DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMS Tổng khối lượng hỗ trợ gộp
AoA Hiệp định Nông nghiệp
CAP Chính sách Nông nghiệp chung
Cairns Nhóm các nước xuất khẩu nông sản
DN Doanh nghiệp
EU Liên minh Châu Âu
EurepGAP Tiêu chuẩn về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt của
Châu Âu
GAP Tiêu chuẩn về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
HS Danh mục hài hòa hàng hóa
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
VN Việt Nam
WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1 : Tỷ lệ cắt giảm Tổng hỗ trợ gộp 12
Bảng 2 : Tỷ lệ cắt giảm Tổng hỗ trợ bóp méo thương mại 13
Bảng 3 : Những mặt hàng nông sản xuất – nhập khẩu chủ
yếu của Việt Nam
22
Bảng 4 : Cam kết cắt giảm thuế đối với một số sản phẩm
nông nghiệp của Việt Nam
32
LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là một ngành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố thiên nhiên như
đất đai điều kiện khí hậu, môi trường … Đây cũng là lĩnh vực bị bóp méo thương
mại nhiều nhất trong thương mại toàn cầu. Do đó, ngày nay, xu thế bảo hộ và trợ
sâu rộng. Hiệp định cũng nhằm nâng cao khả năng dự đoán trước các thay đổi và
đảm bảo an ninh lương thực cho các nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu. Mục
tiêu trên xuất phát từ việc Nông sản là mặt hàng “nhạy cảm” trong thương mại do
thương mại Nông sản đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận đông đảo dân cư
vốn có thu nhập thấp ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Mỗi nước
đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong hoàn cảnh thế giới
thường xuyên có biến động về thu hoạch và các nguy cơ nạn đói rình rập.
Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trên, Hiệp định có đề cập đến 2 công
cụ chủ yếu nhằm cho phép các quốc gia hạn chế thỏa thuận mở cửa thị trường và
cắt giảm các hình thức trợ cấp cho hàng Nông sản mà các nước là thành viên
WTO đã ký kết, bao gồm:
- Các biện pháp tại cửa khẩu để kiểm soát nhập khẩu nông sản.
- Trợ cấp nông nghiệp (trợ cấp xuất khẩu và các loại trợ cấp trong nước đối
với nông nghiệp nhằm ổn định thu nhập và đời sống của người làm nông nghiệp).
Ngoài ra, khi nhắc đến mở cửa thị trường nông sản tức là việc giảm bớt các
“rào cản” về vật chất và thủ tục để hàng hóa nước ngoài có thể tiếp cận thị trường
nước nhập khẩu một cách thuận lợi. Theo Hiệp định Nông nghiệp, việc mở cửa thị
2
trường nông sản đồng nghĩa với việc: Giảm thuế nhập khẩu (và không được tăng
trở lại), giảm và loại bỏ các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu
(như hạn ngạch, quy định giá nhập khẩu tối thiểu, các loại thuế-phí liên quan đến
việc nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các biện pháp mang tính hạn chế khác,…)
Hiệp định cho phép các chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế nông thôn,
nhưng nên thông qua các chính sách ít làm biến dạng thương mại. Hiệp định còn
cho phép có sự linh động trong việc thực thi các cam kết của Hiệp định. Các nước
đang phát triển không cần phải giảm bớt trợ cấp hay cắt giảm thuế quan nhiều như
các nước phát triển. Họ cũng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để thực hiện các
cam kết của mình. Các nước kém phát triển hoàn toàn không phải thực hiện những
cam kết giống như của các nước phát triển và đang phát triển. Hiệp định cũng có
những điều khoản đặc biệt giải quyết mối quan tâm của các nước phải nhập khẩu
Phụ lục 3: Hỗ trợ trong nước: cách tình lượng hỗ trợ tính gộp
Phụ lục 4: Hỗ trợ trong nước: tính toán lượng hỗ trợ tương đương
Phụ lục 5: Đối xử đặc biệt theo khoản 2, điều 4
2.2. Nội dung chính
Các quy định và cam kết trong Hiệp định Nông nghiệp được xây dựng xoay
quanh ba nhóm vấn đề chính được gọi là ba trụ cột (pillars). Đó là:
- Tiếp cận thị trường : giảm bớt các rào cản thương mại đối với hàn
nông sản nhập khẩu
- Trợ cấp nội địa : đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ cấp cho
sản xuất trong nước cũng như các chương trình tương tự khác, bao
gồm cả các chương trình kích thích tăng giá nông sản do các trang
trại bán ra hoặc các chương trình đảm bảo thu nhập cho người nông
dân.
4
- Trợ cấp xuất khẩu : đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ
cấp đối với hàng nông sản xuất khẩu hay những biện pháp tương tự
khác khiến cho hàng nông sản xuất khẩu có tính cạnh tranh giả tạo
trên thị trường quốc tế.
II. Hiệp định Nông nghiệp về trợ cấp nông sản
1. Đối tượng trợ cấp của Hiệp định Nông nghiệp
Trong WTO, hàng hoá được chia làm hai (02) nhóm chính: nông sản và phi
nông sản. Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản
phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm
thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số
thuế).
Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng
hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động
vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;
- Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;
đang phát triển, và là lực lượng đáng kể tác động đến sự ổn định chính trị,
xã hội của từng quốc gia.
Thứ tư: Các nước muốn thông qua nông nghiệp để bảo vệ những giá
trị không đếm được, ví dụ như: bảo vệ môi trường, bảo tồn cộng đồng và
cảnh quan nông thôn.
Do vậy, hầu hết các nước dều có khuynh hướng bảo hộ nền sản xuất nông
nghiệp của nước mình bằng cách dựng các hàng rào thuế quan thật cao, đề ra
những tiêu chuẩn khắt khe, đồng thời tăng cường trợ cấp cho nông dân trong
6
nước. Vì lẽ đó mà nông sản trở thành loại hàng hóa gặp nhiều trở ngại trong nhất
trong thương mại quốc tế và là chủ đề của những cuộc tranh cãi quyết liệt tại các
diễn đàn thương mại.
Hiệp định AoA ra đời để cải cách thương mại nông sản và làm cho các
chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường hơn. Về dài hạn, Hiệp định
nhằm nâng cao khả năng dự báo và an ninh cho các quốc gia nhập khẩu cũng như
xuất khẩu.
3. Các điều khoản về trợ cấp nông sản trong Hiệp định Nông nghiệp
a. Hỗ trợ trong nước
Hỗ trợ trong nước bao gồm các khoản hỗ trợ và trợ cấp chính phủ cho nông
dân. Biện pháp hỗ trợ trong nước bóp méo thương mại do các nước giàu áp dụng
tác động tiêu cực đến lợi ích xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển do
chúng khuyến khích sản xuất quá mức và làm mất giá nông sản trên thị trường thế
giới.
Nhóm trợ cấp trong nước bao gồm:
• Trợ cấp hộp màu xanh lá cây: (trợ cấp được phép) gồm các biện pháp
hỗ trợ không hoặc hầu như không gây bóp méo thương mại nên các
nước được phép duy trì không giới hạn. Đặc điểm của các biện pháp hỗ
trợ thuộc Hộp Xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi trả và không
mang tính chất hỗ trợ giá.
Trợ cấp “Hộp xanh lá cây” bao gồm các biện pháp trợ cấp thuộc một trong
• Là các biện pháp không hoặc rất ít tác động bóp méo thương mại;
• Thông qua chương trình do Chính phủ tài trợ (kể cả các khoản đáng ra
phải thu nhưng được để lại);
8
• Không có tác dụng trợ giá cho người sản xuất.
• Trợ cấp hộp màu xanh da trời: gồm các khoản chi trả trực tiếp từ
ngân sách nhà nước mà gắn với sản xuất và thuộc các chương trình thu
hẹp sản xuất nông nghiệp. Các nước không phải cam kết cắt giảm các
biện pháp này.
Những hình thức trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất trong chương trình hạn
chế sản xuất nông nghiệp cũng được miễn trừ cam kết cắt giảm với các điều kiện:
Những trợ cấp dựa trên diện tích hoặc năng suất cố định.
Trợ cấp tối đa bằng 85% hoặc ít hơn mức sản xuất cơ sở
Trợ cấp trong chăn nuôi dựa trên số đầu con cố định.
Đây là hình thức trợ cấp mà nhiều nước phát triển áp dụng trong chương
trình hạn chế bớt sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó tất cả các nước đang phát
triển đều không có hình thức trợ cấp này. Vì vậy, mặc nhiên, loại trợ cấp này được
xem là dành cho các nước phát triển. Tại vòng đàm phán Doha, các nước cũng
đang yêu cầu phải giảm nhiều và tiến đến loại bỏ hình thức trợ cấp này.
• Trợ cấp hộp màu hổ phách: gồm các biện pháp hỗ trợ bị coi là gây
bóp méo sản xuất và thương mại, vì thế các nước phải cam kết cắt giảm
theo một lộ trình nhất định. Các biện pháp được xếp vào Hộp Hổ phách
có thể là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với sản xuất, tức là tất cả biện pháp hỗ
trợ trong nước mà không nằm trong Hộp Xanh lá cây và Xanh da trời.
Theo qui định của hiệp định nông nghiệp, tổng mức hỗ trợ gộp AMS
cho phép đối với nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sản
phẩm nếu là hỗ trợ cho sản phẩm cụ thể, và là 10% giá trị sản xuất nông
nghiệp cả nước nếu là hỗ trợ không theo sản phẩm cụ thể.
Trên thực tế, hình thức trợ cấp “hộp hổ phách” thông dụng nhất ở các nước là
các chương trình thu mua nông sản của Chính phủ để can thiệp vào thị trường.
• Các biện pháp giảm chí phí khác như trợ cấp giảm chí phí tiếp thị sản
phẩm cho xuất khẩu, biện pháp này có thể bao gồm các chí phí ví dụ
như nâng cấp và quản lý, vận chuyển quốc tế.
• Trợ cấp vận tải trong nước chỉ được trợ cấp cho hàng xuất khẩu, như
các trợ cấp để vận chuyển hàng xuất khẩu tới điểm gửi hàng.
• Các trợ cấp được gắn với sản phẩm thô và chế biến, cụ thể trợ cấp đối
với nông sản như bột mỳ, nguyên liệu để sản xuất bánh quy xuất
khẩu.
Về nguyên tắc, WTO nghiêm cấm các hình thức trợ cấp xuất khẩu. Đối với
các thành viên đang áp dụng trợ cấp xuất khẩu phải kê khai và cam kết cắt giảm cả
về giá trị trợ cấp và khối lượng nông sản được nhận trợ cấp. Các nước phát triển
phải cam kết giảm ít nhất 36% ( riêng New Zeland bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất
khẩu), các nước đang phát triển phải cam kết giảm ít nhất 24%.
III. Tác động của Hiệp định nông nghiệp đối với các quốc gia
1. Tác động của Hiệp định nông nghiệp của WTO (AoA) về trợ cấp nông
sản đối với EU và các nước phát triển khác
Mặc dù hiệp định nông nghiệp của WTO có hiệu lực từ năm 1995 nhưng
11
cho đến giai đoạn 2000-2002 EU và các nước phát triển khác vẫn duy trì mức trợ
cấp nông nghiệp cao.
Người sản xuất nông nghiệp ở các nước thành viên khối OECD nói riêng đã
nhận được vào khoảng 230 tỷ USD trong hai năm 2000-2002, chiếm gần 46% giá
trị sản lượng nông nghiệp tính theo giá thế giới, trong đó 63% số tiền hỗ trợ này
có được nhờ giá nông sản trong nước cao hơn giá thế giới do tác động của việc
bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, số 37% còn lại có được nhờ các khoản trợ cấp trực
tiếp từ ngân sách chính phủ. Trong khối EU, riêng hỗ trợ cho sản xuất thịt bò đã
chiếm tới 84% giá trị sản xuất nông nghiệp toàn khối. Hay như Nhật bản hỗ trợ
cho nông dân trồng lúa với mức tương đương 700% giá trị sản xuất nông nghiệp
của nước này tính theo giá thế giới, khiến cho không nước nào có thể xuất khẩu
gạo vào Nhật bản. Mức hỗ trợ ước tính mà người sản xuất đường ở các nước