Tiểu luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước - Pdf 59

KHOA KINH TẾ ­ QUẢN TRỊ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ 
­­­­­­­­­­­­­­

TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: NGUỒN NHÂN LỰC

Đề tài: 
“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng  
nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH­HĐH đất  
nước”.

­1­


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................
CHƯƠNG

 

1:

 



 

SỞ



nhân  5

lực.................................................................................
1.2. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình 
đẩy

mạnh

 

 

công

nghiệp,

 

 

hóa

hiện

 

đại 

 


 

cấu

 

nguồn

 

lao

 

động

 

nhiều



 

 

những

 

4.1.

22
 

Những

giải

 

­2­

 

pháp  22


chung.................................................................................................
4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu  
đẩy

 

mạnh

 

công


Song con người chỉ trở thành động lực cho sự  phát triển khi và chỉ  khi họ  có điều  
kiện đã sử  dụng sức lao động của họ  để  tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã 
hội. Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện sản xuất là quá trình người lao 
động làm việc hay nói cách khác là khi họ có được việc làm.
Lao động là vốn quý, là yêu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của  
mọi hình thức kinh tế xã hội, chính vì lẽ  đó Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề 
về  dân số, lao động, việc làm vào vị  trí hàng đầu trong các chính sách  kinh tế  xã 
hội. Chính sách đó được thể  hiện trong việc hoạch định các chiến lược phát triển  
­3­


kinh tế xã hội của đất nước, đặt con người và việc làm là vị trí trung tâm lấy lợi ích  
của con ngtười làm điểm xuất phát của mọi chương trình kế hoạch phát triển.
Con người không chỉ  là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể  hiện mức 
độ  chế  ngự  thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ  cho con người, mà còn tạo ra 
những điều kiện để hoàn thiện chính bản thân con người.
Đối với Việt Nam, là một nước đông dân trên thế  giới, có nguồn lao động 
dồi dào nhưng trình độ còn thấp, muốn đáp vứng được yêu cầu của công cuộc công 
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nhất là đáp ứng cho yêu cầu của kế hoạch phát 
triển kinh tế xã hội cần phải có một kế hoạch rõ ràng về đào tạo, huy động, và sử 
dụng lực lượng lao động.
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện tiềm lực  
kinh tế  còn nhỏ  bé, tích luỹ  từ  nội bộ  kinh tế  còn thấp. Ngoài ra tiềm lực con  
người, tài nguyên khoáng sản không nhiều… Do đó để tiếp cận với nền khoa học,  
kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ bão của thế  giới, từng bước rút ngắn và đuổi kịp  
với sự  phát triển của các nước; Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là 
một trong những nhiệm vụ  quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình công nghiệp  
hoá và hiện đại hoá, là nhân tố  cơ  bản cho sự  phát triển nhanh và bền vững. Sự 
khẳng định này là bài học rút ra từ  lịch sử dựng nước và giữ  nước của ông cha ta.  
Nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại đều do chính 

định của bộ luật lao động ).
­ Nguồn nhân lực là tiềm năng của lao động trong thời kỳ  xác định của một  
quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. 
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực được xác định bằng số  lượng và chất lượng của bộ  phận  
dân số  có thể  tham gia vào hoạt động kinh tế  xã hội. Số  lượng nguồn nhân lực  
được thể hiện bằng các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ  phát triển. Chất lượng nguồn 
nhân lực được thể  hiện bằng các chỉ  tiêu về  tình trạng phát triển thể  lực, trình độ 
kiến thức, tay nghề, tác phong nghề  nghiệp, cơ  cấu nguồn nhân lực về  tuổi, giới 
tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố lãnh thổ, khu vực thành thị – nông thôn… các 
phương thức tác động và sự  phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực  
bao gồm : công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, công tác phân bố nguồn nhân lực 
theo vùng, lãnh thổ, các chương trình dinh dưỡng, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ 
cộng đồng, công tác giáo dục đào tạo và dạy nghề...
Nguồn nhân lực gồm hai bộ phận: 
­ Bộ phận hoạt động;
­ Bộ phận chưa hoạt động.

­6­


2.2. Sự  cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam  
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa.
­ Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đẩy mạnh công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
­ Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ  thể  của quá trình đẩy mạnh công  
nghiệp hóa hiện đại hóa.
­ Phát huy nguồn nhân lực con người là vấn đề  chiến lược trong quá trình 
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.



16592,5

15780,5

15320,0

10 ­ 14

8542,5

8853,3

8270,1

8112,5

Dân số trong tuổi lao động

38462,0

44470,2

50656,3

55606,0

60­64

1814,4


61,77

63,76

Tỷ lệ % so với dân số

Nhóm tuổi

2014

2019

2024

0 ­ 9

15424,8

15056,7

14270,9

10 ­ 14

7506,4

7680,6

7632,1

92216,5

96706,2

100491,4

64,25

63,75

62,64

Tỷ lệ % so với dân số

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

     

Như vậy, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2001­2005 , hay cụ thể 
hơn vào năm 2004, dân số nước ta là 82004,5 nghìn người, trong đó dân số ở độ tuổi  
lao động là 50656,3 nghìn người, chiếm 61,77% so với dân số. Đây là một áp lực 
lớn cho xã hội trong việc giải quyết việc làm.
Bước sang năm 2005, theo dự  báo của bảng trên sẽ  có khoảng 8853,3 nghìn 
người bước vào độ  tuổi lao động và đây là con số  đủ  khả  năng cung cấp nhu cầu  
lao động của xã hội.
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy dân số trong độ  tuổi lao động liên tục tăng  
qua các năm. Cụ  thể  , năm 1994 chiếm 53,34% so với dân số, năm 1999 chiếm 
57,91% và năm 2004 sẽ chiếm khoảng 61,77%. Con số này cho chúng ta biết tỷ lệ 
tăng trưởng dân số tuy đã hạ  xuống nhưng vẫn  ở  mức cao, áp lực công việc nặng 
nề, nếu không có những phương pháp giải quyết thích hợp sẽ  dẫn tới tỷ  lệ  thất  

khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Về lề lối, tác phong làm việc, do  ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập  
trung nên còn chậm chạp, thiếu động lực sáng tạo trong lao động.
Về  mặt cơ  cấu lao động của nước ta quả  thật còn rất nhiều nan giải cần  
phải giải quyết  được thể hiện qua thực trạng sau:
Thứ nhất, tuy tỷ lệ biết chữ của nước ta cao so với một số nước nhưng trình 
độ văn hoá vẫn thuộc loại thấp, thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên  tham gia hoạt động kinh tế phân 
theo trình độ văn hoá (%)
­10­


1996
Tổng

1997

Trong đó 
nữ

Chưa biết chữ

Tổng

Trong đó 
nữ

1998
Tổng

27,8

49,7

28,1

49,2

29,4

45,3

Đã tốt nghiệp cấp II

32,1

48,3

32,4

48,1

32,3

48,3

Đã tốt nghiệp cấpIII

13,5




Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH­HĐH song tỷ lệ lao động  
giản đơn còn quá cao (88%), cơ cấu nguồn lao động còn quá lạc hậu so với nhiều  
nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Trong khi lực lượng lao động lành nghề   ở  các nước công nghiệp chiếm tới 
35% trong tổng số lực lượng lao động xã hội thì nước ta chỉ có 5,5%. Lực lượng lao  
động có trình độ chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư, và các nhà khoa học của họ chiếm tới 
30% còn nước ta mới có 6,5%. Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ lao động kỹ  thuật  
(tính đến giữa năm 1999 số này mới có khoảng 14%). Trong một số ngành kinh tế 
quan trọng cần nhiều lao động kỹ  thuật nhưng hiện có rất ít. Chẳng hạn, ngành  
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng1,6%, ngành nông lâm ngư  nghiệp 7% (hiện 
nay lực lượng lao động của ngành này chiếm tới 3/4 tổng lao động xã hội). Vùng  
đồng bằng sông Cửu Long ­ một trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất ­  
nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo chỉ  đạt 3,68%, trong đó công nhân kỹ 
thuật có bằng 0,6%, trung cấp 1,55% và đại học 0,74%. Một số khu chế xuất, khu  
công nghiệp cần tuyển lao động có kỹ  thuật thì lao động của nước ta chỉ  đáp ững 
được rất ít. Ví dụ: Khu chế xuất Linh Trung cần tuyển 7000 công nhân nữ có trình  
độ tay nghề bậc 3/7 trở lên nhưng chỉ đáp ứng được 1500 người. Khu chế xuất Tân 
Thuận cũng ở tình trạng tương tự: cần tuyển 15000 công nhân kỹ  thuật, ta chỉ đáp 
ứng được 3000. Cái thiếu của ta là lao dộng kỹ thuật trong khi lại dư thừa lao động  
phổ thông. Bởi vậy, cơ cấu nguồn lao động không đáp ứng được yêu cầu thị trường 
trong nước, chưa nói đến yêu cầu tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thứ  ba, tình trạng thừa thầy thiếu thợ   ở  mức khá nghiêm trọng. Tức là ngay  
trong lực lượng lao động có trình độ chuyên mộ kỹ thuật đã ít lại còn có cơ cấu bất  
hợp lý. Có thể thấy tình trạng đó ở bảng sau:

Bảng 3: Cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 1979­1999
­12­



21,7

35,2

35,4

36,8

Cao đẳng , đại học

9,7

19,9

23,8

32,9

Nguồn: Thời báo kinh tế, số 13 ngày 31/1/2000
Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu như năm 1979, cơ cấu lực lượng lao động kỹ 
thuật của nước ta là tương đối phù hợp với yêu cầu thực hiện CNH­HĐH đất nước 
(tỷ lệ phổ biến của cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật của các nước đã thành công 
trong CNH­HĐH là 1 đại học, cao đẳng/ 4 trung học chuyên nghiệp/10 công nhân kỹ 
thuật và lúc đó tỷ  lệ tương ứng của ta là 1/2, 2/7, 1). Nhưng sau 10 năm (đến năm 
1989) tỷ  lệ  đó chuyển dịch theo hướng lệch đi (1/1, 8/2 ,2), bộc lộ  rõ tình trạng  
“thừa thầy, thiếu thợ”, đến năm 1997 là 1/1,5/1,7 và đến năm 1999 tỷ  lệ  này càng  
chệch hướng thêm nữa (1/1,2/0,92), nó gần như  “lộn ngược” với các nước khác. 
Cũng từ biểu trên ta thấy số lao động có trình độ đại học, cao đẳng trở  lên từ  năm  
1979 đến năm 1989 tăng rất nhanh (3,4 lần), trong thời gian đó số  công nhân kỹ 

diện tích gieo trồng tính bình quân năm 1997 giảm đi. Vì vậy, cần phải tăng mạnh 
năng suất lao động trong nông nghiệp để cải thiện tình hình.
Thứ năm, thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ. Hiện nay, 
tỷ trọng lao động ở hai vùng đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long 
cao nhất nước (20,5% và 21,7% tổng lực lượng lao động xã hội). Trong khi đó vùng  
Tây Nguyên rộng lớn, lực lượng lao động chỉ  có 4%, vùng duyên hải Miền Trung  
10,4% và Đông Nam Bộ 12,7%. Sự mất cân đối này không chỉ gây nên khó khăn cho  
vấn đề công ăn việc làm mà còn ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội cũng 
như an ninh quốc phòng của quốc gia.
Thứ sáu, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra rất chậm theo ngành kinh tế. 
Vai trò của khu vực kinh tế  ngoài quốc doanh thực ra không dừng lại  ở  chỗ  nó 
chiếm bao nhiêu phần trăm trong GDP mà ở chỗ nó thu hút đến trên 80% lực lượng 
lao động xã hội (bảng 4 và 5):
­14­


Bảng4: Thay đổi lao động trong khu vực nhà nước 1990­1995
1990

1991

Tổng số lao động (nghìn)

30286

30994 31815,2 32718 33663,9 34589,6

Khu vực nhà nước

3415,7

1993

1994

2975,2 2960,4 2928,3

1995

3053,1

Nguồn: Niên giám thống kê

Bảng 5: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Đơn vị: %
1994

1995

1996

1997

(1)

(2)

(1)

(2)


1,24

69,74

1,21

69,22

1,04

68,78

1,01

Nông nghiệp và Lâm nghiệp

69,99

1,23

68,00

1,20

67,48

1,03

67,07



22,93

12,93

23,37

12,52 24,73

CN khai thác

0,34

73,33

0,60

49,08

0,59

46,48

0,57

52,6

CN chế biến

9,26


38,56

Xây dựng

2,89

27,25

2,88

29,78

2,72

30,18

2,64

34,65

Khu vực III

15,39

31,62

17,02

29,07


17,77

1,46

6,83

1,54

7,27

1,40

7,19

Vận tải, kho bãi, thông tin

1,65

34,43

2,26

24,96

2,39

24,49

2,31


0,11

81,63

0,11

79,63

Kinh doanh tài sản và tư vấn

0,16

56,72

0,16

51,72

0,21

44,21

0,21

44,13

QLNN, ANQP, BHXH

0,59


77,75

Y tế và cứu trợ xã hội

1,04

44,25

0,81

58,52

0,82

57,24

0,80

58,51

Hoạt động VHTT

0,31

28,27

0,27

33,83


4,00

1,65

2,71

1,66

2,78

1,61

3,68

Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê
(1): Tổng số lao động: Triệu người, cơ cấu lao động là % trong tổng số.

­16­


(2): Tỷ  lệ  lao động trong khu vực nhà nước trong tổng số  lao động của mỗi 
ngành kinh tế. 
Bảng 4 cho ta thấy lao động trong khu vực nhà nước chỉ chiếm 10% trong tổng  
số lao động đang làm việc. Năm 1990, tỷ trọng đó là 11,3%, năm 1994 còn 10,1% và  
năm 1995 còn 8,8% và duy trì ở mức đó cho đến nay (nhưng trong tương lai sẽ còn 
giảm). Theo số liệu thống kê thì từ  năm 1991 đến năm 1994, khu vực nhà nước đã  
đưa ra gần nửa triệu lao động và chính khu vực ngoài quốc doanh đã tiếp nhận  
phần lớn số lao động này.
Ta hãy xét bảng 5 ở trên để thấy được cơ cấu lao động và quá trình phân bổ 

1997

1995

1996

1997

Chung trong nền kinh tế

5,65

5,97

6,25

1,68

1,89

2,14

Kinh tế nhà nước

25,67

27,79

29,27



Dạy nghề

147 (1979/1980) 171 (1984/1985)

nhất
­18­

Đầu tư
Tỷ đồng

% GDP


1986

126,6

119,7

1987

123,3

102,0

1988

115,8


57,6

1495

1,4

1993

97,8

68,7

2321

1,7

1994

108,1

74,7

3414

2,0

1995

116,4


(mức chi phí này ở các nước khác là 25%). Hơn nữa, phần chi cho giáo dục từ ngân 
sách nhà nước chiếm phần lớn trong chi phí cho đào tạo nghề. Sự  suy giảm các  
chương trình đào tạo nghề  dài hạn thể  hiện rất khác nhau tong từng loại hình và 
chuyên ngành đào tạo. Nhìn chung, năm 1992­1993 là năm có số  học sinh đi học 
thấp nhất. Sự suy giảm mạnh nhất diễn ra ở các nhóm ngành nông­lâm­thuỷ sản và 
sư phạm đối với loại hình trung học chuyên nghiệp; và ở nhóm ngành xây dựng, cơ 
khí đối với loại hình đào tạo nghề. Đối chiếu thực trạng này với tình hình mở 
rộngviệc làm trong nửa đầu thập niên 90 cho thấy, đào tạo nghề  dài hạn đã suy 
­19­


giảm trong khi cơ hội việc làm gia tăng, số học sinh giảm mạnh nhất trong chuyên 
ngành dịch vụ, nơi có tốc độ gia tăng việc làm nhanh nhất. Thực tế này đang đặt ra 
nhiều vấn đề  nổi cộm đối với hệ  thống đào tạo nghề. Theo Bộ  Giáo dục và Đào  
tạo, có nhiều nguyên nhân, song chủ  yếu do sự thích  ứng chậm của hệ thống đào  
tạo nghề đối với nền kinh tế  nhiều thành phần, cả  về  chất lượng đào tạo lẫn cơ 
cấu ngành đào tạo; sự  nghèo nàn của đội ngũ giáo viên và trang thiết bị  cũng làm 
suy giảm đáng kể  năng lực của các trường nghề. Phần lớn các trường nghè hiện 
nay chỉ  đáp  ứng được dưới 50% như  cầu về  hạ  tầng “trường sở”, trang thiết bị,  
phòng thí nghiệm, sách giáo khoa, xưởng thực hành.
Thứ hai, do quy mô đào tạo ở các trường trung học, dạy nghề quá nhỏ, trên  
50% các trường có quy mô đào tạo dưới 500 học sinh/năm. Quy mô nhỏ  là lý do  
chính làm cho chi phí đào tạo trên một đơn vị  đào tạo cao. Trước sức ép của nhu 
cầu đào tạo thực tế, nhiều trường rơi vào tình trạng quá tải.
Thứ ba, từ lâu nay, chúng ta hầu như đào tạo rất ít cho đào tạo nghề. Từ năm 
1995 đến năm 1995, tỷ  trọng đầu tư  cho giáo dục đào tạo từ  ngân sách Nhà nước  
tăng từ  11% lên 13% (từ  mức 1094 tỷ đồng lên 1600 tỷ  đồng ) nhưng số  tiền này  
chủ  yếu được rót vào cho hệ  đại học, cao đẳng, phổ  thông, còn các trường dạy 
nghề không được CHLB Đức và Hàn Quốc trang bị cho một số thiết bị hiện đại. Đã  
thế, đầu tư cho đào tạo nghề lại rất phân tán và không đúng hướng. Do nhiều năm 

học ngành nghề hiện nay đang thấp hơn nhiều so với các bộ môn cơ bản. Như vậy, 
điểm yếu vẫn đang tập trung ở các trường kỹ thuật ngành nghề.
Thứ  sáu,  nhu cầu đào tạo nghề  phần lớn còn mang tính tự  phát, thiếu qui 
hoạch đồng bộ với nhu cầu của nền kinh tế. Các chỉ tiêu đào tạo của bộ chủ quản  
còn quá lệ thuộc vào kinh phí, chưa theo nhu cầu thực tế của nền kinh tế, có nơi, có  
lúc còn mang nặng tư tư tưởng “xin ­ cho”, cấp phát đơn thuần. Do áp lực từ  phía  
người lao động mà gần đây ĐTN ngắn hạn nổi lên như  một hình thức mới để  bù 
đắp cho sự suy giảm ĐTN dài hạn và sự thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ  thuật. 
Số học sinh theo học các khoá ngắn hạn tăng 8 lần trong 10 năm từ  1986­1996. Sự 
thu hẹp các khoá đào tạo nghề dài hạn còn chứa đựng xu thế “sao nhãng” các nghề 
­21­


đòi hỏi đào tạo công phu, chi phí đào tạo cao. Qua khảo sát 421.500 người được đào  
tạo nghề gần đây, chỉ có 0,5 % thuộc ngành cơ khí, 2,4% thuộc ngành điện.
Thêm vào đó sự phân bố các trung tâm đào tạo nghề rất không đồng đều theo 
địa lý cũng như theo nhu cầu sử dụng. Phần lớn các trung tâm tập trung ở thành thị,  
trong khi lại rất vắng bóng  ở  các vùng nông nghiệp, nông thôn, nơi đang cần có 
những người nông dân được đào tạo bài bản để  hội nhập nền nông nghiệp nước  
nhà với thế giới. Hơn nữa, không có sự bổ sung kịp thời những lao động có đào tạo 
cho nông nghiệp thì quá trình CNH­HĐH nông nghiệp, nông thôn khó mà đạt kết 
quả như mong muốn.
Tính tự  phát và thiếu qui hoạch đồng bộ  một thời gian dài đã gây ra tình 
trạng mất cân đối nghiêm trọng về nguồn lực, trong khi kinh nghiệm của các nước 
trên thế giới là duy trì cơ cấu bậc học “tháp hình chuông” thì ở nước ta, số học sinh 
vào đại học thường vượt quá nhiều lần so với học sinh các trường nghề.
Thứ bảy, có cả lý do từ tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Tỷ lệ thất 
nghiệp  ở   khu  vực  thành  thị   tuy  đã  giảm  từ  12%  năm1989  xuống 6% năm1996, 
nhưng lại tăng lên 8­10% năm 1998 và 1999. Tại nông thôn, tỷ lệ thiếu việc làm là 
từ 25% đến 35% và nhóm bất lợi là độ tuổi từ 15­24. Có một nghịch lý là trong khi  

CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN 
NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC
3.1. Những giải pháp chung
­ Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới sâu rộng hơn, huy động sức mạnh  
tổng hợp của mọi thành phần kinh tế, tranh thủ  mọi nguồn vốn đầu tư  cho các 
ngành kinh tế mũi nhọn. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá trong 
đó  ưu tiên cho công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá nông thôn và vùng kinh tế  biển làm 
cho kinh tế của tỉnh phát triển nhanh, vững chắc.
­ Chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người dân như: 
chăm sóc bảo vệ  sức khoẻ  nhân dân, chăm sóc sức khoẻ  sinh sản và dịch vụ  kế 
hoạch hoá gia đình, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… tạo 
­23­


điều kiện cho người dân nói chung và nguồn nhân lực, lực lượng lao động của tỉnh 
khoẻ về thể chất, có trình độ chuyên môn kỹ thuật có nhiều công việc tự tạo được  
việc làm và tìm được việc làm trong nước và xuất khẩu lao động.
­ Phát triển nguồn nhân lực về số và chất lượng phải gắn với việc sử dụng  
nguồn nhân lực để  phát huy hiệu quả, phát triển nguồn nhân lực để  phục vụ  cho  
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá của tỉnh 
và phục vụ cho chương trình xuất khẩu lao động.
3.1.1.  Một số quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực.
­ Chất lượng nguồn nhân lực giữ  vai trò quyết định sự  nghiệp công nghiệp  
hóa hiện đại hóa ở nước ta.
­ Giáo dục đào tạo giữ  vai trò quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực. 
Giáo dục đào tạo có nhiệm vụ  nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân 
tài.
­ Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo điều kiện phát triển tài 
năng.

Thứ  hai, trong khi khuyến khích mở  rộng đào tạo nghề, các nhà hoạch định 
chính sách cần lưu ý đến giới hạn tối  ưu của nó,  ở  giai đoạn phát triển hiện nay  
vốn dựa chủ  yếu vào ngành sử  dụng nhiều lao  động và tổ  chức lao đôngj theo 
phương pháp Taylo thì việc mở  rộng đào tạo nghề  thung học đồng nghĩa với việc 
tiết kiệm nguồn lực trong nước và giảm chi phí cơ họi cho học sinh. Việc mở rộng  
đào tạo nghề  nên được xem như  một quá trình luôn có sự  điều chỉnh và sự  điều 
chỉnh này cũng cần tính tới khả năng, việc mở rộng thái quá đào tạo nghề trung học 
cũng có thể dẫn tới một thực tế ngoài mong đợi, khi nền kinh tế đi vào con đường  
hội nhập với nền kinh tế toàn cầu và thực hiện mô hình tổ  chức linh hoạt, đòi hỏi 
phải có những công nhân đa chức năng.
Thứ ba, để tiết kiệm nguồn lực và thời gian, cần sắp xếp lại và nâng cấp các 
trường đào tạo nghề  sẵn có, khuyến khích luồng học sinh vào để  khắc phục quy  
­25­



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status