HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ CHIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ CHIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS,TS. TRIỆU QUANG TIẾN
2. PGS,TS. TRẦN THỊ VUI
HÀ NỘI - 2019
27
trung nghiên cứu
Chƣơng 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM
31
2.1. Một số vấn đề lý luận
31
2.2. Cơ sở thực tiễn về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
43
Chƣơng 3. CHỦ TRƢƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN BÌNH
ĐẲNG GIỚI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
63
3.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
63
3.2. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới
73
Chƣơng 4. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
coi chiến lược phát triển nguồn lực con người là “chiến lược của các chiến
lược”; coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; coi việc
phát triển nguồn lực con người là nhân tố quyết định đến thành công của công
cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
Thực hiện bình đẳng giới sẽ góp phần quan trọng vào việc giải phóng lực lượng
sản xuất, khai thác và phát huy một cách có hiệu quả lao động nữ, đảm bảo cho
sự phát triển, tiến bộ của xã hội và tiến tới đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam
hiện nay, phụ nữ ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình. Họ
không chỉ tham gia công tác quản lý, tham gia tích cực vào mọi hoạt động xã
hội, sản xuất có hiệu quả mà còn làm phần lớn công việc gia đình. Mặc dù có
sự đóng góp lớn cho sự phát triển, nhưng trên thực tế, những cống hiến của
phụ nữ chưa được thừa nhận đầy đủ. Phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi trong
phát triển cá nhân; là nạn nhân của nhiều vấn đề gây nhức nhối và bức xúc
trong xã hội. Sự hạn chế về cơ hội phát triển ở phụ nữ không chỉ làm giảm sút
phúc lợi gia đình và xã hội, cản trở việc phát huy nguồn lực con người mà còn
tạo ra những bất ổn định trong xã hội và gián tiếp cản trở thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc giải phóng phụ nữ, thực
hiện bình đẳng giới, phát huy tiềm năng của phụ nữ là đòi hỏi khách quan và
bức thiết của sự phát triển xã hội.
2
C ng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng Cộng sản Việt
Nam ngày càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của việc thực
hiện chính sách xã hội nhằm cải thiện đời sống nhân dân, trong đó có việc quan
tâm đến việc hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới
nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, được
bình đẳng trong cơ hội, cống hiến và hưởng thụ các thành quả của xã hội và
2006 ế
sả
ă
làm luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2016”
3
2. Mục đ ch, nhiệ
vụ nghi n cứu
2.1. Mụ
Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Đả
thực hi
bì
ẳng giới từ ă
2006 ế
sả
ă
t
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3 1 Đố tượng
Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện bình
đẳng giới của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016.
4
3.2. Phạm vi
- Về thời gian: Giới hạn nghiên cứu của luận án từ năm 2006 đến
năm 2016. Năm 2006 là năm Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua
Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây là mốc đánh dấu lần đầu tiên Nhà
nước Việt Nam ban hành bộ luật riêng về vấn đề bình đẳng giới. Năm 2016
là mốc tròn 10 năm Luật Bình đẳng giới được ban hành. Tuy nhiên, lịch sử
là một quá trình liên tục nên luận án đã đề cập đến tình hình thực hiện bình
đẳng giới ở Việt Nam trước năm 2006.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới trên phạm vi cả nước.
- Về nội dung:
+
ình đẳng giới thực chất không chỉ là việc giữa hai giới nam và nữ
mà nó còn bao gồm cả trẻ em, nhóm người khuyết tật, cộng đồng những
người LGBT (LGBT là tên viết tắt của cộng đồng những người đồng tính
luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái
(Bisexual) và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới (Transgender)... Tuy
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh chỉ tập trung
làm rõ bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ.
+ Đây là đề tài lớn, với nhiều nội dung phong ph . Trong khuôn khổ
luận án và điều kiện nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chủ trương
p áp
ê
ứu
Phương pháp mà nghiên cứu sinh sử dụng chủ yếu trong luận án là
phương pháp lịch sử và lôgic. Ngoài ra, một số phương pháp khác cũng được
nghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình nghiên cứu như:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích, được nghiên cứu sinh sử dụng
trong quá trình thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu: các văn kiện của Đảng
và Nhà nước; các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới đã được công bố
trong và ngoài nước;...
+ Phương pháp thống kê được dùng trong quá trình xử lý các số liệu trong
các báo cáo thường niên của Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội...
5. Đ ng g
ới về h a học v
ngh a thực tiễn của u n n
- Góp phần hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về bình đẳng
giới từ năm 2006 đến năm 2016.
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện bình đẳng giới ở
Việt Nam, luận án rút ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế trên ba lĩnh vực: nhận
thức, chỉ đạo thực tiễn, kết quả thực hiện và bước đầu đ c kết một số kinh
nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện
bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
ở Việt Nam vì lần đầu tiên những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam được
công bố. Cuốn sách gồm 4 chương, trong đó dành phần lớn dung lượng để
nêu lên các quan điểm, chính sách của Việt Nam về quyền con người và
những thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người về dân sự và
chính trị; về kinh tế, văn hóa và xã hội; về phụ nữ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em,
gia đình, người già, người tàn tật. Trong những thành tựu mà cuốn sách đề cập
đến, có thành tựu bảo đảm quyền của phụ nữ, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ.
Cuốn sách Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại, Phan Thanh Khôi Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) [94], là công trình của tập thể các nhà khoa học
8
của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Cuốn sách đã phân tích vấn đề giới nói chung và bình đẳng giới nói riêng trong
lịch sử nhân loại và Việt Nam. Cùng với việc đề cập đến vấn đề giới trong
truyền thông và Internet, vấn đề giới trong sách giáo khoa giáo dục phổ thông,
cuốn sách đã phân tích vấn đề giới trong những tác phẩm kinh điển của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh; đồng thời, dành một dung lượng đáng
kể nghiên cứu vấn đề giới trong đường lối, chính sách pháp luật của của Đảng và
Nhà nước Việt Nam.
Cuốn sách Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công
cuộc đổi mới đất nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [79], làm rõ vị trí, vai
trò và sức mạnh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến năm 2007; đồng
thời, cuốn sách cũng nêu bật những quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với phụ nữ và phong trào phụ nữ. Trên cơ sở nghiên cứu những đóng
góp to lớn của phụ nữ, cuốn sách không chỉ làm rõ những đóng góp to lớn của
các tầng lớp phụ nữ, phong trào phụ nữ Việt Nam, mà còn khẳng định sự đ ng
đắn trong chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ,
góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam.
công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam do Đỗ Hoài Nam làm Chủ nhiệm
[117]. Trên cơ sở tiến hành điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới ở Việt
Nam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và
hạn chế, tác giả đã đánh giá sự tác động của những chính sách đối với phụ nữ,
nam giới trên các v ng miền và trên các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, tác
giả cũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản, nhằm phục vụ
công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam, góp phần thực hiện bình đẳng
giới và nâng cao hiệu quả của chính sách đối với cả phụ nữ và nam giới.
Tác giả Lê Lục trong công trình Công tác tuyên truyền của Đảng
nahừm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức [106],
khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức.
Nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức, bài viết
đưa ra một số giải pháp, trong đó nhấn mạnh giải pháp nâng cao nhận thức
10
cũng như vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong thực hiện mục tiêu
bình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Viết về quan điểm của Hồ Chí Minh, về vai trò của phụ nữ, tác giả Thái
Sơn có bài viết “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ” [146]. Bài viết
phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ trong cách
mạng Việt Nam. Từ đó, tác giả khẳng định: công cuộc giải phóng phụ nữ gắn
với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra, để phát huy vai trò của phụ nữ, thực hiện bình
đẳng giới phải có chủ trương, chính sách, pháp luật cụ thể của Đảng và Nhà
nước, để đưa họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội. Tuy nhiên,
sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính sự cố gắng, phấn đấu vươn
lên của bản thân phụ nữ.
Nguyễn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Lê Tâm, “Quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ” [179], đã bàn về quan điểm của chủ nghĩa
í thư và
được cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chiến lược,
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện chủ trương của
Đảng, chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới, bình đẳng giới ở Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia
đình và xã hội ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế
trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới: một số chủ trương lớn còn
thiếu nhạy cảm về giới; kỹ năng lồng ghép giới còn hạn chế; định kiến giới
còn tồn tại dai dẳng trong xã hội; ...
Tác giả Vũ Thị Cúc trong công trình “Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn
đề giới” [43], đã nghiên cứu và chỉ ra nguyên nhân của bất bình đẳng giới là tư
tưởng “trọng nam khinh nữ”, ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong xã hội Việt
Nam và cách hiểu máy móc không ch ý đến sự khác biệt về giới, hạn chế trong
nhận thức của người dân và bản thân phụ nữ về bình đẳng giới. Bài viết cũng
bàn đến các giải pháp đấu tranh cho bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Để đạt được bình đẳng giới, theo Hồ Chí Minh, một mặt phải nâng cao nhận
thức của nam giới và xã hội về phụ nữ, vai trò của phụ nữ, thực hiện bình đẳng
nam nữ. Mặt khác, bản thân phụ nữ phải tự mình phấn đấu vươn lên, xóa bỏ
“định kiến giới” trong chính bản thân mình để giành quyền bình đẳng. Tuy
nhiên, việc giành lại quyền bình đẳng nam nữ không phải là việc riêng của
phụ nữ mà là việc chung của Đảng, của giai cấp công nhân và toàn thể nhân
12
dân. Tác giả cũng khẳng định, để thực hiện được những giải pháp trên theo
quan điểm của Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc đấu
tranh cho bình đẳng giới rất quan trọng. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã đưa
ra nhiều chủ trương, chính sách, đặc biệt là hệ thống pháp lý bảo vệ quyền
bình đẳng của phụ nữ. Bài viết là gợi ý cho tác giả khi phân tích nguyên nhân
sở giới và quyền lấy Công ước CEDAW làm khuôn khổ và công cụ phân
tích. Nghiên cứu đã chỉ ra những nhu cầu sửa đổi, bổ sung văn bản pháp
luật, những khuyến nghị trong tương lai. Những nội dung được đưa ra trong
công trình giúp nghiên cứu sinh có đánh giá chính xác hơn về quá trình chỉ
đạo xây dựng khung pháp lý về bình đẳng giới và lồng ghép bình đẳng giới
trong các chiến lược, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
UN Women, (United Nations Entity for Gender Equality and the
Empowerment of Women - Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới
và trao quyền cho phụ nữ) Pháp luật của chúng ta có thúc đẩy bình đẳng giới,
Sổ tay nghiên cứu rà soát pháp luật dựa trên công ước CEDAW, (Bản dịch tiếng
Việt: Hà Ngọc Anh) [185]. Đối tượng chính của cuốn sổ tay là các cán bộ thực
thi bình đẳng giới ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Nội dung Sổ
tay bàn đến là dựa trên khung tham chiếu Công ước CEDAW, các cán bộ thực
thi bình đẳng giới của Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các cơ quan, viện
nghiên cứu, các nhóm phụ nữ rà soát và đánh giá pháp luật của quốc gia mình có
tuân thủ Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử với phụ nữ hay
không. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị phù hợp.
Các công trình, bài viết kể trên, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau,
phần nào đã nêu rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giới và bình
đẳng giới. Đây chính là nguồn tài liệu quý, cung cấp cho tác giả những vấn đề lý
luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài luận án.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới
Nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới được rất nhiều học giả quan tâm.
Có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu:
14
Tiếp cận dưới góc độ gắn liền vấn đề phụ nữ với nghiên cứu về giới, tác
15
của cuốn sách để bàn về nguyên nhân dẫn đến định kiến, phân biệt đối xử với
người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Định kiến, phân biệt đối xử với
người phụ nữ không chỉ từ phía đàn ông mà ngay trong chính bản thân phụ nữ.
Nhiều phụ nữ mặc định vị trí, vai trò của mình thấp, nhỏ bé hơn đàn ông và
những việc gia đình, nội trợ con cái... thuộc về phụ nữ. Định kiến này khiến cho
phụ nữ ít, thậm chí không có cơ hội phát triển cá nhân và chịu nhiều thiệt thòi so
với nam giới. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến bất
bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.
Đề cập đến lịch sử hình thành tư tưởng nữ quyền và một số quan điểm cơ
bản về tư tưởng nữ quyền, các trường phái lý thuyết, những cống hiến cũng như
những hạn chế của lý thuyết nữ quyền, tác giả Lê Ngọc Văn, trong Nghiên cứu
gia đình - lý thuyết nữ quyền - quan điểm giới [191], đã chỉ ra rằng, nghiên cứu
vấn đề này chính là cơ sở khoa học của việc xây dựng chính sách, chiến lược
phát triển gia đình nói riêng và bình đẳng giới nói chung.
Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Đồng chủ biên), Bình đẳng
giới ở Việt Nam [5], trên cơ sở điều tra cơ bản về bình đẳng giới trong hai
năm 2005 - 2006, các tác giả đã chỉ ra thực trạng bình đẳng giới về cơ hội
cũng như khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới; đồng thời,
nghiên cứu này cũng chỉ ra tương quan giữa hai giới trên một số lĩnh vực
của đời sống gia đình và xã hội. Qua đó, thấy được vai trò của phụ nữ trong
giải quyết các vấn đề xã hội nói chung và trong chính trị; kinh tế, lao động,
việc làm cũng như trong gia đình nói riêng.
Trên phương diện chính trị - xã hội, các tác giả Trịnh Quốc Tuấn và Đỗ
Thị Thạch (Đồng chủ biên), trong cuốn sách chuyên khảo Khoa học giới Những vấn đề lý luận và thực tiễn [174], đã chỉ ra lịch sử phát triển của khoa
học giới, từ sự ra đời của lý thuyết giới đến cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc
nghiên cứu khoa học giới ở Việt Nam. Nghiên cứu của các tác giả cũng chỉ ra
các khái niệm cơ bản của khoa học giới: giới và giới tính; vai trò giới; nhu cầu
17
dung trên, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị trong lồng ghép giới
nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, phát triển bền vững ở Việt Nam.
Tiếp cận quá trình toàn cầu hóa như là một tất yếu khách quan tác động
đến các mặt của đời sống xã hội,mọi khu vực và quốc gia trên thế giới, đề tài
khoa học cấp cơ sở của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh do tác giả Đỗ Thị Thạch làm chủ nhiệm, với tiêu đề Tác
động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
[151], đã phân tích những tác động hai mặt của toàn cầu hóa đến thực hiện bình
đẳng giới ở Việt Nam trên các lĩnh vực lao động, việc làm; thu nhập; văn hóa xã hội; gia đình. Từ sự phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để phát huy
những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến
thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam.
Trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh
tranh Việt Nam” (Dự án RCV), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
(CIEM) tổ chức Hội thảo “Hội nhập kinh tế quốc tế và bình đẳng giới”. Tại Hội
thảo, tác giả Đặng Thị Thu Hoài với bài viết “Tác động của hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực đến bình đẳng giới ở Việt Nam” [71] đã khẳng định: ở góc độ
tiếp cận phát triển con người,hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã cải thiện
và r t ngắn được khoảng cách, mức độ phát triển của nữ giới so với nam giới
ở Việt Nam. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại do Việt
Nam chưa tận dụng được hết các cơ hội do hội nhập đem lại cho phụ nữ, nhất
là trong việc tham gia vào thị trường lao động. Khả năng và điều kiện tham
gia của phụ nữ vào các ngành nghề có khả năng được hưởng lợi tích cực từ
hội nhập vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số biện pháp về
chính sách để Việt Nam có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà hội nhập đem lại
cho phụ nữ, r t ngắn khoảng cách bất bình đẳng giới: tạo điều kiện dịch
chuyển lao động nữ giữa các ngành, khu vực; các chính sách hỗ trợ cho phụ
nữ nên tập trung vào một số ngành được hưởng lợi từ hội nhập;...
19
gia và thừa nhận trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và
ngay trong gia đình. Phụ nữ còn tham gia những vị trí lãnh đạo, quản lý cao cấp.
bình đẳng giới ở Việt Nam đã được thừa nhận trong pháp luật. Thân phận, địa vị
của người phụ nữ đã thay đổi. Tuy nhiên, một số biểu hiện của bình đẳng giới
hình thức cũng được tác giả chỉ ra: sự bất cập giữa pháp luật bình đẳng giới và
thực thi, vai trò “kép” của phụ nữ, chính sách quy định độ tuổi nghỉ hưu của nữ
giới và nam giới,...
Là một chuyên gia nghiên cứu về vấn đề giới và bình đẳng giới, tác giả
Đỗ Thị Thạch trong bài “Nữ trí thức Việt Nam trước yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [152], đã đưa ra quan điểm trước yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ nữ trí thức
Việt Nam phải đảm bảo ba phẩm chất cơ bản: phẩm chất chính trị vững vàng; có
trí tuệ cao; có trách nhiệm xã hội. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm
phát huy vai trò của nữ trí thức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
ên cạnh đó, còn nhiều bài viết bàn đến vấn đề giới, tiêu biểu như: Phan
Thị Thanh, “Giới và việc nhận thức về giới trong hệ thống tổ chức nhà nước”
[148]; Cao Huyền Nga, “Bất bình đẳng giới - nguồn gốc của sự xung đột tâm
lý trong quan hệ vợ chồng” [122]; Bùi Thị Tỉnh, Phụ nữ và giới [72];... Các
bài viết này ở các góc độ khác nhau cũng đã bàn đến vấn đề giới, phụ nữ và
phát triển cũng như bình đẳng giới.
Bên cạnh những công trình nói trên, nghiên cứu sinh mạnh dạn tiếp cận
và tham khảo những công trình của các tác giả và các tổ chức nước ngoài về
vấn đề giới và bình đẳng giới:
Cuốn Mười khái niệm lớn của xã hội học của tác giả Jean Cazennenva
được Sông Hương dịch [87]. Giới là một trong 10 khái niệm lớn của xã hội
học mà tác giả đề cập đến trong cuốn sách. Đây chính là nội dung tham khảo
cho nghiên cứu sinh khi đưa ra các khái niệm liên quan trong luận án.
21
Entity for Gender Equality and the Empowerment of Women - Cơ quan phụ
nữ Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ), Thúc đẩy
quyền của phụ nữ tại Việt Nam [187] đã nhấn mạnh để Việt Nam tiếp tục
phát triển kinh tế - xã hội thì thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ
nữ là việc cơ bản và cần thiết.
Như vậy, những công trình nghiên cứu về giới và bình đẳng giới nói
chung của các tác giả trong và ngoài nước đã cho thấy những cách tiếp cận,
những góc độ khác nhau về vấn đề này. Đó là những tài liệu tham khảo quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trình
nghiên cứu và viết luận án của mình.
1.1.3. Nh
c c công trình nghi n cứu về bình đẳng giới tr n
nh vực cụ thể: ch nh trị; inh tế, a động, việc
ột số
; gia đình
Mặc dù cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng
những công trình nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực chính trị;
kinh tế, lao động và việc làm; gia đình khá phong phú. Tiêu biểu là:
Cuốn sách Bình đẳng giới trong lao động và việc làm với tiến trình hội
nhập ở Việt Nam: Cơ hội và thách thứccủa tác giả Nguyễn Nam Phương
[130], đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn nữa bình
đẳng giới trong lao động, việc làm ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích