MỤC LỤC
I Phần mở đầu ...................................................... 1
1.1 Lý do chọn đề tài ........................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài..................................................................2
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu...........................................................2
1.4 Phương pháp nghiên cứu.............................................................................2
II Phần nội dung ...................................................................
CHƯƠNG 1: Tổng quan về chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân...3
1.1 Khái niệm chung..........................................................................................3
1.2 Mục đích của phương tiện bảo vệ cá nhân...............................................3
1.3 Yêu cầu của phương tiện bảo vệ cá nhân.................................................3
1.4 Điều kiện sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân......................................4
1.5 Phân loại phương tiện bảo vệ cá nhân......................................................4
1.6 Tác dụng của phương tiện bảo vệ cá nhân...............................................5
1.7 Quy định của nhà nước về phương tiện bảo vệ cá nhân..........................5
1.8 Phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết cho ngành thủy sản......................6
CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong
các doanh nghiệp thủy sản............................................................................... 7
2.1 Tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghệp trong ngành thủy sản.......7
2.2 Nguyên nhân không sử dụng tốt phương tiện bảo vệ cá nhân.................9
2.3 Tình hình sử dụng PTBVCN trong ngành thủy sản hiện nay ...............11
2.4 Ảnh hưởng của phương tiện bảo vệ cá nhân đến người lao động.........12
CHƯƠNG 3: Kiến nghị và đề xuất.................................................................14
III Phần kết luận................................................................... 17
Danh mục tài liệu tham khảo ..........................................................................18
I. PHẦN MỞ ĐẦU
mức âm , công nhân phải tiếp xúc với hóa chất. Không riêng gì trong chế
biến thủy sản mà trong nuôi trồng, khai thác và sản xuất loại thuốc HCG
cũng tồn tại yếu tố gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động.
Nhằm tìm hiểu tầm quan trọng của phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao
động ngành thủy sản, tìm hiểu về tác hại khi không mang phương tiện bảo
vệ cá nhân , các chính sách cũng như sự quan tâm của nhà nước đối với việc
trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động ngành thủy sản và
đưa ra các giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế để áp dụng một
cách có hiệu quả các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động ngành
thủy sản em tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực hiện chế độ trang bị
phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động trong ngành thủy sản”.
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, trình độ hiểu biết còn hạn hẹp nên còn
nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để bài
làm của em hoàn thiện hơn . Em xin chân thành cảm ơn cô !
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Nghiên cứu về vấn đề trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao
động làm việc trong ngành thủy sản bao gồm: khai thác, nuôi trồng và chế
biến.
1.3 Đối tượng , khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Lao động trong ngành thủy sản.
Khách thể nghiên cứu: phương tiện bảo vệ cá nhân.
Phạm vi nghiên cứu : +Luật lao động 2012.
+ Khoản 2, khoản 3 Thông tư số: 04/2014/TTBLĐTBXH.
1.4.Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Giáo trình Bảo hộ lao động, Bộ Luật lao
động, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về công tác bảo hộ lao động và
trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.
Phương tiện bảo vệ cá nhân cần đảm bảo 5 yêu cầu:
Yêu cầu về tính chất bảo vệ(cản hoặc làm giảm được đến mức cho phép
tác động xấu của các yếu tố nguy hiểm và độc hại )
Yêu cầu về tính chất vệ sinh (không độc, không gây khó chịu ).
Yêu cầu về tính chất sử dụng (nhẹ nhàng, thuận lợi, bền lâu và dễ bảo
quản )
Yêu cầu về tính thẩm mỹ : phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng .
Yêu cầu về tính kinh tế : giá thành hợp lý, được người tiêu dùng chấp
nhận.
1.4 Điều kiện sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (Theo điều 4 Thông
tư số : 04/2014/TTBLĐTBXH)
Khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện phải tiếp xúc với
một
hoặc một số yếu tố nguy hiểm, độc hại nào đó, chúng ta đều phải sử dụng
phương tiện bảo vệ cá nhân.
Các yếu tố nguy hiểm đó xuất hiện khi:
Tiếp xúc với các yếu tố vật lý (nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, áp suất,
tiếng ồn, rung chuyển…vượt quá giới hạn cho phép).
Tiếp xúc với hóa chất độc hại (ở dạng hơi, khí, dạng chất lỏng hay chất
rắn, bụi có thể xâm nhập qua cơ thể vào đường hô hấp qua da, tiêu hóa…
gây hại cho cơ thể).
Tiếp xúc với các yếu tố sinh vật, vi trùng độc hại, môi trường vệ sinh lao
động xấu(virut, vi khuẩn độc hại, mùi thối hoặc các yếu tố sinh học độc).
Khi người lao động làm việc trên cao, trong hầm lò, trên sông nước…,
hoặc các yếu tố nguy hiểm độc hại khác.
Vậy , dù công việc nào có các yếu tố gây nguy hiểm, độc hại thì người la
động cần được trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ . Tuy nhiên, cần xác định đầy
đủ yếu tố nguy hiểm và độc hại của mỗi loại công việc để cấp phát phương
Áo quần bảo hộ: áo quần chống nhiệt giúp chống tăng thân nhiệt trong lao
động, áo quần chống lạnh giúp giữ ấm cơ thể trong môi trường quá lạnh .
Mặt nạ dưỡng khí: ngăn ngừa nguy hiểm do thiếu oxy.
1.7 Quy định của nhà nước về phương tiện bảo vệ cá nhân.
Thông tư 04/2014/TTBLĐTBXH ngày 12 tháng 02 năm 2014 hướng dẫn thực
hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân ban hành ngày 12/02/2014 và
có hiệu lực ngày 15/04/2014 Hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện
bảo vệ cá nhân.
Căn cứ Điều 149 Bộ luật lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012
Căn cứ Nghị định số 106/2012/NĐCP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục An toàn lao động,
Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư hướng dẫn
thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân .
1.8 Phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết cho ngành thủy sản .
Hiện nay, tại Việt Nam, việc quy định các phương tiện bảo vệ cá nhân trong
các ngành nghề có yếu tố độc hại, nguy hiểm được nhà nước nêu rõ trong Nghị
định 68/2008 NĐ CP ban hành ngày 30 tháng 5 năm 2008, trong đó có ngành
thủy hải sản .
1.8.1 Về nuôi trồng và chăm sóc thủy hải sản .
Lao động quy hoạch và bảo vệ thủy sản cần có các phương tiện bảo vệ cá
nhân: quần áo lao động phổ thông, mũ và nón chống mưa, nắng ,ủng cao su, áo
mưa , quần áo và mũ chống lạnh ( trang bị cho những người làm việc ở những
vùng khí hậu lạnh ).
Lao động thu gom nguyên liệu để sản xuất HCG: đây là loại thuốc dung tiêm
kích thích sinh sản cho cá mè hoa, mè trắng và các loại đặc sản khác như ếch, ba
ba…Đâylà loại thuốc được sản xuất từ nguyên liệu cơ bản là nước tiểu của
trong các doanh nghiệp thủy sản .
2.1 Tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghệp trong ngành thủy sản và
một số ngành khác .
Trong năm 2015 toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động làm 7.785
người bị nạn, trong đó có 629 vụ tai nạn lao động chết người, 666 người chết do
tai nạn lao động, 1.704 người bị thương nặng.
Cục trưởng Cục an toàn vệ sinh lao động cũng cho biết: Qua phân tích cho
thấy, lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và 37,9%
tổng số người chết, tiếp đến là các lĩnh vực cơ khí chế tạo, lĩnh vực khai thác
khoáng sản, lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp. Đặc biệt, phân tích 238 biên
bản điều tra cho thấy ngã từ trên cao chiếm 28,1% tổng số vụ và 26,4% tổng số
người chết; điện giật chiếm 18,9% tổng số vụ và 17,2% tổng số người chết; vật
rơi, đổ sập chiếm 16,8% tổng số vụ và 22,6% tổng số người chết vì tai nạn
thiết bị cán, kẹp, cuốn và vật văng, bắn. Thiệt hại về vật chất do tai nạ lao
động xảy ra năm 2015 tốn 153,97 tỷ đồng tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường
cho gia đình người chết và những người bị thương; 21,96 tỉ đồng do thiệt hại về
tài sản và tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao động là 99.679 ngày.
Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người (phân tích từ
238 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người .
+ Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 52,8% cụ thể :
. Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an
toàn chiếm 25,2% tổng số vụ.
. Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 14,3% tổng số vụ.
. Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao
động chiếm 9,7% tổng số vụ.
. Do tổ chức lao động và điều kiện lao động chiếm 2,6% tổng số vụ.
. Do người sử dụng lao động không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
trong lao động chiếm 1% .
hết tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc
trong môi trường có tính chất độc hại. Không ý thức được việc không mang
phương tiện bảo vệ cá nhân sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của mình.
Trong quá trình làm việc, người lao động cảm thấy khó chịu đối với các
phương
tiện bảo vệ cá nhân. Hầu hết các phương tiện bảo vệ cá nhân trong ngành thủy
hải sản, đặc biệt là trong chế biến, bốc vác và làm việc trong các kho lạnh tại
các xí
nghiệp, phương tiện bảo vệ cá nhân có thể sẽ làm cho các hoạt động của người
lao
động bị hạn chế như: tầm nhìn, xúc giác…hoặc các phương tiện như áo mưa,
quần áo chống lạnh, giày ủng làm cho lao động đánh bắt thấy bất tiện.
Một số phương tiện bảo vệ cá nhân không đảm bảo tính thẩm mỹ, không phù
hợp với sở thích của người lao động.
Khi chưa được cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân, hoặc cấp phát không đủ,
không phù hợp, người lao động không có phản ánh, yêu cầu người sử dụng lao
động xử lý.
2.2.2 Do người sử dụng lao động .
Chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo hộ lao động. Mặc dù Bộ luật Lao
động quy định: ''Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ các
phương tiện bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động...''
nhưng hiện tượng phổ biến trong trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân là trang
bị chưa đủ về chủng loại, chưa đúng với công dụng, không đạt tiêu chuẩn đối
với ngành nghề đang làm, không thay thế kịp thời khi bị hư hỏng. Quần áo bảo
hộ lao động còn mang tính chất đồng phục hơn là tính chất bảo hộ lao động. Nội
dung huấn luyện về công dụng, cách dùng, bảo quản... của phương tiện bảo vệ
cá nhân cho công nhân còn bị người sử dụng lao động xem nhẹ, coi như việc
mua sắm cấp phát cho công nhân là xong trách nhiệm và chính bản thân những
nhẹ công tác an toàn bằng cách trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân. Nuôi trồng
thủy sản theo hình thức hộ gia đình là chủ yếu, người dân hầu như không có
phương tiện bảo vệ cá nhân.
Trong khai thác, đánh bắt và chế biến : Trong lĩnh vực khai thác và đánh bắt
thủy hải sản, việc trang bị phương tiện, bảo vệ cá nhân vẫn chưa được chú
trọng, người lao động ít sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.
Trong ngành thủy hải sản, lĩnh vực đặc biệt được quan tâm nhất là chế biến
thủy hải sản, bởi đây là lĩnh vực chiếm hơn 70% lao động của ngành thủy sản.
Đối
với người lao động ở trong các xí nghiệp chế biến, điều kiện làm việc khắc
nghiệt, dễ gây bệnh nghề nghiệp. Để hạn chế bớt những tác động xấu của môi
trường lạnh, Để hạn chế bớt những tác động xấu của môi trường lạnh, ẩm,
người công nhân cần phải được trang bị quần áo chống lạnh đầy đủ và hữu
hiệu. Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề áo lạnh chưa được cơ sở nào giải quyết
một cách khoa học. Vì vậy, công nhân làm việc trong các nhà lạnh thường dùng
quần áo tùy tiện, hiệu quả chống lạnh còn rất hạn chế , ảnh hưởng không tốt
đến sức khỏe người lao động.
Việc sử dụng chất Chlorie, một hóa chất sát trùng mạnh nhưng trang bị khẩu
trang cho công nhân không đảm bảo. Chỉ với khẩu trang làm bằng vải, găng tay
mỏng,không có tác dụng ngăn ngừa mùi của hóa chất. Bước vào các xí nghiệp
chế biến ,mùi Chlorie đã xông lên đến mũi người công nhân không thể tránh
khỏi các căn bệnh về hô hấp, viêm phế quản….
Ví dụ rõ nhất tại Tỉnh Cần Thơ, trong những năm. gần đây, một số công ty như
VP và PT, tỷ lệ công nhân mắc bệnh viêm xoang chiếm gần 50%, tỷ lệ nhóm do
tiếp xúc Cholorie tại đây cao hơn gấp 2,7 lần so với nhóm không tiếp xúc.
2.4 Ảnh hưởng của phương tiện bảo vệ cá nhân đến người lao động.
Việc người lao động ngành thủy hải sản không sử dụng hoặc sử dụng không
hiệu quả phương tiện bảo vệ cá nhân đã ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, gây ra
giảm được các tai nạn đáng tiếc xảy ra và giảm nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp
.Điều này góp phần cho sự phát triển của đất nước , thu hút được nhiều lao
động hơn làm cho ngành thủy sản phát triển nhanh chóng và giảm được một chi
phí lớn cho ngành bảo hiểm xã hội .
CHƯƠNG 3: Kiến nghị và đề xuất .
3.1 Đối với quản lý nhà nước.
Nhà nước nên có các văn bản xử lý những doanh nghiệp, người sử dụng lao
động đánh bắt và chăm sóc thủy hải sản cũng như người lao động làm việc trong
các doanh nghiệp nếu có bất cứ vi phạm về trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
trong quá trình lao động.
Nhà nước cũng cần xây dựng tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng phương tiện
bảo vệ cá nhân . Yêu cầu các cơ sở sản xuất phải sản xuất theo đúng yêu cầu đã
quy định.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân tại các
doanh nghiệp, có cơ chế quản lý thị trường về hàng giả, hàng nhái không đảm
bảo chất lượng.
Xử phạt nặng đối với những doanh nghiệp không thực hiện đúng việc trang bị
phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động .
3.2 Đối với người sử dụng lao động.
Cần tuyên truyền ý thức tự bảo vệ cho người lao động: tuyên truyền, nâng cao
hơn nữa nhận thức cho người lao động và người sử dụng lao động về tầm quan
trọng của các PTBVCN và việc dùng nó để bảo vệ sức khoẻ, phòng tránh bệnh
nghề nghiệp, để họ tự giác sử dụng chọn đúng chủng loại phương tiện bảo vệ,
sử dụng thường xuyên, đúng mục đích, đảm bảo an toàn, hiệu quả.
Người sử dụng lao động cần hướng dẫn người lao động sử dụng thành thạo
các phương tiện bảo vệ cá nhân. Làm cho người lao động hiểu rằng khi được
trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân thì bắt buộc phải sử dụng theo đúng quy
Trước khi sử dụng, người lao động cần kiểm tra sự an toàn của phương tiện
bảo vệ cá nhân của mình.
Phản hồi với người sử dụng lao động nếu phát hiện phương tiện bảo vệ cá
nhân của mình bị hư hỏng, không đảm bảo chất lượng hoặc không được trang
cấp phù hợp với điều kiện làm việc .
III.PHẦN KẾT LUẬN.
Ngành thủy sản tuy là ngành kinh tế mũi nhọn có mức thu nhập cao nhưng mang
lại nhiều nguy hiểm cho người lao động. Lương cao nhưng do môi trường làm
việc không đảm bảo, vấn đề trang bị phương tiện cá nhân cho người lao động
còn hạn chế gây ra tai nạn lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe trước mắt và lâu
dài, đặc biệt là bệnh nghề nghiệp nên ngành thủy sản đứng trước tình trạng
thiếu lao động trầm trọng.
Vậy để giải quyết được tình trạng này thì nhà nước và người sử dụng lao động
cần có những biện pháp và những chính sách để trang bị phương tiện bảo vệ cá
nhân một cách có hiệu quả cho người lao động nhằm là giảm tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp trong ngành thủy sản .
Vì sự an toàn của chính bảo thân người lao động, của xã hội không chỉ trong
ngành thủy hải sản, mà bất kể ngành nghề nào thì việc trang bị phương tiện
bảo vệ cá nhân cho người lao động là rất cần thiết. Vậy, để đưa ngành phát
triển, thu hút nhiều lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, Nhà nước,
người sử dụng lao động và người lao động đều phải có sự phối hợp chặt chẽ
với nhau trong việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, nâng cao ý thức cho
người lao động. Có thể thấy rằng, việc sử phương tiện bảo vệ cá nhân hiện nay
tại các doanh nghiệp chế biến vẫn chưa có hiệu quả, bệnh nghề nghiệp vẫn
tăng với tỷ lệ đáng kể, đòi hỏi Nhà nước phải có chế tài xử lý việc sử dụng
cũng như đưa ra các chỉ tiêu về chất lượng nhằm đảm bảo việc sản xuất những