong khu vực ASEAN
so với thế giới. Ngoài ra, xu hướng đi xuống của giá trị TCI cho thấy rằng mức độ bổ
sung nông nghiệp của các quốc gia ASEAN giảm nhẹ theo thời gian trong giai đoạn
1997-2015. Nói cách khác, các quốc gia ASEAN đang có xu hướng ít bổ sung cho nhau
hơn.
Tuy nhiên, kết quả của chỉ số ESI cho thấy rằng mức độ tương đồng thấp trong mô
hình xuất khẩu của các nước ASEAN với giá trị ESI trung bình là 2,8. Điều này có nghĩa
là các quốc gia này có mô hình xuất khẩu hàng nông sản ra thế giới tương đối bổ sung
cho nhau. Sự khác biệt giữa kết quả của chỉ số TCI và ESI cho thấy các quốc gia
12


ASEAN không bổ sung cho nhau về mức độ tương thích với cầu nhập khẩu nông nghiệp
của các nước đối tác trong khi lại bổ sung cho nhau về khả năng cung cấp hàng nông sản
ra thị trường thế giới. Nói cách khác, các quốc gia này sẽ đạt được nhiều lợi ích hơn khi
xuất khẩu hàng nông sản ra thị trường thế giới so với khi xuất khẩu hàng nông sản ra thị
trường khu vực. Xu hướng tăng của giá trị ESI trung bình cho biết các quốc gia này dần
cạnh tranh nhiều hơn.
Nhìn chung, hệ số tương quan Spearman của các chỉ số năng lực cạnh tranh cho thấy
rằng các mô hình cạnh tranh nông nghiệp của các quốc gia ASEAN có thể thay thế tương
đối cho nhau trong thị trường thế giới. Singapore-Thái Lan, Brunei-Việt Nam, và BruneiThái Lan là những cặp quốc gia có tính bổ sung cao nhất, trong khi IndonesiaPhilippines, Indonesia-Malaysia, và Thái Lan-Vietnam là những cặp quốc gia có tính
thay thế cao nhất trong mô hình cạnh tranh thương mại nông nghiệp.
Tính nhất quán của các chỉ số hiệu quả hoạt động thương mại: xếp hạng theo
quốc gia

quan hệ nghịch biến với lượng cung. Nói cách khác, giá đầu ra càng cao và lượng cung
càng thấp thì có thể làm cho năng lực cạnh tranh theo các chỉ số trong PAM càng mạnh.
Mặt khác, các chỉ số hoạt động thương mại đo lường thị phần tương đối và chúng có
quan hệ nghịch biến với giá đầu ra và đồng biến với lượng cung. Do vậy, giá đầu ra càng
cao và lượng cung càng thấp có thể làm cho năng lực cạnh tranh theo các chỉ số hiệu quả
hoạt động thương mại càng yếu. Cuối cùng, các cách tiếp cận này nghiên cứu những
quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn dữ liệu, mục tiêu và điều
kiện nghiên cứu, mục tiêu và điều kiện chính sách.
6.3. Phân tích độ nhạy của các chỉ số lợi thế cạnh tranh
Luận án này đo lường độ nhạy của các chỉ số PAM nhằm tìm hiểu về tính động của
năng lực cạnh tranh của các ngành hàng canh tác theo ba kịch bản. Kịch bản thứ nhất là
biến đổi khí hậu thông qua hạn hán và xâm nhập mặn năm 2016 gây giảm sản lượng lúa
và bưởi trong khi nó cải thiện được năng suất của dừa. Kết quả cho thấy rằng kịch bản
này làm cho lúa ít sinh lời hơn tại mức giá thị trường trong khi vẫn có sức cạnh tranh tại
mức giá xã hội. Các chỉ số PAM của dừa và bưởi có vẻ thay đổi không đáng kể. Kịch
bản thứ hai là nếu những người sản xuất tư nhân ngành lúa gạo, dừa và bưởi phải chi trả
phí nước và đất thì những người sản xuất lúa sẽ bị tổn thất trong khi đối với dừa và bưởi
thì họ vẫn đạt được lợi nhuận. Khoản phí nước và đất đóng cho chính phủ không tác
động lên các chỉ số PAM tại mức giá xã hội. Cuối cùng, độ nhạy của các chỉ số trong
PAM với giả định những thay đổi về giá đầu ra, giá phân bón, giá thuê đất, năng suất sản
xuất và tỷ giá hối đoái thực nằm trong khoảng ±5, ±10, ±15 và ±20 phần trăm. Nhìn
chung, kết quả cho thấy sự sụt giảm trong giá đầu ra và năng suất của gạo làm cho các
nhà sản xuất tư nhân chỉ bị tổn thất 10 phần trăm. Tất cả những chỉ số lợi thế so sánh
khác tại mức giá tư nhân và giá xã hội về bản chất đều ổn định hoặc vẫn còn nằm trong
khoảng (0,1) với giả định các biến sẽ thay đổi nằm trong các khoảng được đề cập ở trên.
CHƯƠNG 7.

KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Luận án này có bốn mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đã đạt được các mục tiêu nghiên

nhiên là những ngành hàng nông nghiệp xuất khẩu chính và cạnh tranh nhất của Việt
Nam. Chiến lược xuất khẩu thâm dụng nguồn lực tự nhiên cần được chú trọng trong giai
đoạn đầu của cuộc công nghiệp hóa, phát triển kinh tế và toàn cầu hóa nhưng không phù
hợp và không hiệu quả trong trung và dài hạn.
7.2. Các mô hình thương mại nông nghiệp của các quốc gia ASEAN
Việt Nam, Thái Lan, Indonesia là những quốc gia nằm trong nhóm có năng lực cạnh
tranh nông nghiệp mạnh nhất với nhiều ngành hàng nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh và
có lợi thế cạnh tranh mạnh, có năng lực cạnh tranh nông nghiệp được xếp hạng cao;
Malaysia, Philippines và Campuchia là những quốc gia thuộc nhóm có năng lực cạnh
tranh nông nghiệp trung bình; trong khi Singapore và Brunei thuộc nhóm có năng lực
cạnh tranh nông nghiệp yếu. Nhìn chung, các quốc gia ASEAN đạt được năng lực cạnh
tranh mạnh nhất về ngành hàng canh tác cây trồng, gỗ và thủy sản như lúa gạo, cao su tự
nhiên, gia vị, chất béo và dầu thực vật không bay hơi, vỏ gỗ bào, gỗ nhiên liệu và động
vật thân mềm.
Tóm lại, các quốc gia ASEAN có mô hình cạnh tranh nông nghiệp hội tụ ngoại trừ
Indonesia, Campuchia và Brunei. Indonesia có mô hình cạnh tranh nông nghiệp phân tán
hay không xác định. Các quốc gia ASEAN đều duy trì được thứ hạng năng lực cạnh
tranh nông nghiệp của mình theo thời gian.
Các quốc gia ASEAN có tính bổ sung yếu hay cạnh tranh mạnh trong thương mại
trên thị trường thế giới theo chỉ số TCI. Nói cách khác, các mô hình xuất khẩu nông
nghiệp của các quốc gia ASEAN tương thích yếu với mô hình nhập khẩu nông nghiệp
15


của các quốc gia đối tác trong khu vực ASEAN so với thế giới. Ngoài ra, các quốc gia
ASEAN dần trở nên ít bổ sung cho nhau hơn hay ngày càng cạnh tranh. Tuy nhiên, kết
quả của chỉ số ESI cho thấy mức độ tương đồng thấp trong mô hình xuất khẩu nông
nghiệp của các nước ASEAN. Điều này cho thấy các quốc gia này bổ sung tương đối cho
nhau về xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới. Kết quả khác nhau giữa chỉ số TCI và
chỉ số ESI cho thấy rằng các quốc gia ASEAN không bổ sung cho nhau về mức độ tương

các quốc gia khác, đặc biệt là các ngành hàng nông nghiệp của các quốc gia OECD.

16


Nhìn chung, lúa gạo là ngành có năng lực cạnh tranh yếu nhất và hệ thống sản xuất
nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu cùng với những điều kiện thị trường và chính sách
khác. Bưởi là ngành có năng lực cạnh tranh mạnh nhất và có hệ thống sản xuất hoàn toàn
ổn định với sự thay đổi thị trường và chính sách. Tuy nhiên, bưởi có khả năng bị tác
động tương đối bởi biến đổi khí hậu. Dừa là ngành có năng lực cạnh tranh trung bình và
hệ thống sản xuất tương đối ổn định với biến đổi khí hậu và điều kiện chính sách. Bưởi
tạo ra lợi nhuận tư nhân và xã hội nhiều nhất trong khi dừa có thể tạo ra cụm chế biến
dừa tiềm năng với lợi nhuận tư nhân và xã hội ổn định. Kết quả cho thấy rằng đất canh
tác dành cho lúa nên được chuyển sang trồng bưởi và dừa để đạt hiệu quả hơn và bền
vững hơn đối với người sản xuất tư nhân và xã hội. Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi mô
hình canh tác cần tính đến chi phí đầu tư ban đầu lớn đối với bưởi và dừa cũng như sự
thích nghi của những cây trồng này với điều kiện tự nhiên.
Tuy nhiên, luận án này có những hạn chế là chưa xác định được các yếu tố quyết định
đến năng lực cạnh tranh nông nghiệp bằng cách tiếp cận kinh tế lượng. Lý do chính cho
hạn chế này là (i) tính không sẵn có của dữ liệu và các biến ở mức độ ngành – cấp độ 3digit trong hệ thống phân loại SITC Rev. 3 theo thời gian. Các biến cấp quốc gia có vẻ
không áp dụng được trong mô hình hồi quy này; (ii) mục đích chính của luận án này là
nghiên cứu và so sánh năng lực cạnh tranh nông nghiệp bằng phân tích so sánh theo
ngành và phân tích so sánh theo quốc gia.
7.4. Phân tích lý thuyết và kết luận
Tổng quan lý thuyết kết luận rằng có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu năng lực cạnh
tranh theo sáu cách tiếp cận như sau: (i) một là các chỉ số kinh tế-sản xuất; (ii) hai là các
chỉ số hiệu quả hoạt động thương mại; (iii) ba là các yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh; (iv) bốn là các khung phân tích đa chiều; (v) năm là phân tích theo chuỗi giá trị;
(vi) và sáu là so sánh tiêu chuẩn hay so sánh tối ưu. Luận án này đóng góp vào kho tài
liệu kinh tế học bằng việc cung cấp các bằng chứng và thảo luận về tính nhất quán của

7.5. Hàm ý chính sách
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, luận án này đề xuất những hàm ý chính sách và
chiến lược nói chung để phát triển bền vững các ngành nông nghiệp và cải thiện phúc lợi
tư nhân và xã hội ở Việt Nam như sau: (i) tái cấu trúc mô hình thương mại và sản xuất
của các ngành nông nghiệp Việt Nam; (ii) duy trì thứ hạng năng lực cạnh tranh của các
ngành nông nghiệp chính; (iii) mở rộng và tăng cường hội nhập khu vực và toàn cầu; (iv)
quy hoạch canh tác tổng thể; và (v) thúc đẩy nông nghiệp bền vững và thích nghi với
biến đổi khí hậu.
Tái cấu trúc mô hình thương mại và sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung, mô hình thương mại và sản xuất nông nghiệp sơ cấp và thâm dụng
nguồn lực tự nhiên có thể là yếu tố quan trọng và thích hợp trong giai đoạn đầu của đổi
mới kinh tế và công nghiệp hóa. Phân tích tính động cũng chứng minh rằng chiến lược
xuất khẩu của Việt Nam và mô hình lợi thế so sánh phụ thuộc tương đối vào những
ngành nông nghiệp truyền thống và thâm dụng nguồn lực tự nhiên như ngành canh tác
cây trồng và thủy sản theo thời gian. Mặc dù có sự thay đổi trong thứ hạng năng lực cạnh
tranh của những ngành có lợi thế cạnh tranh mạnh nhất và mô hình năng lực cạnh tranh
nông nghiệp hội tụ trong giai đoạn 1997-2014 mà yếu tố này được xem như là một bước
cải thiện nhỏ trong mô hình tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu, thì các sản phẩm truyền
thống và thâm dụng nguồn lực tự nhiên là những ngành hàng nông nghiệp xuất khẩu
chính và cạnh tranh nhất của Việt Nam. Chiến lược xuất khẩu thâm dụng nguồn lực tự
nhiên cần được chú trọng trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phát triển kinh tế và
toàn cầu hóa nhưng không phù hợp và không hiệu quả trong trung và dài hạn. Đặc biệt,
trong giai đoạn toàn cầu hóa và hiện đại hóa hiện tại cùng với sự cạnh tranh khốc liệt và
nhu cầu khắt khe đối với thực phẩm, Việt Nam cần phải tái cấu trúc mô hình thương mại
và sản xuất nông nghiệp sang các ngành có giá trị gia tăng lớn và năng suất cao dựa trên
quy trình quản lý hiện đại và nông nghiệp công nghệ cao.
18


Việc tái cấu trúc mô hình thương mại và sản xuất nông nghiệp đòi hỏi Việt Nam cần

Việt Nam là một quốc gia thành viên của ASEAN. Khu vực này đang mở rộng và
tăng cường phạm vi cũng như mức độ hợp tác. Kết quả nghiên cứu trong Chương 6 cho
thấy để tận dụng cơ hội hội nhập kinh tế trong khu vực thì các quốc gia ASEAN với
năng lực cạnh tranh nông nghiệp mạnh cần chuyên môn hóa và duy trì mức độ lợi thế
cạnh tranh và thứ hạng của những ngành nông nghiệp quan trọng như lúa gạo, cao su tự
nhiên, gia vị, chất béo và dầu thực vật không bay hơi, vỏ gỗ bào, gỗ nhiên liệu, cá và
động vật giáp xác bằng cách nâng cấp các tiêu chuẩn chất lượng thực phẩm, cải thiện
năng suất sản xuất, tăng cường liên kết thị trường toàn cầu và giảm chi phí đầu vào. Các
19


quốc gia có năng lực cạnh tranh nông nghiệp yếu như Singapore và Brunei nên chuyên
môn hóa vào những ngành nông nghiệp chế biến và có giá trị gia tăng cao dựa vào công
nghệ hiện đại và nguồn vốn dư thừa.
Tuy nhiên, các quốc gia ASEAN có vẻ có thể thay thế cho nhau một cách tương đối
về ngành hàng nông sản. Luận án này đề xuất các quốc gia ASEAN cần hợp tác để tận
dụng được nguồn lực kinh tế của mình và xem thị trường nội khối như là thị trường “nội
địa chung” để gia tăng năng lực cạnh tranh và tập trung chính vào các thị trường bên
ngoài dựa trên thương mại toàn cầu và những hiệp định và quan hệ đối tác kinh tế của
hiệp hội và các quốc gia thành viên như RCEP, TPP-CPTPP và những hiệp định thương
mại song phương. Ngoài ra, các quốc gia ASEAN nên chuyên môn hóa vào việc sản xuất
và xuất khẩu nông sản với lợi thế cạnh tranh và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi
thế cạnh tranh để tăng cường thương mại trong khu vực, tận dụng hiệu quả nguồn lực
kinh tế của mình và tạo ra phúc lợi xã hội cao hơn dựa vào việc loại bỏ những hạn chế
nhập khẩu và xuất khẩu cũng như cắt giảm trợ cấp sản xuất.
Việt Nam là một quốc gia thành viên của ASEAN. Mô hình thương mại nông nghiệp
của quốc gia này tương đối bổ sung với Brunei, Philippines và Indonesia trong khi lại
cạnh tranh với Thái Lan, Campuchia, Singapore về nông sản. Do vậy, Việt Nam nên tận
dụng thị trường nông nghiệp của Brunei, Philippines và Indonesia với các ngành hàng
nông sản có lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, Việt Nam nên hợp tác với Thái Lan,

hàng nông nghiệp được lựa chọn và có xét tới chi phí chuyển đổi canh tác. Báo cáo này
cần thể hiện đầy đủ các quan điểm và thành phần kinh tế, xã hội và môi trường; (iii) quy
hoạch vùng, sản lượng, cây giống và các mô hình canh tác cây trồng phù hợp với điều
kiện tự nhiên và điều kiện thị trường; (iv) điều tiết và hỗ trợ những nông dân này chuyển
đổi hoặc phát triển những loại cây trồng đã được lựa chọn bằng cách tập huấn, hợp tác,
hỗ trợ đầu vào và đầu ra; và (v) liên kết các nông dân với thị trường trong và ngoài nước
bằng cách ký kết hợp đồng nông nghiệp và chuỗi giá trị.
Thúc đẩy nông nghiệp bền vững và thích nghi với biến đổi khí hậu
Kết quả ở Chương 7 thể hiện sự biến đổi khí hậu của hạn hán và xâm nhập mặn ở
đồng bằng song Cửu Long sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh nông nghiệp thông qua sự
sụt giảm năng suất của các ngành như lúa gạo và bưởi. Ngoài ra, sự suy thoái đất do lạm
dụng thuốc trừ sâu, phân bón và những đầu vào khác có thể tác động đến năng suất nông
nghiệp và năng lực cạnh tranh nông nghiệp, nhất là trong dài hạn (Bernal và cộng sự,
2012). Theo ước tính thì sản lượng ngũ cốc có thể giảm thêm 2-4 phần trăm và giá cả sẽ
tăng thêm 13-45 phần trăm trước năm 2080. Việt Nam là một trong những quốc gia được
dự đoán sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu do có đường bờ biển dài, mật độ
dân số cao và tập trung nhiều các hoạt động kinh tế ở vùng biển và ven sông, và là quốc
gia phụ thuộc mạnh vào nông nghiệp, nguồn lực tự nhiên và lâm nghiệp (Trần, 2011).
Biến đổi khí hậu bao gồm những kịch bản nhiệt độ tăng, mô hình mưa thay đổi, mực
nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn và đây được xem là vấn đề toàn
cầu. Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến nông nghiệp bao gồm những tác động lên (1)
khí tượng nông nghiệp; (2) tốc độ tăng trưởng của cây trồng; (3) nhu cầu nước của cây
trồng; (4) sự phát triển và lây lan của sâu bệnh hại; (5) mùa sinh trưởng; (6) phân bố địa
lý của cây trồng; (7) sự tăng lên của mực nước biển; (8) sản lượng lúa gạo và ngũ cốc; và
(9) ngành chăn nuôi (FAO, 2011). Do vậy, sự thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến
những lợi ích khác nhau như duy trì sự liên quan của chính sách, thông tin cho các mục
tiêu di cư, cung cấp thông tin cho hoạt đầu tư, tưởng thưởng cho những người đón đầu và
tập trug vào quản trị rủi ro môi trường (Howden và cộng sự, 2007). Bryan và cộng sự
(2013) phát hiện ra hộ nào có khả năng chấp nhận những thói quen mới và thích nghi với
biến đổi khí hậu là những hộ đạt được thu nhập tốt hơn. Do vậy, cần phải dự đoán các

để phát triển khoa học và công nghệ nông nghiệp.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status