KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong thời kỳ CNHHĐH đất
nước”.
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................
CHƯƠNG
1:
CƠ
SỞ
nhân 5
lực.................................................................................
1.2. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình
đẩy
mạnh
công
nghiệp,
hóa
hiện
đại
cấu
nguồn
lao
động
nhiều
có
những
4.1.
22
Những
giải
2
pháp 22
chung.................................................................................................
4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
đẩy
mạnh
công
Song con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi và chỉ khi họ có điều
kiện đã sử dụng sức lao động của họ để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã
hội. Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện sản xuất là quá trình người lao
động làm việc hay nói cách khác là khi họ có được việc làm.
Lao động là vốn quý, là yêu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của
mọi hình thức kinh tế xã hội, chính vì lẽ đó Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề
về dân số, lao động, việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế xã
hội. Chính sách đó được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược phát triển
3
kinh tế xã hội của đất nước, đặt con người và việc làm là vị trí trung tâm lấy lợi ích
của con ngtười làm điểm xuất phát của mọi chương trình kế hoạch phát triển.
Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức
độ chế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, mà còn tạo ra
những điều kiện để hoàn thiện chính bản thân con người.
Đối với Việt Nam, là một nước đông dân trên thế giới, có nguồn lao động
dồi dào nhưng trình độ còn thấp, muốn đáp vứng được yêu cầu của công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nhất là đáp ứng cho yêu cầu của kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội cần phải có một kế hoạch rõ ràng về đào tạo, huy động, và sử
dụng lực lượng lao động.
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện tiềm lực
kinh tế còn nhỏ bé, tích luỹ từ nội bộ kinh tế còn thấp. Ngoài ra tiềm lực con
người, tài nguyên khoáng sản không nhiều… Do đó để tiếp cận với nền khoa học,
kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ bão của thế giới, từng bước rút ngắn và đuổi kịp
với sự phát triển của các nước; Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình công nghiệp
hoá và hiện đại hoá, là nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Sự
khẳng định này là bài học rút ra từ lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta.
Nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại đều do chính
định của bộ luật lao động ).
Nguồn nhân lực là tiềm năng của lao động trong thời kỳ xác định của một
quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận
dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội. Số lượng nguồn nhân lực
được thể hiện bằng các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển. Chất lượng nguồn
nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ
kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi, giới
tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố lãnh thổ, khu vực thành thị – nông thôn… các
phương thức tác động và sự phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
bao gồm : công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, công tác phân bố nguồn nhân lực
theo vùng, lãnh thổ, các chương trình dinh dưỡng, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng, công tác giáo dục đào tạo và dạy nghề...
Nguồn nhân lực gồm hai bộ phận:
Bộ phận hoạt động;
Bộ phận chưa hoạt động.
6
2.2. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa.
Phát huy nguồn nhân lực con người là vấn đề chiến lược trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
16592,5
15780,5
15320,0
10 14
8542,5
8853,3
8270,1
8112,5
Dân số trong tuổi lao động
38462,0
44470,2
50656,3
55606,0
6064
1814,4
61,77
63,76
Tỷ lệ % so với dân số
Nhóm tuổi
2014
2019
2024
0 9
15424,8
15056,7
14270,9
10 14
7506,4
7680,6
7632,1
92216,5
96706,2
100491,4
64,25
63,75
62,64
Tỷ lệ % so với dân số
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Như vậy, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 20012005 , hay cụ thể
hơn vào năm 2004, dân số nước ta là 82004,5 nghìn người, trong đó dân số ở độ tuổi
lao động là 50656,3 nghìn người, chiếm 61,77% so với dân số. Đây là một áp lực
lớn cho xã hội trong việc giải quyết việc làm.
Bước sang năm 2005, theo dự báo của bảng trên sẽ có khoảng 8853,3 nghìn
người bước vào độ tuổi lao động và đây là con số đủ khả năng cung cấp nhu cầu
lao động của xã hội.
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy dân số trong độ tuổi lao động liên tục tăng
qua các năm. Cụ thể , năm 1994 chiếm 53,34% so với dân số, năm 1999 chiếm
57,91% và năm 2004 sẽ chiếm khoảng 61,77%. Con số này cho chúng ta biết tỷ lệ
tăng trưởng dân số tuy đã hạ xuống nhưng vẫn ở mức cao, áp lực công việc nặng
nề, nếu không có những phương pháp giải quyết thích hợp sẽ dẫn tới tỷ lệ thất
khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Về lề lối, tác phong làm việc, do ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập
trung nên còn chậm chạp, thiếu động lực sáng tạo trong lao động.
Về mặt cơ cấu lao động của nước ta quả thật còn rất nhiều nan giải cần
phải giải quyết được thể hiện qua thực trạng sau:
Thứ nhất, tuy tỷ lệ biết chữ của nước ta cao so với một số nước nhưng trình
độ văn hoá vẫn thuộc loại thấp, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế phân
theo trình độ văn hoá (%)
10
1996
Tổng
1997
Trong đó
nữ
Chưa biết chữ
Tổng
Trong đó
nữ
1998
Tổng
27,8
49,7
28,1
49,2
29,4
45,3
Đã tốt nghiệp cấp II
32,1
48,3
32,4
48,1
32,3
48,3
Đã tốt nghiệp cấpIII
13,5
Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNHHĐH song tỷ lệ lao động
giản đơn còn quá cao (88%), cơ cấu nguồn lao động còn quá lạc hậu so với nhiều
nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Trong khi lực lượng lao động lành nghề ở các nước công nghiệp chiếm tới
35% trong tổng số lực lượng lao động xã hội thì nước ta chỉ có 5,5%. Lực lượng lao
động có trình độ chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư, và các nhà khoa học của họ chiếm tới
30% còn nước ta mới có 6,5%. Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ lao động kỹ thuật
(tính đến giữa năm 1999 số này mới có khoảng 14%). Trong một số ngành kinh tế
quan trọng cần nhiều lao động kỹ thuật nhưng hiện có rất ít. Chẳng hạn, ngành
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng1,6%, ngành nông lâm ngư nghiệp 7% (hiện
nay lực lượng lao động của ngành này chiếm tới 3/4 tổng lao động xã hội). Vùng
đồng bằng sông Cửu Long một trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất
nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 3,68%, trong đó công nhân kỹ
thuật có bằng 0,6%, trung cấp 1,55% và đại học 0,74%. Một số khu chế xuất, khu
công nghiệp cần tuyển lao động có kỹ thuật thì lao động của nước ta chỉ đáp ững
được rất ít. Ví dụ: Khu chế xuất Linh Trung cần tuyển 7000 công nhân nữ có trình
độ tay nghề bậc 3/7 trở lên nhưng chỉ đáp ứng được 1500 người. Khu chế xuất Tân
Thuận cũng ở tình trạng tương tự: cần tuyển 15000 công nhân kỹ thuật, ta chỉ đáp
ứng được 3000. Cái thiếu của ta là lao dộng kỹ thuật trong khi lại dư thừa lao động
phổ thông. Bởi vậy, cơ cấu nguồn lao động không đáp ứng được yêu cầu thị trường
trong nước, chưa nói đến yêu cầu tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, tình trạng thừa thầy thiếu thợ ở mức khá nghiêm trọng. Tức là ngay
trong lực lượng lao động có trình độ chuyên mộ kỹ thuật đã ít lại còn có cơ cấu bất
hợp lý. Có thể thấy tình trạng đó ở bảng sau:
Bảng 3: Cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 19791999
12
21,7
35,2
35,4
36,8
Cao đẳng , đại học
9,7
19,9
23,8
32,9
Nguồn: Thời báo kinh tế, số 13 ngày 31/1/2000
Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu như năm 1979, cơ cấu lực lượng lao động kỹ
thuật của nước ta là tương đối phù hợp với yêu cầu thực hiện CNHHĐH đất nước
(tỷ lệ phổ biến của cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật của các nước đã thành công
trong CNHHĐH là 1 đại học, cao đẳng/ 4 trung học chuyên nghiệp/10 công nhân kỹ
thuật và lúc đó tỷ lệ tương ứng của ta là 1/2, 2/7, 1). Nhưng sau 10 năm (đến năm
1989) tỷ lệ đó chuyển dịch theo hướng lệch đi (1/1, 8/2 ,2), bộc lộ rõ tình trạng
“thừa thầy, thiếu thợ”, đến năm 1997 là 1/1,5/1,7 và đến năm 1999 tỷ lệ này càng
chệch hướng thêm nữa (1/1,2/0,92), nó gần như “lộn ngược” với các nước khác.
Cũng từ biểu trên ta thấy số lao động có trình độ đại học, cao đẳng trở lên từ năm
1979 đến năm 1989 tăng rất nhanh (3,4 lần), trong thời gian đó số công nhân kỹ
diện tích gieo trồng tính bình quân năm 1997 giảm đi. Vì vậy, cần phải tăng mạnh
năng suất lao động trong nông nghiệp để cải thiện tình hình.
Thứ năm, thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ. Hiện nay,
tỷ trọng lao động ở hai vùng đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long
cao nhất nước (20,5% và 21,7% tổng lực lượng lao động xã hội). Trong khi đó vùng
Tây Nguyên rộng lớn, lực lượng lao động chỉ có 4%, vùng duyên hải Miền Trung
10,4% và Đông Nam Bộ 12,7%. Sự mất cân đối này không chỉ gây nên khó khăn cho
vấn đề công ăn việc làm mà còn ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội cũng
như an ninh quốc phòng của quốc gia.
Thứ sáu, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra rất chậm theo ngành kinh tế.
Vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thực ra không dừng lại ở chỗ nó
chiếm bao nhiêu phần trăm trong GDP mà ở chỗ nó thu hút đến trên 80% lực lượng
lao động xã hội (bảng 4 và 5):
14
Bảng4: Thay đổi lao động trong khu vực nhà nước 19901995
1990
1991
Tổng số lao động (nghìn)
30286
30994 31815,2 32718 33663,9 34589,6
Khu vực nhà nước
3415,7
1993
1994
2975,2 2960,4 2928,3
1995
3053,1
Nguồn: Niên giám thống kê
Bảng 5: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Đơn vị: %
1994
1995
1996
1997
(1)
(2)
(1)
(2)
1,24
69,74
1,21
69,22
1,04
68,78
1,01
Nông nghiệp và Lâm nghiệp
69,99
1,23
68,00
1,20
67,48
1,03
67,07
22,93
12,93
23,37
12,52 24,73
CN khai thác
0,34
73,33
0,60
49,08
0,59
46,48
0,57
52,6
CN chế biến
9,26
38,56
Xây dựng
2,89
27,25
2,88
29,78
2,72
30,18
2,64
34,65
Khu vực III
15,39
31,62
17,02
29,07
17,77
1,46
6,83
1,54
7,27
1,40
7,19
Vận tải, kho bãi, thông tin
1,65
34,43
2,26
24,96
2,39
24,49
2,31
0,11
81,63
0,11
79,63
Kinh doanh tài sản và tư vấn
0,16
56,72
0,16
51,72
0,21
44,21
0,21
44,13
QLNN, ANQP, BHXH
0,59
77,75
Y tế và cứu trợ xã hội
1,04
44,25
0,81
58,52
0,82
57,24
0,80
58,51
Hoạt động VHTT
0,31
28,27
0,27
33,83
4,00
1,65
2,71
1,66
2,78
1,61
3,68
Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê
(1): Tổng số lao động: Triệu người, cơ cấu lao động là % trong tổng số.
16
(2): Tỷ lệ lao động trong khu vực nhà nước trong tổng số lao động của mỗi
ngành kinh tế.
Bảng 4 cho ta thấy lao động trong khu vực nhà nước chỉ chiếm 10% trong tổng
số lao động đang làm việc. Năm 1990, tỷ trọng đó là 11,3%, năm 1994 còn 10,1% và
năm 1995 còn 8,8% và duy trì ở mức đó cho đến nay (nhưng trong tương lai sẽ còn
giảm). Theo số liệu thống kê thì từ năm 1991 đến năm 1994, khu vực nhà nước đã
đưa ra gần nửa triệu lao động và chính khu vực ngoài quốc doanh đã tiếp nhận
phần lớn số lao động này.
Ta hãy xét bảng 5 ở trên để thấy được cơ cấu lao động và quá trình phân bổ
1997
1995
1996
1997
Chung trong nền kinh tế
5,65
5,97
6,25
1,68
1,89
2,14
Kinh tế nhà nước
25,67
27,79
29,27
Dạy nghề
147 (1979/1980) 171 (1984/1985)
nhất
18
Đầu tư
Tỷ đồng
% GDP
1986
126,6
119,7
1987
123,3
102,0
1988
115,8
57,6
1495
1,4
1993
97,8
68,7
2321
1,7
1994
108,1
74,7
3414
2,0
1995
116,4
(mức chi phí này ở các nước khác là 25%). Hơn nữa, phần chi cho giáo dục từ ngân
sách nhà nước chiếm phần lớn trong chi phí cho đào tạo nghề. Sự suy giảm các
chương trình đào tạo nghề dài hạn thể hiện rất khác nhau tong từng loại hình và
chuyên ngành đào tạo. Nhìn chung, năm 19921993 là năm có số học sinh đi học
thấp nhất. Sự suy giảm mạnh nhất diễn ra ở các nhóm ngành nônglâmthuỷ sản và
sư phạm đối với loại hình trung học chuyên nghiệp; và ở nhóm ngành xây dựng, cơ
khí đối với loại hình đào tạo nghề. Đối chiếu thực trạng này với tình hình mở
rộngviệc làm trong nửa đầu thập niên 90 cho thấy, đào tạo nghề dài hạn đã suy
19
giảm trong khi cơ hội việc làm gia tăng, số học sinh giảm mạnh nhất trong chuyên
ngành dịch vụ, nơi có tốc độ gia tăng việc làm nhanh nhất. Thực tế này đang đặt ra
nhiều vấn đề nổi cộm đối với hệ thống đào tạo nghề. Theo Bộ Giáo dục và Đào
tạo, có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu do sự thích ứng chậm của hệ thống đào
tạo nghề đối với nền kinh tế nhiều thành phần, cả về chất lượng đào tạo lẫn cơ
cấu ngành đào tạo; sự nghèo nàn của đội ngũ giáo viên và trang thiết bị cũng làm
suy giảm đáng kể năng lực của các trường nghề. Phần lớn các trường nghè hiện
nay chỉ đáp ứng được dưới 50% như cầu về hạ tầng “trường sở”, trang thiết bị,
phòng thí nghiệm, sách giáo khoa, xưởng thực hành.
Thứ hai, do quy mô đào tạo ở các trường trung học, dạy nghề quá nhỏ, trên
50% các trường có quy mô đào tạo dưới 500 học sinh/năm. Quy mô nhỏ là lý do
chính làm cho chi phí đào tạo trên một đơn vị đào tạo cao. Trước sức ép của nhu
cầu đào tạo thực tế, nhiều trường rơi vào tình trạng quá tải.
Thứ ba, từ lâu nay, chúng ta hầu như đào tạo rất ít cho đào tạo nghề. Từ năm
1995 đến năm 1995, tỷ trọng đầu tư cho giáo dục đào tạo từ ngân sách Nhà nước
tăng từ 11% lên 13% (từ mức 1094 tỷ đồng lên 1600 tỷ đồng ) nhưng số tiền này
chủ yếu được rót vào cho hệ đại học, cao đẳng, phổ thông, còn các trường dạy
nghề không được CHLB Đức và Hàn Quốc trang bị cho một số thiết bị hiện đại. Đã
thế, đầu tư cho đào tạo nghề lại rất phân tán và không đúng hướng. Do nhiều năm
học ngành nghề hiện nay đang thấp hơn nhiều so với các bộ môn cơ bản. Như vậy,
điểm yếu vẫn đang tập trung ở các trường kỹ thuật ngành nghề.
Thứ sáu, nhu cầu đào tạo nghề phần lớn còn mang tính tự phát, thiếu qui
hoạch đồng bộ với nhu cầu của nền kinh tế. Các chỉ tiêu đào tạo của bộ chủ quản
còn quá lệ thuộc vào kinh phí, chưa theo nhu cầu thực tế của nền kinh tế, có nơi, có
lúc còn mang nặng tư tư tưởng “xin cho”, cấp phát đơn thuần. Do áp lực từ phía
người lao động mà gần đây ĐTN ngắn hạn nổi lên như một hình thức mới để bù
đắp cho sự suy giảm ĐTN dài hạn và sự thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ thuật.
Số học sinh theo học các khoá ngắn hạn tăng 8 lần trong 10 năm từ 19861996. Sự
thu hẹp các khoá đào tạo nghề dài hạn còn chứa đựng xu thế “sao nhãng” các nghề
21
đòi hỏi đào tạo công phu, chi phí đào tạo cao. Qua khảo sát 421.500 người được đào
tạo nghề gần đây, chỉ có 0,5 % thuộc ngành cơ khí, 2,4% thuộc ngành điện.
Thêm vào đó sự phân bố các trung tâm đào tạo nghề rất không đồng đều theo
địa lý cũng như theo nhu cầu sử dụng. Phần lớn các trung tâm tập trung ở thành thị,
trong khi lại rất vắng bóng ở các vùng nông nghiệp, nông thôn, nơi đang cần có
những người nông dân được đào tạo bài bản để hội nhập nền nông nghiệp nước
nhà với thế giới. Hơn nữa, không có sự bổ sung kịp thời những lao động có đào tạo
cho nông nghiệp thì quá trình CNHHĐH nông nghiệp, nông thôn khó mà đạt kết
quả như mong muốn.
Tính tự phát và thiếu qui hoạch đồng bộ một thời gian dài đã gây ra tình
trạng mất cân đối nghiêm trọng về nguồn lực, trong khi kinh nghiệm của các nước
trên thế giới là duy trì cơ cấu bậc học “tháp hình chuông” thì ở nước ta, số học sinh
vào đại học thường vượt quá nhiều lần so với học sinh các trường nghề.
Thứ bảy, có cả lý do từ tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Tỷ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị tuy đã giảm từ 12% năm1989 xuống 6% năm1996,
nhưng lại tăng lên 810% năm 1998 và 1999. Tại nông thôn, tỷ lệ thiếu việc làm là
từ 25% đến 35% và nhóm bất lợi là độ tuổi từ 1524. Có một nghịch lý là trong khi
CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC
3.1. Những giải pháp chung
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới sâu rộng hơn, huy động sức mạnh
tổng hợp của mọi thành phần kinh tế, tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư cho các
ngành kinh tế mũi nhọn. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong
đó ưu tiên cho công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn và vùng kinh tế biển làm
cho kinh tế của tỉnh phát triển nhanh, vững chắc.
Chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người dân như:
chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… tạo
23
điều kiện cho người dân nói chung và nguồn nhân lực, lực lượng lao động của tỉnh
khoẻ về thể chất, có trình độ chuyên môn kỹ thuật có nhiều công việc tự tạo được
việc làm và tìm được việc làm trong nước và xuất khẩu lao động.
Phát triển nguồn nhân lực về số và chất lượng phải gắn với việc sử dụng
nguồn nhân lực để phát huy hiệu quả, phát triển nguồn nhân lực để phục vụ cho
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá của tỉnh
và phục vụ cho chương trình xuất khẩu lao động.
3.1.1. Một số quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa ở nước ta.
Giáo dục đào tạo giữ vai trò quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực.
Giáo dục đào tạo có nhiệm vụ nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân
tài.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo điều kiện phát triển tài
năng.
Thứ hai, trong khi khuyến khích mở rộng đào tạo nghề, các nhà hoạch định
chính sách cần lưu ý đến giới hạn tối ưu của nó, ở giai đoạn phát triển hiện nay
vốn dựa chủ yếu vào ngành sử dụng nhiều lao động và tổ chức lao đôngj theo
phương pháp Taylo thì việc mở rộng đào tạo nghề thung học đồng nghĩa với việc
tiết kiệm nguồn lực trong nước và giảm chi phí cơ họi cho học sinh. Việc mở rộng
đào tạo nghề nên được xem như một quá trình luôn có sự điều chỉnh và sự điều
chỉnh này cũng cần tính tới khả năng, việc mở rộng thái quá đào tạo nghề trung học
cũng có thể dẫn tới một thực tế ngoài mong đợi, khi nền kinh tế đi vào con đường
hội nhập với nền kinh tế toàn cầu và thực hiện mô hình tổ chức linh hoạt, đòi hỏi
phải có những công nhân đa chức năng.
Thứ ba, để tiết kiệm nguồn lực và thời gian, cần sắp xếp lại và nâng cấp các
trường đào tạo nghề sẵn có, khuyến khích luồng học sinh vào để khắc phục quy
25