Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG CHỈNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành

: Quản lý kinh tế

Mã số

: 62.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Hoàng Văn Bằng
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Công Hoa
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân

thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành
dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương”, làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích chung: Làm rõ cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành dệt
may; những thách thức, cơ hội của các FTA thế hệ mới mang lại, nhất là TPP với ngành
dệt may Việt Nam; thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của ngành dệt may
Việt Nam; đề xuất quan điểm, định hướng cũng như các giải pháp phát triển và nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia TPP
- Mục đích cụ thể: Để thực hiện mục đích chung nêu trên luận án, tập trung trả
lời 4 câu hỏi nghiên cứu chính là:
Một là, Những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành dệt may
khi tham gia TPP ?.
Hai là, Đánh giá năng lực cạnh tranh ngành dệt may bằng tiêu chí nào ?.
Ba là, Hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam như thế nào khi
tham gia TPP ?.
Bốn là, Làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam khi
tham gia TPP ?.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án chủ yếu tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản sau:


2
- Luận giải được những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh ngành dệt may, các
nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh ngành dệt may. Nghiên cứu kinh nghiệm nâng
cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may của một số quốc gia, từ đó rút ra một số bài
học có giá trị tham khảo đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt
Nam.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh ngành dệt

bối cảnh Việt Nam tham gia TPP đảm bảo tính logic, khả thi và tính khái quát các
vấn đề nghiên cứu.


3
- Phương pháp luận nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận,
Các phương pháp chủ yếu vận dụng trong thực hiện luận án bao gồm:
1. Phương pháp phân tích - so sánh: Luận án nghiên cứu, phân tích các mô
hình và các yếu tố thuộc về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của ngành, rút ra các kết
luận khoa học có chọn lọc về mô hình và các yếu tố đó. Luận án sẽ kế thừa các công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố liên quan đến luận án, đồng thời thu
thập, biên dịch các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan cả về lý luận và thực tiễn
về, năng lực cạnh tranh của ngành dệt may. So sánh năng lực cạnh tranh của ngành dệt
may Việt Nam với ngành dệt may của các quốc gia khác.
2. Phương pháp chuyên gia: Luận án sẽ tổng hợp ý kiến, trích dẫn các ý kiến
của chuyên gia, nhà lãnh đạo doanh ngiệp, hiệp hội dệt may …về các vấn đề mà ngành
dệt may đang gặp phải, năng lực cạnh tranh của ngành dệt may, giải pháp để tận dụng
cơ hội, vượt qua thách thức khi tham gia các FTA thế hệ mới.
3. Phương pháp nghiên cứu tình huống: Luận án cũng sử dụng phương pháp
phân tích tình huống để nghiên cứu: nghiên cứu tình huống của năng lực cạnh tranh về
cụm ngành dệt may trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương lân cận như
Bình Dương, Đồng Nai, cụm ngành dệt may Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là hai
vùng chiếm hơn 80% tổng số doanh nghiệp dệt may của ngành.
4. Phương pháp phân tích tổng hợp: Tác giả vận dụng phương pháp phân tích
tổng hợp để giải thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân từ thực tiễn về nội dung
năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia các FTA thế
hệ mới, cụ thể là TPP.
5. Phương pháp nghiên cứu sử dụng kết hợp cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị
và đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành: Việc sử dụng phối hợp cách tiếp cận cụm

chiến lược; đầu tư nước ngoài; điều kiện sản xuất; cấu trúc và cạnh tranh ngành dệt
may cũng như đối với các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may và các ngành
công nghiệp có liên quan.
Luận án đã rút ra được bài học kinh nghiệm có thể vận dụng để nâng cao năng
lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia các FTA thế hệ mới
(cụ thể là TPP), trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia có ngành dệt may
phát triển.
Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của
ngành dệt may Việt Nam giai đoạn vừa qua; đưa ra được những kết luận xác đáng về
những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
Luận án đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển và
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia vào TPP cũng
các FTA thế hệ mới khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận án đã trình bày một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận để làm rõ bản chất về năng lực cạnh tranh ngành, các quan điểm phân tích
năng lực cạnh tranh ngành. Đồng thời chỉ rõ đặc điểm; tiêu chí đánh giá, các cấp độ
cạnh tranh của ngành dệt may để làm cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
nói chung và ngành dệt may nói riêng. Luận án cũng đã sử dụng mô hình "kim cương"
của Dunning với 6 nhân tố cơ bản để làm cơ sở lý luận nhằm phân tích, đánh giá các
nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành dệt may trong bối cảnh tham gia các
các FTA thế hệ mới (cụ thể là TPP).
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận án đưa ra những bài học kinh nghiệm về nâng
cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may của các nước, đồng thời rút ra những kết quả
nổi bật và những điểm yếu cần được khắc phục của ngành dệt may Việt Nam. Luận án
cũng đã chỉ ra cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam, điều này có ý


5
nghĩa quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may khi trong bối

ngành
Về các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh ngành thì có các nghiên cứu như:
Nghiên cứu của Sajee B. Sirikrai & Jonh C.S Tang (2006), thị phần thị trường
(Anderson & Soha, 1999; Lau, 2002); doanh số bán hàng; tốc độ tăng trưởng doanh
số bán hàng (Anderson &Sohal, 1999; Li, 2000); và năng suất lao động (Noble, 1997;
Ross,)……
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành thì có, nghiên cứu
Michael E.Porter trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Hay là nghiên cứu của
Dunning John (1993), tác giả đã mở rộng mô hình kim cương của Porter trong điều
kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới
1.1.4. Các nghiên cứu về ngành dệt may, nâng cao năng lực ngành dệt may
Đáng giá về ngành dệt may các nước có các nghiên cứu như: Bài viết của tác giả
Mohammed Ziaul Haider (2007) về cạnh tranh của ngành công nghiệp may
Bangladesh ở các thị trường lớn; Michaela D. Platzer, Sản xuất dệt của Hoa Kỳ và
Hiệp định TPP(2013), bài viết đã đưa ra các nhận định về sự phát triển của ngành dệt
Mỹ khi tham gia TPP; M.Zakir Hossain(2010): Báo cáo về ngành công nghiệp dệt may
Việt Nam; Vanzetti, David and Pham Lan Huong (2014), "Quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn
lao động, và TPP"; Fukunishi và Yamagata (2014), " Ngành công nghiệp may ở các
nước có thu nhập thấp: Một con đường đi lên công nghiệp hóa" ; Ingvild Bakken
(2014), "Nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn may mặc: Một phân tích về cạnh tranh của
các quốc gia đang phát triển Châu Á với Trung Quốc trong xuất khẩu hàng may mặc".
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành.
Lý luận về cạnh tranh thì có nghiên cứu của Tôn Thất Nguyễn Thiêm; hay năng
lực cạnh tranh của Bạch Thụ Cường …. nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hùng (2013):
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam”; Bùi Đức Tuân
(2010), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam;


7

nước, gồm Úc, Canada, Brunei, Chile, Nhật Bản, Malasia, Mexico, New Zealand,
Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30%
thương mại toàn cầu. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, là hạt nhân
hình thành khuôn khổ phát triển thương mại khu vực và thế giới đáp ứng yêu cầu cao
hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng. TPP là Hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, đảm bảo sự dịch
chuyển tự do của các yếu tố sản xuất thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất
khẩu, nhập khẩu, rào cản phi quan thuế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng,
không phân biệt đối xử; tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, mang đến những lợi


8
ích mới cho sản xuất kinh doanh, cho người lao động cũng như người tiêu dùng (gồm
có 30 chương).
1.3. Khoảng trống cần nghiên cứu
1.3.1. Đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu
Thứ nhất, Các nghiên cứu trên đã góp phần hệ thống hoá về lý luận và đưa ra các
nhận định và đánh giá khác nhau về cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh ngành, các
quan điểm, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành....
Thứ hai, Một số nghiên cứu đã đánh giá về của dệt may Việt Nam cũng như
ngành dệt may toàn cầu như: nguồn nhân lực, tài chính, công nghiệp phụ trợ ngành
may, chuỗi giá trị của ngành dệt may, thực trạng cụm ngành dệt may....
Thứ ba, Các nghiên cứu về thực trạng ngành dệt may, cơ hội và thách thức của
ngành dệt may khi tham gia các FTA thế hệ mới.
Thứ tư, Các nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và
định tính để phân tích, đánh giá ngành dệt may, cạnh tranh ngành dệt may... nhưng các
phương pháp chỉ đánh giá được ở những vấn đề cụ thể.
1.3.2. Khoảng trống cần nghiên cứu.
Ngành dệt may Việt Nam trong những năm qua đã vươn lên là một trong những
ngành công nghiêp chủ lực, có vai trò và vị trí quan trọng trong tiến trình hội kinh tế

tranh khi ngành này có khả năng tạo lên lợi nhuận và tiếp tục duy trì được thị phần trên
thị trường trong nước và quốc tế”.
3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Cho đến nay vẫn chưa có một khái
niệm thống nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế (OECD, 2006), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản
xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng.
4. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Năng lực cạnh tranh của sản
phẩm và dịch vụ là sự vượt trội của chúng so với sản phẩm hay dịch vụ cùng loại do
các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường, là năng lực nắm giữ và nâng cao
thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.
2.1.3. Các quan điểm về ngành và đánh giá năng lực cạnh tranh ngành
2.1.3.1. Các quan điểm về ngành
Hiện nay khái niệm về “ngành” được sử dụng trong nhiều điều kiện và có nhiều ý
nghĩa khác nhau theo các quan điểm cụ thể. Theo Porter, một ngành (sản phẩm hay
dịch vụ) là một nhóm doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những
sản phẩm hay dịch vụ này cạnh tranh trực tiếp với nhau.
Trong luận án này, khái niệm ngành được hiểu như là tập hợp các doanh nghiệp


10
cùng cung cấp một loại sản phẩm cho cùng phạm vi thị trường. Như vậy, xét trên
phương diện cạnh tranh, một ngành của một quốc gia sẽ bao gồm các doanh nghiệp
của quốc gia đó cùng tham gia cung cấp một chủng loại sản phẩm và sẽ cùng cạnh
tranh với các doanh nghiệp của các quốc gia khác, trên thị trường quốc tế và thị trường
trong nước.
2.1.3.2. Các quan điểm đánh giá, phân tích năng lực cạnh tranh ngành
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành, có nhiều quan điểm khác nhau.
Trong luận án này, năng lực cạnh tranh cấp ngành sẽ được đánh giá như là năng lực
cạnh tranh tổng thể của các doanh nghiệp cấu thành ngành của một quốc gia chứ
không phải là tổng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp riêng lẻ. Hiện nay có khá


11
2.2.4.3. Doanh thu
2.2.4.4. Lợi nhuận
2.2.4.5. Hệ sế lợi thế so sánh hiển thị ngành
2.2.4.6. Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai
2.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt
may.
M. Porter đã đưa ra phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theo cấu trúc đối
với mỗi ngành, dù hoạt động trong hay ngoài nước, bản chất cạnh tranh nằm trong 4
nhân tố và các nhân tố này tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra động lực khác nhau cho
cạnh tranh ngành: Điều kiện về yếu tố sản xuất; Điều kiện cầu; Những ngành hỗ trợ và
liên quan; Năng lực và cơ cấu ngành. Để phù hợp hơn với điều kiện mới thì Dunning J.
(1988) đã dựa trên mô hình ‘kim cương’ của Porter để xây dựng mô hình ‘kim cương’
cải tiến khi sử dụng thêm 2 yếu tố là Nhà nước và đầu tư nước ngoài. Ngoài 4 yếu tố
trên của mô hình "kim cương", yếu tố bên ngoài là vai trò của Nhà nước cũng tác động
đến mô hình này.

Sơ đồ 2.2: Mô hình viên kim cương áp dụng luận án
Nguồn: Dunning John (1988), Explaining International Production, Unwin
Hyman, London, và tổng hợp của tác giả
Mô hình này rất cần khi xem xét, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của dệt
may Việt Nam. Chính vì vậy Luận án sẽ sử dụng Mô hình kim cương của Dunning J.
(1988) khi xem xét, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của dệt may: Nhân tố
điều kiện yếu tố sản xuất ngành dệt may; Điều kiện cầu về dệt may; Chiến lược, cấu
trúc và cạnh tranh các công ty trong ngành dệt may; Các ngành công nghiệp hỗ trợ có
liên quan; Vai trò Nhà nước; Đầu tư nước ngoài ; Hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới.




Chi tiết

Đơn vị

Bông

Tỷ lệ VN/
toàn cầu (%)

Toàn cầu

Trung
Quốc

Việt
Nam

Triệu tấn

27

7,3

0,005

0,018




170

86

1,7

1.00

Xuất khẩu

May mặc

Tỷ USD

770

247

24

3,2

Nguyên liệu

Nguồn: Báo cáo khảo sát ngành dệt may năm 2013 và tổng hợp của tác giả
3.2. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của ngành dệt may Việt Nam .
3.2.1. Các điều kiện về yếu tố sản xuất của ngành dệt may.
- Nguồn nhân lực của ngành dệt may
- Chất lượng nguồn nhân lực

hoàn tất, ngành máy móc – thiết bị dệt may, ngành hóa chất, ngành thời trang, các
ngành phụ liệu khác, hoạt động marketing và phân phối còn hạn chế
3.2.5. Đầu tư nước ngoài đối với ngành dệt may.
Trong giai đoạn vừa qua ngành dệt may đã thu hút được lượng vốn FĐI khá lớn,
với nhiều dự án có quy mô.
3.2.6.Vai trò của Nhà nước
Các yếu tố tạo nền tảng để tạo sự phát triển bền vững cho ngành dệt may Việt
Nam là quy hoạch khu công nghiệp; hạ tầng giao thông; vấn đề về môi trường, xử lý
nước thải; ổn định về chính sách thuế, phí, thủ tục,chính sách tiền lương…. Các chủ
trương, chính sách của chính phủ đã và đang hỗ trợ tích cực cho ngành. Mặc dù vậy
chính sách cho phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành dệt may còn
nhiều hạn chế như: Quy hoạch ngành dệt may, Chính sách phát triển công nghiệp hỗ
trợ , Chính sách đào tạo, Chính sách về lao động, tiền lương, Chính sách thuế, Chính
sách tỷ giá, tín dụng, Chính sách môi trường…..
3.3. Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam thông qua
một số tiêu chí.
3.3.1. Thị phần xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam.


15
Tính đến năm 2012, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 7 trong số 10 nước đứng
đầu về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may toàn cầu. Đến năm 2014 nước ta đã vươn
lên vị trí thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu dệt may. Trong giai đoạn 2005 – 2013, ngành
dệt may Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới.
Trong giai đoạn này dệt may Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đạt trên hai con số là
17,5%. Một tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng, vượt trên cả Trung Quốc, Ấn Độ,
Băngladesh nhưng chủ yếu là sản phẩm may mặc, còn sản phẩm dệt thì tăng trưởng
chậm….
3.3.2. Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam.
Trong giai đoạn 2009 -2014, NSLĐ của ngành dệt may nói chung, ngành dệt và

động bình quân chung tại Việt Nam rất thấp nếu so với các nước trong khu vực 40%
của Thái Lan cũng như so với một số quốc gia thành viên TPP. Chỉ số năng suất lao
động khu vực sản xuất của Việt Nam chỉ đạt 2,4; trong khi các quốc gia sản xuất dệt
may lớn khác như Trung Quốc, Indonesia là 6,9 và 5,2.
3.3.3. Doanh thu của ngành dệt may Việt Nam.
Doanh thu của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2014 đều có
xu hướng tăng, doanh thu của cả ngành may và ngành dệt đều tăng (Biểu đồ 3.13).
Doanh thu của cả ngành dệt và ngành may đều tăng. Doanh thu ngành may hơn 80% là
do xuất khẩu mang lại. Tốc độ tăng trưởng doanh thu xuất khẩu dệt may của Việt Nam
tương đối cao so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Indonesia, Malaysia,
Thái Lan và Campuchia. Tuy nhiên có một điều nghịch lý của ngành dệt may Việt
Nam là doanh thu tăng nhưng lợi nhuận có xu hướng giảm.


16
3.3.4. Lợi nhuận của ngành dệt may Việt Nam.
Dù tăng trưởng đạt mức cao nhưng về bản chất lợi nhuận ngành dệt may vẫn
thấp. Hiện nay, giá trị gia tăng của ngành dệt may thấp khi tỷ suất lợi nhuận 5 - 10%,
và 70% đơn thuần là cắt may, nhưng để chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị,
đòi hỏi phải có đầu tư lớn cả về nguồn công nghệ và nhân lực. Nếu so sánh tỷ suất lợi
nhuận của các loại hình doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam so với Trung Quốc
năm 2010 thì nhìn chung là các doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn so với Trung Quốc.
3.3.5. Lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam.
Khi tham gia vào các hiệp định thương mại tự do như: TPP, Việt Nam – EU,
AEC…., dệt may Việt Nam được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh lớn. Chỉ số lợi thế
so sánh cân đối (RCSA) của ngành dệt may Việt Nam so với TPP: Nhìn vào bảng ta
thấy lợi thế so sánh cân đối của ngành dệt may Việt Nam so với TPP là 0,8, điều này
cho thấy khi Việt Nam gia nhập TPP thì ngành dệt may có lợi thế rất lớn; Chỉ số lợi
thế so sánh (RCA) của Việt Nam so với các quốc gia TPP: Liên quan đến các sản
phẩm sản xuất, Việt Nam thì các sản phẩm có lợi thế so sánh lớn như: ngành may mặc,

trường kinh doanh của Việt Nam đã thay đổi phù hợp hơn cho các nhà đầu tư nước
ngoài. Tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành dệt may đã được tăng lên đáng kể và có xu
hướng tăng lên, mặc dù chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
3.4.2. Hạn chế
Thứ nhất, giá trị gia tăng của ngành dệt may Việt Nam còn thấp, phương thức gia
công xuất khẩu chủ yếu là gia công xuất khẩu. Bên cạnh đó ngành dệt may tập trung
quá lớn vào thị trường xuất khẩu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU….vốn là thị trường khó
tính và rất khó kiểm soát, dễ bị tổn thương. Trong khi đó thị trường trong nước chưa
được quan tâm đúng mức, còn để ngỏ cho những quốc gia lân cận. Chi phí sản xuất
của ngành dệt may Việt Nam cao mặc dù chi phí nhân công tương đối thấp. Hoạt
động phân phối của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay vẫn đang phụ thuộc
vào các nhà buôn nước ngoài, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn kém. Công tác xúc
tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường còn hạn chế.
Thứ hai, công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may nhìn chung còn kém phát triển cả
về chất lượng và chủng loại; sản xuất trong nước phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên
liệu nhập khẩu, tạo ra sự phát triển mất cân đối và dễ bị tác động. Công nghệ, thiết bị,
máy móc ngành dệt thiếu đồng bộ, chưa hiện đại, thiếu vốn đầu tư nên năng lực sản
xuất của ngành dệt chưa đáp ứng được nhu cầu cho ngành may xuất khẩu đẫn đến tình
trạng "Cái ngành dệt có, ngành may không cần; Cái ngành may cần, ngành dệt không
có".
Thứ ba, năng suất lao động ngành dệt may còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực
còn thấp, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao và nhân lực cho ngành dệt, nhân lực
marketing, quản trị doanh nghiệp… còn thiếu và yếu. Nghiên cứu phát triển sản phẩm
(R&D), trong đó đặc biệt là khâu thiết kế mẫu mã vẫn đang là khâu yếu của ngành dệt
may Việt Nam hiện nay. Xét về cấp độ năng lực cạnh tranh của ngành thì ngành dệt
may Việt Nam đang ở cấp độ 2, cấp độ trung bình
Thứ tư, Cụm ngành dệt may nước ta đã hình thành nhưng còn mờ nhạt, chưa hiệu
quả, liên kết ngang cũng như liên kết dọc của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn
lỏng lẻo. Các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam đang cạnh tranh chủ yếu ở hoạt
động gia công cho phân khúc thấp và trung bình. Các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ

phụ liệu.. chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành..
2. Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế: Nguồn nhân lực của Việt
Nam phù hợp với cơ cấu hiện tại của ngành dệt may, song lại chưa đáp ứng yêu cầu để
cơ cấu lại ngành nhằm phát triển khâu thượng nguồn như dệt, nhuộm….Các nhân tố
ngăn cản sự phát triển của ngành dệt Việt Nam là vấn đề ý thức của người lao động;
trình độ người lao động còn thấp cộng với thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp
lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm lạc hậu hơn các nước trong khu vực; đa phần đội ngũ nhân
viên nhân sự trong các doanh nghiệp dệt may đều từ các ngành nghề khác chuyển
sang, tuy có kinh nghiệm trong quản lý nhưng lại thiếu kiến thức chuyên ngành, từ đó
làm giảm hiệu quả của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp… Bên cạnh đó vấn
đề đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu cho ngành công nghiệp dệt và nhuộm hoàn tất
còn hạn chế, kỹ sư lành nghề ngành nhuộm thiếu, nhân lực thiết kế thời trang được đào
tạo tại Việt Nam chỉ có khả năng kinh doanh ở quy mô nhỏ mà chưa thể thiết kế và
triển khai sản xuất để thương mại hóa với quy mô toàn ngành; chưa xây dựng được
thương hiệu quốc gia để phát triển trên thị trường thế giới ; việc đào tạo nhân lực cho
ngành dệt may hiện chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế...Sự hợp tác và liên kết giữa


19
cụm ngành dệt may với các viện nghiên cứu, trường đại học – cao đẳng – dạy nghề và
thể chế hỗ trợ rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành.
3. Mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp chưa hiệu quả, cụm ngành dệt may
còn kém phát triển: Hiện nay mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp dệt may còn yếu,
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn bất cập. Hạn chế về tầm nhìn chiến lược
quy mô đầu tư các nhà máy lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có tiềm lực kết nối,
chưa có khả năng và năng lực tài chính đầu tư vào lĩnh vực này để sâu chuỗi liên kết,
nhiều doanh nghiệp bỏ quên thị phần trong nước…Do đặc điểm là số lượng doanh
nghiệp sản xuất của ngành mất cân đối, quy mô sản xuất nhỏ. Hơn nữa, địa bàn hoạt
động của doanh nghiệp nằm rải rác trong cả nước, chưa hình thành nhiều cụm công
nghiệp dệt may. Cùng với đó đa số doanh nghiệp dệt may Việt Nam có quy mô nhỏ và

20
nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực sợi, dệt, vải thời gian qua vẫn chủ yếu từ khối doanh
nghiệp FDI.
5. Về chính sách của nhà nước: Có sự mâu thuẫn trong chính sách của Nhà
nước về đầu tư ngành dệt nhuộm; Môi trường kinh doanh cho ngành dệt may còn
nhiều hạn chế. Các chính sách hỗ trợ và phát triển ngành dệt may còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho hội nhập, nhất là TPP như: Năng lực thể chế của
Việt Nam chưa đủ để triển khai hiệu quả các chính sách, chủ trương của nhà nước,
nhất là ở cấp địa phương; thiếu hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện chính sách nên
cùng một chính sách nhiều cách hiểu khác nhau; thiếu sự điều phối chung giữa các
ban, ngành trong việc thực hiện chính sách; hơn nữa năng lực chuyển tải và thực hiện
chính sách của trung ương tại cấp địa phương còn rất hạn chế. Các chính sách của Nhà
nước về CNHT, đào tạo, kiểm tra chuyên ngành, chính sách tín dụng, chính sách tỷ
giá…….chưa thực sự rõ ràng và hiệu quả, đôi khi còn gây khó khăn cho doanh nghiệp
của ngành. Cùng với đó là năng lực cạnh tranh của quốc gia thấp nhất là trong các lĩnh
vực: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, đổi mới sáng tạo…. đã ảnh hưởng đến
ngành dệt may. Quy hoạch và định hướng phát triển ngành dệt may còn nhiều bất cập,
chưa phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới, kết cấu hạ tầng chưa đảm bảo, còn lạc hậu. Việc
thay đổi luật, chính sách hỗ trợ đầu tư của Việt Nam quá thường xuyên, chưa tính
những yếu tố bất cập trong quá trình thay đổi nên ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến chiến lược đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt là chưa có luật Hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa để có căn cứ pháp lý hỗ trợ nhằm giúp các loại hình doanh
nghiệp này phát triển bền vững.
6. Thương hiệu của ngành dệt may Việt Nam còn yếu, chi phí sản xuất tổng thể
còn cao: Do hạn chế lớn nhất của các doanh nghiệp hiện nay về nguồn lực vốn, nhân
lực, về cơ chế chính sách, ưu đãi vốn vay, giới hạn về trần quảng cáo, truyền thông,
tiếp thị và duy trì thương hiệu… Trong đó, trở ngại lớn nhất hiện nay của doanh
nghiệp là chưa có chiến lược thương hiệu bài bản, trong đó cấu trúc thương hiệu là cốt
lõi cơ bản. Chi phí sản xuất còn cao là do: chính sách lương tối thiểu, các khoản trích
theo lương chưa phù hợp, chính sách tỷ giá, phụ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu,

Hai là, lấy giá trị gia tăng, phát triển công nghiệp hỗ trợ làm mục tiêu, đồng thời
là thước đo cho năng lực cạnh tranh của ngành dệt may khi tham gia TPP
Ba là, cần tái cấu trúc lại trong ngành dệt may để khai thác tối đa lợi thế mà các
FTA thế hệ mới mang lại, trong đó có TPP
Thứ tư, Phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may cần cân đối
giữu lợi ích và bảo vệ môi trường
4.3.2. Định hướng phát nâng cao năng lực cạnh tranh dệt may khi tham gia
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Thứ nhất, cần nâng cấp, tăng cường liên kết và hợp tác trong cụm ngành dệt may
Thứ hai, cải thiện năng lực cạnh tranh ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ ngành
Thứ ba, trong ngắn hạn cần tập trung phát triển và nâng cao khả năng cạnh
tranh cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường


22
Thứ tư, tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp để tạo nguồn
lao động chất lượng cao
4.4. Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt
may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương.
4.4.1. Đầu tư đổi mới công nghệ, huy động các nguồn vốn để mở rộng quy mô
doanh nghiệp ngành dệt may
Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển của ngành dệt may. Các doanh nghiệp dệt may cần đa dạng hóa hình thức
huy động vốn
4.4.2. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động để đáp ứng yêu
cầu của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp phát triển bền vững
và lâu dài của ngành Dệt may, trong đó đào tạo giữ vai trò đặc biệt quan trọng để phù
hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, sự chuyển dịch sản xuất dệt may từ các nước công
nghiệp phát triển đến các nước đang phát triển. Các doanh nghiệp ngành dệt may cần




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status