BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
----------------------------PHAN XUÂN BÌNH MINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM BẢO TỒN,
PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG MỘT SỐ LOÀI TRONG
CHI KIM TUYẾN (Anoectochilus Blume) Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Thực vật
: 9 42 01 11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Trần Minh Hợi
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Phạm Hương Sơn
annamensis and their Anti-inflammatory Activity, Natural Product
Communications 11(5): 613 - 614.
4. Phan Xuan Binh Minh, Pham Huong Son, (2016), Distridution,
Habitat of Five Species of the Genus Anoectochilus Blume in
Vietnam, Proceedings The 12th Asia Pacific Orchid Conference:
110- 116
5. Phan Xuan Binh Minh, Pham Huong Son, Tran Minh Hoi, (2017),
Hiệu quả của môi trường lỏng trong vi nhân giống loài Kim tuyến
trung bộ (Anoectochilus annamensis Aver.), Báo cáo khoa học về
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hội nghị khoa học toàn quốc lần
thứ VII, Nhà xuấn bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, trang
1756- 1762.
6. Phan Xuân Bình Minh, Bùi Thị Thanh Phương, Phạm Hương
Sơn, Trần Minh Hợi, Nguyễn Thị Phương Lan,Vũ Thị Thảo (2018),
Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng bằng đèn LED lên khả năng sinh
trưởng và phát triển của chồi hai loài Kim tuyến (Anoectochilus
annamensis Aver vàAnoectochilus roxburghii (Wall.) Wall ex
Lindl) nuôi cấy in vitro, Tạp chí Sinh học 40(1): 32- 38. DOI:
10.15625/0866-7160/v40nl. 10636
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) thuộc họ Lan (Orchidaceae
Juss.), trên thế giới có khoảng 50 loài. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân
và cộng sự (2005) chi Kim tuyến có 12 loài. Trong đó năm loài có tên trong
Sách đỏ Việt Nam, đó là: Anoectochilus acalcaratus Aver., Anoectochilus
calcareus Aver., A. chapaensis Gagnep., A. setaceus Blume, A. tridentatus
Seidenf. ex Aver.). Theo Averyanov LV. (2008), chi Anoectochilus Blume
và A. setaceus).
- Nghiên cứu thành phần hóa học của 2 loài (Kim tuyến tơ và Kim tuyến
trung bộ) và xác định được:
+ 8 hợp chất từ loài A. setaceus, trong đó có 2 hợp chất được bổ sung
mới là adensine và reoside.
+ 6 hợp chất từ loài A. annamensis, trong đó có 1 hợp chất mới là 4’, 5dihydroxy-3,3’, 7- trimethoxyflavone 4’-O-α-L-rhamnopyranosyl- (1→6)β-D-glucopyranoside.
-Nghiên cứu xác định các căn cứ khoa học, để nhân giống thành công 3 loài
A. annamensis, A. lylei và A. setaceus băng phương pháp nuôi cấy in vitro
từ hạt và chồi.
- Đề xuất một số giải pháp ban đầu, mang tính khả thi nhằm nhân giống,
nuôi trồng để bảo tồn ở điều kiện chuyển chỗ (ex situ) kết hợp với bảo tồn
tại chỗ (in situ) về 3 loài A. annamensis, A. lylei và A. setaceus.
- Điều tra, đánh giá, thu thập được một số thông tin về hiện trạng khai thác,
buôn bán, tiêu thụ một số loài Kim tuyến tại 3 VQG, 2 KBTTN và một vài
khu vực có rừng ở một số địa phương.
- Dựa trên những kết quả nghiên cứu có tính hệ thống đã đề xuất các giải
pháp bảo tồn hiệu quả các loài thuộc chi Kim tuyến.
5. Bố cục của luận án
Toàn bộ luận án bao gồm 156 trang, 49 hình và 20 bảng, gồm
các phần:
1.1.
Mở đầu: 3 trang
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu: 30 trang
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 9
trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 94 trang
Kết luận và kiến nghị: 2 trang.
Tài liệu tham khảo: 17 trang
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
thuốc bắc, là cây thuốc mang tính mát và có vị ngọt, thanh nhiệt, thanh
huyết, bổ phổi, giải trừ u uất, thông trung khí, bồi dưỡng sức khỏe, nóng
gan, bệnh phổi, thổ huyết, ho hen, đau ngực, đau lá lách, đau cuống họng,
cao huyết áp, trẻ con chậm lớn, suy thận. Giá trị dược liệu. Theo y học hiện
đại đã có rất nhiều các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các loài Kim tuyến có
chứa các hợp chất như: flavonoid, axit amin có khả năng kháng khuẩn,
chống lão hoá, giảm huyết áp, tiểu đường và làm tê liệt cơ chế hoạt động
của tế bào lạ. Hiện tại đã có những sản phẩm và những hoạt chất của một số
loài Kim tuyến như A. setaceus, A. formossanus… đã được thương mại.
- Các kết quả nghiên cứu về nhân giống và nuôi trồng: Những kết quả về
nghiên cứu này được bắt đầu từ những năm 80, 90 tại Quốc Kết quả cho
thấy giải pháp nhân giống được dùng chủ yếu là nhân giống in vitro từ hạt
trong môi trường có bổ sung vi sinh vật hỗ trợ cho sự sinh trưởng và phát
6
triển của Kim tuyến. Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây có sử dụng hệ
thống nuôi cấy bằng môi trường lỏng và hệ thống chiếu sáng LED. Biện
pháp nuôi trồng có hai biện pháp là: Nuôi trồng trong nhà kính và nuôi
trồng dưới tán rừng.
1.3. Tình hình nghiên cứu về chi Kim tuyến ở Việt Nam
- Những kết quả nghiên điều tra, khảo sát, kiểm kê thành phần loài
đã được các tác giả Phạm Hoàng Hộ, Nguyến Thiện Tịch, Nguyễn Tiến Bân
và Averyanov L thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước.
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học và giá trị dược
liệu của chi Kim tuyến còn rất hạn chế. Vũ Công Luận và cộng sự (2005)
đã công bố kết quả nghiên cứu nhân giống và định lượng β- sitosterrol, một
hoạt chất dùng đề điều trị các bệnh tim mạch trên cây nuôi cấy mô. Sau đó
tác giả Đỗ Thị Gấm và cộng sự (2017) cũng đã chiết xuất và định lượng
Flavonoid tổng trên ba loài Kim tuyến (Kim tuyến tơ, Kim tuyến trung bộ
Địa điểm phát triển vùng trồng được thực hiện tại: Công ty
Biopharma, Hòa Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu chính của luận án
Đặc điểm hình thái và phân loại các loài trong chi Kim tuyến ở Việt
Nam
Xác định thành phần hoạt chất trong hai loài Kim tuyến tơ và Kim
tuyến trung bộ.
Nghiên cứu, điều tra hiện trạng khai thác và buôn bán các loài
thuộc chi Kim tuyến. Từ đó đưa ra giải pháp quản lý, tuyên truyền
để người dân địa phương hiểu được giá trị của các loài Kim tuyến
và bảo vệ chúng.
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các loài
quý hiếm thuộc chi Kim tuyến.
+ Giải pháp cho quản lý : Đưa các loài Kim tuyến vào danh mục các
loài cây thuốc cần được bảo vệ, đề xuất khu bảo tồn hợp lý và tuyên
truyền trong cộng đồng.
+ Giải pháp kỹ thuật : Nghiên cứu các kỹ thuật nhân giống bằng
phương pháp nuôi cấy in vitro, nuôi trồng ba loài Kim tuyến trung bộ (A.
annamensis), Kim tuyến tơ (A. setaceus) và Lan sứa (A. lylei) phục vụ có
công tác bảo tồn và phát triển bền vững .
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ngoài thực địa
- Điều tra thực địa và thu thập mẫu vật theo phương pháp nghiên
cứu thực vật của Nguyễn Nghia Thìn (2007)
- Phương pháp phỏng vấn và đánh giá nhanh nông thôn (RRA)
8
2.4.2. Phương pháp phân loại và giám định tên loài
- Sử dụng phương pháp chuyên gia và các tài liệu của Phạm Hoàng
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu trên phần mềm Iristat 5.0
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái, phân bố của chi Kim tuyến ở Việt Nam
3.1.1. Đặc điểm hình thái
Các loài thuộc chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume.) là cây thân
thảo, có kích thước nhỏ, mọng nước, mọc sát mặt đất vì vậy một số loài
Kim tuyến còn được gọi với cái tên Lan đất. Rễ Kim tuyến có hệ rễ là
những rễ đơn mọc ra từ đốt thân rễ, đôi khi từ đốt thân khí sinh, rễ ống, kích
thước nhỏ. Thân: thân thảo, mọng nước, có kích thước nhỏ (trung bình 825cm). thân chia hai phần thân rễ và thân khí sinh. Lá Kim tuyến là lá đơn,
mọc cách xoắn quanh thân, xoè trên mặt đất, với bộ lá màu xanh đến xanh
đen hoặc mang các màu sắc khác (tùy theo loài). Lá hình trứng hoặc hình
thoi, mép lá nhẵn hoặc gợn răng cưa. Bề mặt trên lá mịn như nhung và
mang một mạng lưới gân lá phức tạp, cái tên "Kim tuyến" hay "Kim hoàn”
bắt nguồn từ những đường gân rất đẹp trên phiến lá của các loài lan này, cá
biệt có những loài không có những đương gân lá nổi bật, dễ nhận biết. Hoa
Kim tuyến dạng cụm ở ngọn thân, mang ít hoa, hoa mọc thưa, hoa có một
cánh môi dưới to rõ ràng có cuống ngắn chia hai thuỳ rõ ràng. Quả được
bao bọc bởi các mảnh vỏ mỏng được xếp lại với nhau và liên kết bởi hai
đầu trụ, bên trong quả có một trụ nằm chính giữa và có chứa nhiều hạt nhỏ
bám quanh trụ. Sau khi quả chín, vỏ quả khô tách ra, các hạt nhỏ sẽ bay ra.
Cây tái sinh trong tự nhiên từ chồi và hạt.
Trong thời gian thực hiện nghiên cứu khảo sát từ năm 2012-2017
tại 6 VQG, 5 KBTTN và 7 điểm có rừng tại nhiều tỉnh thành khác nhau, đã
thu thập và xác định được 5 loài thuộc chi Kim tuyến bao gồm: Kim tuyến
trung bộ (A. annamensis Aver.), Kim tuyến đá vôi (A. calcareus Aver.);
Giải thuỷ tím (A. elwesii C.B. Clarke ex Hook.); Kim tuyến lyle (A. lylei
Rolfe ex Downie); Kim tuyến tơ (A. setaceus Wall. ex Lindl.).
3.1.2. Vùng phân bố của 5 loài thuộc chi Kim tuyến
lylei
setaceus
Tam Đảo
+
-
+
-
+
Xuân Sơn
+
+
+
-
+
Ba Bể
-
+
Chư Yang Sin
-
-
-
+
+
Khau Ca
-
+
+
-
+
Văn Bàn
loài
Địa điểm
VQG
Bàng
KBTTN
Thần
Sa
Phượng Hoàng
Xuân Liên
+
Bắc
+
Hướng
-
Hóa
11
+
Sa Pa- Lào Cai
-
-
-
-
+
Kỳ
-
+
-
-
-
+
Nam Trà My-
Lộc
-
Lâm Đồng
Ghi chú: + Có phân bố trong tự nhiên; - Không thấy phân bố trong tự
nhiên.
Kết quả trên cho thấy, đã ghi nhận 12 điểm phân bố mới cho cả 5 loài
thuộc chi Kim tuyến (Anoectochilus) ở Việt Nam so với tài liệu của 2 tác
giả Nguyễn Tiến Bân (2005) và Averyanov (2009).
3.2. Thành Phần hoá học của hai loài Kim tuyến (A. setaceus Blume và
A. annamensis Aver.)
3.2.1. Phân lập và xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất trong Kim
tuyến tơ ( A. setaceus)
Quá trình phân lập và xác định thành phần hoá học đã xác định
được tám hợp chất, có hai hợp chất được phát hiện lần đầu trong A.
setaceus là adenosine và roeoside và một hợp chất là flavonoid chính trong
các loài thuộc chi Kim tuyến (isorhamnetin-3-rutinoside). Tám chất nói trên
được tổng hợp ở bảng 3.2.
12
Bảng 3.2: Danh sách các chất phân lập từ Kim tuyên tơ
STT
1
Kí hiệu
Tên gọi
ARW11.4
Adenosine-5'
methyl sunpua
6
ARW12.2
(6S,9S)Roseoside
7
ARW18.7
Stigmasterol
8
ARW13.7
Hỗn hợp Benzylβ-Dglucopyranoside
và methylarbutin
3.2.2. Phân lập và xác định cấu trúc hoá học của các chất trong Kim
tuyến trung bộ ( A. annamensis) .
Từ dịch chiết MeOH của Kim tuyến trung bộ đã phân lập được 6
hợp chất được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Danh sách các chất phân lập từ Kim tuyến trung bộ
STT
(trùng
với
ARW3.5)
C28H32O1
6
-
M = 624
Isorhamnetin 3-O-rutinoside
3
C30H36O1
AAE14.1
3
6
M = 652
5-Hydroxy-3,7,3'trimethoxyflavone 4'-O-α-Lrhamnopyranosyl-(1→6)-βD-glucopyranoside
15
Chất
mới
AAH8.15
Di-(2-ethylhexyl) phthalate
(DEHP)
3.3. Hiện trạng khai thác, sử dụng và buôn bán các loài thuộc chi Kim
tuyến
3.3.1. Hiện trạng khai thác
Trong 10 năm gần đây nhu cầu thu mua tài nguyên dược liệu nói
chung và các loài thuộc chi Kim tuyến gia tăng nhanh chóng. Tại 11 khu
vực đã khảo sát đều có những ông chủ thu mua lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
và 100% số họ đều có thu mua Kim tuyến. Theo những người dân địa
phương ở 11 khu vực này việc khai thác Kim tuyến bắt đầu từ cuối những
năm 90, phát triển rầm rộ vào đầu những năm 2000 khi những ông chủ
người Trung Quốc đặt hàng thu mua. Đến nay việc khai thác và thu mua
vẫn tiếp tục diễn ra nhưng số lượng và quy mô nhỏ hơn do nguồn khai thác
trong tự nhiên ngày càng cạn kiệt.
3.3.2. Hiện trạng sử dụng và buôn bán và quản lý các loài Kim tuyến tại
địa phương
16
Tại 18 điểm khảo sát thu mẫu đều thấy người dân thu hái và mua
bán các loài thuộc chi Kim tuyến. Trong nghiên cứu khảo sát về những hiểu
biết và giá trị sử dụng các loài thuộc chi Kim tuyến, đã chọn 3 VQG; 2
KBT; 2 điểm có rừng khác được biết gần như toàn bộ Kim tuyên khai thác
được là để bán tỉ lệ để sử dụng là dưới 10%. Nguyên nhân là do đa phần
người dân cũng như cán bộ quản lý không biết hoặc biết rất hạn chế về giá
trị nguồn gen cũng như giá trị sử dụng cùa các loài kim tuyến.
Theo số liệu điều tra khảo sát 165 người dân địa phương tham gia
khai thác và 16 chủ buôn bán LSNG tại 11 điểm khảo sát. Kết quả cho thấy
Trung Quốc, Thái Lan…sử dụng. Trong nhân giống in vitro có ba giai
đoạn chính: Tạo vật liệu khởi đầu, nhân nhanh và tạo cây hoàn chỉnh.
a. Tạo vật liệu khởi đầu
Trong nghiêu cứu có hai nội dung chính nhằm tìm được công thức
môi trường khoáng, chất điều hoà sinh trưởng và nồng độ thích hợp với
từng đối tượng nghiên cứu.
-Ảnh hưởng của các môi trường khoáng và chất điều hoà sinh trưởng đến
khả năng sinh chồi của Kim tuyến trung bộ và Kim tuyến lyle
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường thích hợp cho sự tái sinh chồi
của Kim tuyến trung bộ là môi trường MS có bổ sung 1,0mg/l TDZ. Môi
trường thích hợp cho Kim tuyến lyle là môi trường MS có bổ sung 1,5mg/l
BAP.
- Ảnh hưởng của các môi trường khoáng và chất điều hoà sinh trưởng đến
khả năng nảy mầm của Kim tuyến trung bộ, Kim tuyến lyle và Kim tuyến tơ
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng và chất
điều hoà sinh trưởng đến khả năng nảy mầm của ba loài Kim tuyến (Kim
tuyến trung bộ, Kim tuyến lyle và Kim tuyến tơ ) được thể hiện ở bảng 3.8.
Bảng 3.8: Ảnh hƣởng của môi trƣờng khoáng và chất kích thích đến
khả năng nảy mầm của hạt Kim tuyến trung bộ nuôi cấy in vitro
Môi trường khoáng
MS
Nồng độ
TDZ (mg/l)
Tỉ lệ mầm xanh
(%)
Khối lượng trung bình
65,6b
1,86a
2,0
58,7c
1,93a
3,1
0,1
0
15,8f
0,46e
0,1
22,2e
0,64d
0,5
31,7d
0,1
20,5e
0,72e
0,5
29,7d
0,89d
1
66,2a
1,35c
1,5
61,7b
1,74b
2,0
52,8c
1,87a
VW
0,5
29,2d
0,72d
1
57,4a
1,07c
1,5
51,8b
1,52b
2,0
48,4c
1,64a
2,4
0,06
trường MS + 0,5mg/l TDZ sau 8 tuần nuôi cấy cho hệ số nhân chồi là
9,23, chồi lại phát triển tốt. Còn đối với A. lylei là: MS+ 1mg/l BAP. sau 8
tuần nuôi cấy cho hệ số nhân chồi 9,12.
Sử dụng môi trường lỏng trong giai đoạn nhân nhanh không chỉ gia
tăng sinh khối, tiết kiệm chi phí mà nó còn là tiền đề cho những quy trình
sản xuất giống trên quy mô lớn và những nghiên cứu tạo hạt giống nhân
tạo. Phương pháp này đã được áp dụng trên nhiều đối tượng cây trồng. Kết
quả nghiên cứu trên ba điều kiện môi trường khác nhau: Môi trường rắn;
lỏng lắc (80 vòng/phút) và lỏng có bổ sung bông gòn để nuôi cấy 3 loài
Kim tuyến trung bộ, Kim tuyến lyle và Kim tuyến tơ cho thấy tại các công
thức môi trường lỏng lắc có hệ số nhân chồi cao hơn so với môi trường rắn
và môi trường bông gòn ở cả ba loài Kim tuyến. Môi trường lỏng lắc đã
khích thích quá trình phát sinh chồi và rễ mạnh mẽ hơn và quan trọng hơn
cả hình thái của cây không bị thay đổi. Bên cạnh đó để thích nghi với điều
kiện môi trường lỏng lắc, hệ rễ phát triển giúp cho cây đứng thẳng, đường
kính thân to và thân cây cứng hơn. Đây cũng là những chỉ tiêu quan trọng
đối với cây giống in vitro. Sử dụng môi trường lỏng trong nhân giống in
vitro nói chung và cây dược liệu nói riêng nhằm gia tăng sinh khối và hạ giá
thành sản phẩm đã được triển khai ở một số quốc gia như Nhật Bản, Ân
Độ…
-Ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng
Ở giai đoạn nhân nhanh việc xác định được môi trường nuôi cấy và điều
kiện ngoại cảnh thích hợp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của quá trình
nhân nhanh. Trong tự nhiên chi Kim tuyến đa phần phân bố dưới tán rừng
rậm thường xanh có độ tàn che 70-80% do vậy các loài này thích hợp với
cường độ chiếu sáng thấp. Theo nghiên cứu của Ma ZQ và cộng sự (2010)
cho thấy A. formosanaus phù hợp với cường độ sáng từ 30- 0 µmol/m2/s.
Trong nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng, các công thức thí
nghiệm được thực hiện ở các dải bước sóng (λ= 430-470 nm; λ= 470-510
nm; λ= 510-560 nm; λ= 560- 600 nm) với cường độ chiếu sáng là
- Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng
Nghiên cứu ảnh hưởng của NAA và IBA ở các nồng độ 0,1; 0,5; 1;
1,5; 2 mg/l. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với A. annamensis ở nồng độ
0.5 mg/ l đối với cả hai loại auxin đều cho kết quả về tỉ lệ ra rễ cũng như số
rễ trung bình và chiều dài rễ tốt hơn so với các nồng độ khác. Nhưng cho
kết quả tốt nhất vẫn ở công thức 0.5mg/l IBA với các chỉ số: tỉ lệ cây ra rễ
93,33%; số rễ trung bình 2,64; dài rễ trung bình 11,60mm). Vậy nồng độ
thích hợp nhất cho A. lylei là NAA ở nồng độ 0,5mg/l với tỉ lệ cây ra rễ là
89,72%, số rễ trung bình trên mỗi mẫu là 2,78, chiều dài trung bình của rễ
là 10.76mm.
-Ảnh hưởng của điều kiện môi trường
22
Từ những kết quả khả quan khi sử dụng môi trường lỏng trong giai
đoạn nhân nhanh ba loài Kim tuyến. Nghiên cứu tiếp tục được thực hiện
trong giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh trên các công thức môi trường MS+ 0,5
mg/l IBA và MS + 0,5 mg/l NAA ở các thể môi trường khác nhau: môi
trường rắn (bổ sung 8g agar/l); môi trường với giá thể bông gòn và môi
trường lỏng lắc 60 vòng/phút cho ba loài Kim tuyến trung bộ, Kim tuyến
lyle và Kim tuyến tơ sau 6 tuần nuôi cấy. Kết quả trên cho thấy, đối với cả
ba loài Kim tuyến: Kim tuyến trung bộ, Kim tuyến lyle và Kim tuyến tơ
môi trường lỏng lắc đều cho kết quả tốt nhất. Môi trường lỏng lắc đã kích
thích quá trình hình thành và phát triển của rễ tốt hơn so với môi trường
lỏng tĩnh và môi trường rắn. Hơn thế nữa, môi trường lỏng lắc còn giúp hệ
rễ phát triển đều hơn, lông hút trên rễ nhiều hơn giúp cây đứng vững hơn.
3.4. 1.2. Giải pháp nuôi trồng Kim tuyến
a. Nuôi trồng trong điều kiện nhà lưới
Giai đoạn đưa cây in vitro ra vườn ươm là giai đoạn có ý nghĩa vô
cùng quan trọng, quyết định khả năng ứng dụng của toàn bộ quá trình nuôi
nhất vì vậy mà cây phát triển tốt và cho thu hoạch vào tháng 12, đây cũng là
thời điểm Kim tuyến tơ ra hoa là thời điểm thu hoạch dược liệu tốt nhất.
Đối với cây trồng vào tháng 6 đến tháng 7 và 8 khi cây mới bắt đầu phát
triển lại gặp mưa và sâu bệnh gây tổn hại rất nhiều dẫn đến tỉ lệ sống thấp
nhất. Cây trồng ở thời điểm tháng 9 có tỉ lệ sống cao hơn nhưng sinh khối
lại phát triển chậm do điều kiện thời tiết sau đó là mùa khô lạnh. Còn ở thời
điểm tháng 12 cây có tỉ lệ sống thấp và cây phát triển chậm do điều kiện
thời tiết. Vậy thời điểm thích hợp nhất đề trồng Kim tuyến tơ ở miền Bắc là
tháng 3.
-Các loài sâu bệnh gây hại và cách phòng trừ
Như đã biết các loài thuộc chi Kim tuyến rất nhạy cảm với điều kiên
môi trường sinh thái, chúng thích hợp sống trong điệu kiện ưa ẩm và không
ưa sáng, đây cũng là điều kiện thích hợp sự sinh sôi nẩy nở của các loài sinh
vật xâm hại. Khi sống trong điều kiên tự nhiên chúng được bảo vệ bởi
những mối quan hệ cộng sinh và tương hỗ lẫn nhau. Vì vậy khi nuôi trồng
Kim tuyến khó tránh khỏi tác hại của các sinh vật gây hại.
Những nghiên cứu tại Hoà Bình từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 2
năm 2015 trên loài Kim tuyến tơ cho thấy có 4 loài sâu bệnh hại chủ yếu là:
Nhện đỏ son, ốc sên, sên trần, thối mềm. Kết quả điều tra về mức độ gây
hại được thể hiện được thể hiện ở bảng 3.20
Bảng 3.20: Mức độ gây hại của các loại sâu bệnh hại chính trên cây
Kim tuyến (03/2014- 2/2015)
24
Mức độ phổ biến
Kỳ điều
tra
5/2013
++
+++
+
++
6/2013
+++
+
-
++
7/2013
+++
+
-
+
11/2013
++
+++
++
+
12/2013
+
++
+
-
1/2015
-
++
+
-