ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHAN ĐỨC CHUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG TÍNH THANH KHOẢN
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02
Đà Nẵng - 2018
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. TRƢƠNG HỒNG TRÌNH
Phản biện 1: TS. LÊ THỊ MINH HẰNG
Phản biện 2: PGS.TS. BÙI DŨNG THỂ
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh họp tại Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng vào ngày 18 tháng 8 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn không gian: Dữ liệu nghiên cứu với 228 Công ty Cổ
phần phi tài chính niêm yết tại Hose.
2
+ Giới hạn thời gian: Giai đoạn 5 năm từ 2013 – 2017.
4. Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng mô hình Nghiên cứu mô tả. Với ưu
điểm chính của nghiên cứu mô tả là nó sử dụng dữ liệu định tính và
định lượng để phân tích, đo lường, giúp mô tả và đánh giá mối quan
hệ tác động của một hoặc nhiều biến độc lập đến biến phụ thuộc
được chọn. Từ đó đưa ra giải đáp cho các mục đích nghiên cứu và
hàm ý chính sách.
* Phƣơng pháp ƣớc lƣợng định tính:
Phương pháp định tính được sử dụng để lựa chọn các biến trong
nghiên cứu. Biến phụ thuộc đƣợc chọn là hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu tài chính là tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROE; Các biến độc lập đƣợc chọn là tính thanh khoản thông qua
các chỉ số là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH), tỷ lệ thanh toán hiện
hành (CR - Current ratio), tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR - Operating Cash Flow Ratio).
* Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng:
Nghiên cứu định lượng được sử dụng là phương pháp hồi quy
tuyến tính bội đa biến giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được
chọn theo ước lượng phương sai bình phương nhỏ nhất. Các mô hình
hồi quy OLS, mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effect Model),
mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effect Model). Sử dụng
Vahid, Mohsen và Mohammadreza (2012) [26] đã điều tra tác
động của chính sách quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của
các doanh nghiệp và giá trị của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tehran. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng và chính
sách quản lý vốn hoạt động thụ động. Kết quả của nghiên cứu thấy
4
rằng áp dụng một chính sách quản lý vốn lưu động theo chiều hướng
thụ động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và giá trị của công ty.
Bhunia và Das (2012) [39] đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra
mối quan hệ giữa cơ cấu nguồn vốn và khả năng sinh lời của các
công ty tư nhân Ấn Độ. Các biến độc lập được sử dụng trong nghiên
cứu này là tỷ lệ thanh toán hiện hành, tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ
tiền mặt, tỷ lệ nợ /vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ doanh thu hàng
tồn kho, chu kỳ vốn lưu động. Lợi tức trên vốn ROE đã được sử
dụng làm thước đo cho lợi nhuận. Sử dụng phân tích nhiều hồi quy,
nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ yếu giữa tất cả các cấu trúc
quản lý vốn lưu động và lợi nhuận.
Nhóm tác giả Ogundipe S.E, Idowu và Ogundipe L.O (2012)
[38] đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra tác động quản lý vốn lưu
động đối với hiệu quả hoạt động và giá trị thị trường của các công ty.
Các nghiên cứu đã sử dụng Tobin’ Q, ROA, EBIT và ROI như là các
biến phụ thuộc, các biến độc lập là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt; Tỉ lệ
thanh toán hiện tại; tài sản ngắn hạn/tổng tài sản; nợ ngắn hạn/ tổng
tài sản; và tỷ lệ nợ / tài sản. Kết quả nghiên cứu xác định rằng có mối
quan hệ tiêu cực đáng kể tồn tại giữa chu kỳ chuyển đổi tiền tệ và
định giá thị trường và kết quả hoạt động của một công ty.
Ehiedu (2014) [40] đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của
thanh khoản đến khả năng sinh lời của một số Công ty được lựa chọn
chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) giai đoạn năm 2011-2013. Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra rằng hiệu quả tài chính (ROA) của các công ty bị ảnh hưởng đáng
kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy
mô công ty, khả năng thanh toán hiện hành và chu kỳ sản xuất kinh
doanh của công ty. Nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng thanh toán hiện
6
hành và chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty tác tiêu cực (-) đến
hiệu quả tài chính qua ROA và ROE.
Nghiên cứu của Trần Tiến Dũng (2017) [8] về một số nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bất động sản,
với biến phụ thuộc là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến CR: Tỷ số thanh toán ngắn hạn tác
động ngược chiều (-) đến hiệu quả kinh doanh và có ý nghĩa thống
kê ở mức 5%.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ
TÍNH THANH KHOẢN
Hiệu quả hoạt động của các công ty luôn là chủ đề đã thu hút rất
nhiều sự quan tâm từ các chuyên gia tài chính, các nhà nghiên cứu,
các cổ đông đến các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.1.1. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith
(1723-1790) [10], cho rằng: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt
khả năng sinh lời chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có năng lực
hoạt động tốt, thể hiện thông qua việc quản lý và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để đánh giá được
đầy đủ hiệu quả kinh doanh theo đó sẽ bao gồm phân tích 2 nội dung
là phân tích hiệu quả hoạt động và phân tích khả năng sinh lời”.
Tác giả Đoàn Thục Quyên (2015) [6] cho rằng: “Hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ
giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc
nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh được
xác định bằng các chỉ tiêu kinh tế đặc trưng, phản ánh mối quan hệ
tỷ lệ so sánh giữa chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh đạt được với
các chỉ tiêu phản ánh chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng vào sản xuất
kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”.
Như vậy có nhiều quan điểm về phạm trù hiệu quả hoạt động và
cách thức xác định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả
đồng thuận với cách tiếp cận của các tác giả Nguyễn Văn Tạo [2],
Trần Thị Thu Phong [5], Đoàn Thục Quyên [6].
Trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp được hiểu là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan
9
hệ giữa hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được là cao nhất
với chi phí và các nguồn lực bỏ ra nhỏ nhất để đạt được kết quả kinh
doanh mang lại hiệu quả đó, đã tính đến các rủi ro liên quan trong
tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
1.1.2. Đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường được đo lường
bằng các thông số chỉ tiêu tài chính sau:
a. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu ROS (Return on
nghiệp cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, giữa các doanh
nghiệp ở các ngành nghề khác nhau. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ/ Vốn chủ sở
hữu bình quân trong kỳ.
d. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản ROA (Return on
Assets)
Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản
(ROA). Nó phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản
(ROA) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ/ Tổng tài sản bình quân.
Chỉ số ROA có tính đến tổng số lượng tài sản được sử dụng để
tài trợ các hoạt động kinh doanh. Chỉ số này xác định công ty có thể
tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng như thế nào trên tổng tài sản bình
quân.
Qua các tỷ suất lợi nhuận được liệt kê trên, tác giả chọn chỉ tiêu
ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho
phạm vi nghiên cứu này.
1.1.3. Thanh khoản và đo lƣờng tính thanh khoản của doanh
nghiệp
Theo Begg, Fisher và Rudiger (1991) [9] tính thanh khoản đề
cập đến tốc độ và sự chắc chắn mà một tài sản có thể được chuyển
11
đổi trở lại thành tiền bất cứ khi nào chủ sở hữu tài sản muốn. Tiền
mặt là tài sản thanh khoản nhất. Công ty có tính thanh khoản cao là
công ty lưu giữ đủ tài sản và tiền mặt thanh khoản cùng với khả năng
huy động vốn nhanh từ các nguồn khác để đáp ứng được nghĩa vụ
thanh toán và cam kết tài chính một cách kịp thời.
Theo Kesimli & Gunay (2011) [20] Thanh khoản là khoản đầu
OCFR là tỷ lệ giữa lượng tiền được tạo ra từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và nợ ngắn hạn. Đây là chỉ số có thể đo
lường các khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp trong
ngắn hạn. Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR = (EBIT +
Khấu hao - Thuế)/ Nợ ngắn hạn. Trong đó: EBIT = Lợi nhuận trước
thuế và lãi vay.
1.2. TỔNG QUÁT MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN
1.2.1 Lý thuyết vay thƣơng mại
Lý thuyết này được phát triển bởi Adam Smith [10] ở Anh trong
thế kỷ 18 (1723 - 1790). Adam Smith đã trình bày lịch sử ra đời của
tiền tệ thông qua sự phát triển của lịch sử trao đổi, từ súc vật làm
ngang giá đến kim loại vàng, ông đã nhìn thấy sự phát triển của các
hình thái giá trị. Ông đã chỉ ra bản chất của tiền là hàng hoá đặc biệt
có chức năng đặc biệt là chức năng phương tiện lưu thông. Theo lý
thuyết này, một ngân hàng thương mại nên cung cấp các khoản vay
ngắn hạn để đáp ứng yêu cầu về vốn và hạn chế cho vay dài hạn.
Tuy nhiên, đã có một số chỉ trích như: Lý thuyết cho vay thương
mại chưa phản ánh đầy đủ ngân hàng có thể đảm bảo tính thanh
khoản của tài sản thế chấp có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt
mà không bị mất mát.
1.2.2 Lý thuyết thanh khoản
Lý thuyết này bắt nguồn từ Morton (1939) [28] "Liquidity
13
and Solvency". Theo lý thuyết này, thanh khoản không phải là vấn đề
mà sự chuyển đổi tài sản không có thiệt hại vật chất mới là vấn đề.
Morton khẳng định, "để đạt được mức dự trữ tối thiểu, không phải
dựa vào hóa đơn thu nợ duy trì số lượng tài sản có thể chuyển sang
các ngân hàng khác khi cần thiết. Nó phải có thuộc tính có thể
2.3. CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐO
LƢỜNG
2.3.1. Biến phụ thuộc-Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Biến phụ thuộc của mô hình là hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp, thông qua hai chỉ tiêu tài chính là tỷ suất sinh lời trên tổng
tài sản ROA và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ ROE.
2.3.2. Các biến đôc lập - thanh khoản của doanh nghiệp.
Biến độc lập của mô hình là thanh khoản của doanh nghiệp,
thông qua 3 chỉ tiêu là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, tỷ lệ thanh toán hiện
hành và tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán (OCFR).
Bảng 2.2. Tóm tắt các biến nghiên cứu và cách đo lường
Tên biến
Cách đo lƣờng
Kỳ vọng
Biến phụ thuộc
1
ROA
2
ROE
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
16
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định lượng được sử dụng với phương pháp hồi quy
tuyến tính bội đa biến. Biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động và các
biến độc lập là tính thanh khoản của doanh nghiệp. Sử dụng phần
mềm Eviews để tiến hành phân tích định lượng. Dữ liệu dạng bảng
(panel data) được thiết lập để áp dụng.
Các mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng giá trị phương
sai bình phương nhỏ nhất OLS, mô hình tác động cố định FEM
(Fixed Effect Model), mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random
Effect Model).
Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy: Kiểm định sự bằng nhau
của các tác động cố định để lựa chọn giữa 2 mô hình hoặc OLS hoặc
FEM; Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa 2 mô hình FEM và
REM. Nếu mô hình tác động ngẫu nhiên REM được lựa chọn, tiếp
tục kiểm định F_Test để lựa chọn mô hình tác động ngẫu nhiên REM
hoặc OLS thông thường.
Sau khi chọn được mô hình hồi quy phù hợp, tiếp tục kiểm tra
khuyết tật của mô hình, như kiểm tra đa cộng tuyến thông qua nhân
tử phóng đại VIF, kiểm định tư tương quan theo phương pháp
Breusch–Godfrey, kiểm định phương sai sai số thay đổi theo phương
pháp White, khắc phục khuyết tật mô hình (nếu có), cuối cùng hồi
quy tuyến tính đa biến theo phương pháp ước lượng bình phương
tổng quát khả thi FGLS và diễn dải kết quả nghiên cứu.
2.5. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Dữ liệu dùng nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, bao gồm báo cáo tài
chính năm (đã kiểm toán) của 228 Công ty niêm yết tại Hose, thời
gian 5 năm liền kề từ 01/2013 đến 12/2017, như vậy mẫu có 228x5 =
10.8100
0.1871
1.5951
0.1609
Mean
Kết quả nghiên cứu xác lập ảnh hưởng của thanh khoản (CASH,
CR, OCFR) đến hiệu quả hoạt động (ROA, ROE) được tóm lược tại
bảng 3.19
Bảng 3.19. Kết quả hồi quy ROA, ROE theo mô hình FGLS
Variable
FGLS - ROA
Coefficient
Prob.
FGLS – ROE
Coefficient
Prob.
C
4.5051
8.79070
0.0000
R-squared
0.9589
0.9259
0.9485
0.9072
92.1910
49.3902
0.0000
0.0000
CR
Adjusted
R-squared
F-statistic
Prob(F-statistic)
đáng kể đến ROE; tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR có tác
động rất mạnh, thuận chiều với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
chủ sở hữu ROE với ý nghĩa: nếu CASH và CR không đổi thì khi
OCFR thay đổi 1 đơn vị sẽ làm cho ROE thay đổi 8.7907 đơn vị.
19
3.4. SO SÁNH KẾT QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC
+ Đối với chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH)
Tính thanh khoản với chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH) có
tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động theo chỉ tiêu ROA với
mức độ rất yếu và tác động ngược chiều đến chỉ tiêu ROE với mức
độ là không đáng kể. Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt không có ý nghĩa thống
kê đối với ROA và ROE. Kết quả này giống với kết quả nghiên cứu
của tác giả Bhunia và Das (2012) cùng chỉ tiêu nghiên cứu ROA,
ROE được thực hiện tại Ấn Độ.
+ Đối với chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR)
Tỷ lệ thanh toán hiện hành có tác động tiêu cực đáng kể đến cả 2
chỉ tiêu ROA và ROE, mức độ tác động tiêu cực đến ROE mạnh hơn
đối với ROA; Kết quả nghiên cứu này giống với kết quả nghiên cứu
của các tác giả Ogundipe, Idowu và Ogundipe (2012); tác giả Chu
Thị Thu Thủy và cộng sự (2015); tác giả Trần Tiến Dũng (2017).
Tuy nhiên kết quả cũng cho thấy ngược với nghiên cứu của Ehiedu
(2014) được thực hiện ở Nigeria;
+ Đối với chỉ tiêu khả năng dòng tiền thanh toán (OCFR)
Tính thanh khoản theo chỉ tiêu khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR) được đưa vào nghiên cứu là điểm khác biệt của nghiên cứu
này. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có rất ít nghiên cứu
được thực hiện về tác động của nhân tố này đến ROA và ROE. Kết
quả nghiên cứu đã phát hiện về tác động tích cực mạnh mẽ, tuyến
Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng tiền mà các doanh nghiệp tạo
ra so với nợ ngắn hạn mới đạt từ 16,1% - 42,7%. Các doanh nghiệp
cần có giải pháp để nâng cao chỉ tiêu này.
21
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH
4.2.1 Đối với các doanh nghiệp.
Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt CASH dao động quanh mức 19%-50% nợ
ngắn hạn và chỉ số này không nên duy trì ở mức quá cao;
Tỷ lệ thanh toán hiện hành CR nên duy trì dao động từ 1,6 - 2,6
lần, không nên duy trì CR ở mức cao. Cần quản lý các khoản phải
thu và hàng tồn kho ở mức hợp lý, tránh việc bán nợ quá nhiều
hoặc/và hàng tồn kho quá lớn. Bên cạnh đó việc duy trì nợ ngắn hạn
ở một mức hợp lý, đặc biệt nên duy trì nợ ngắn hạn với chi phí sử
dụng nợ thấp hoặc/và duy trì nợ chiếm dụng và thời gian thanh toán
nợ chiếm dụng ở mức cao.
Doanh nghiệp nên đặc biệt quan tâm, nhân tố khả năng dòng tiền
thanh toán OCFR. Các doanh nghiệp cần có giải pháp để nâng cao
chỉ tiêu này, càng cao càng tốt. Giảm tối đa chi phí lãi vay, nâng cao
lợi nhuận trước thuế. Tranh thủ quy định của pháp luật hiện hành để
áp dụng mức khấu hao tài sản cố định ở mức tối đa và giảm các
khoản thuế, nên tận dụng tối đa nếu có ưu đãi thuế của Nhà nước.
4.2.2 Đối với ngân hàng
Các ngân hàng nên ưu tiên cấp vốn vay cho các doanh nghiệp có
tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán luôn cao hơn 42,68% và đạt hiệu
quả kinh doanh ROA cao hơn 5,89%, ROE cao hơn 10,7%.
4.2.3. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nƣớc
Các cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra những biện pháp, cơ
chế, chính sách phù hợp hổ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của các
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là phạm trù kinh tế
phản ánh mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp
thu được là cao nhất với chi phí nguồn lực bỏ ra nhỏ nhất để đạt
được kết quả kinh doanh mang lại hiệu quả đó, đã tính đến các rủi ro
liên quan trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp;
23
Thứ hai: luận văn đã tìm hiểu, hệ thống các lý thuyết cơ bản về
tính thanh khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, một số lý
thuyêt cơ bản cổ điển về tính thanh khoản như lý thuyết vay thương
mại, lý thuyết thanh khoản, lý thuyết trách nhiệm nhà quản trị;
Thứ ba: trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực
hiện trước đây về mối quan hệ của các nhân tố liên quan đến tính
thanh khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đề tài đã đúc
rút lựa chọn và xây dựng mô hình hồi quy cho nghiên cứu này với
các biến được chọn có tính lý luận và thực tiễn cao.
Thứ tư: Phương pháp nghiên cứu định lượng được ứng dụng với
mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội đa biến. Biến phụ thuộc là
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua 2 chỉ tiêu tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
(ROE); biến độc lập của mô hình là tính thanh khoản của doanh
nghiệp thông qua 3 chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH), tỷ lệ
thanh toán hiện hành (CR), tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR). Phương pháp hồi quy tuyến tính bội đa biến với 3 mô hình
ước lượng ban đầu theo giá trị phương sai bình phương nhỏ nhất
OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu
nhiên REM. Mẫu nghiên cứu với 228 Công ty niêm yết tại Hose 5
năm liền kề từ 2013 đến 2017, dữ liệu dạng bảng có tổng cộng 1.140
quan sát. Sử dụng phần mềm Eviews để đánh giá dữ liệu nghiên cứu,