Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Nghiên cứu Y học
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG KIỂM SOÁT ĐAU
TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA LÃO –
BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
Lê Thị Thuỳ Phương*, Thân Hà Ngọc Thể*, Nguyễn Văn Trí*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đau là vấn đề sức khỏe phổ biến trên người cao tuổi nhưng thường bị bỏ qua, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.
Mục tiêu: Khảo sát tình trạng kiểm soát đau trên bệnh nhân cao tuổi (BNCT) điều trị nội trú tại khoa Lão –
bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 10/2015 đến tháng 4/2016.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả tại 2 thời điểm. 349 BN được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu
hỏi ”Thang đánh giá đau vắn tắt”, sau đó những BN có tình trạng đau sẽ được phỏng vấn lại sau 7 ngày với
cùng bộ câu hỏi, và cuối cùng thu thập các thông tin liên quan từ hồ sơ bệnh án của tất cả các BN.
Kết quả: 71% BNCT có tình trạng đau được điều trị giảm đau hiệu quả (giảm đau 50% so với ban đầu). Tỷ
lệ giảm đau hiệu quả thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm BN nữ (p < 0,05) và nhóm BN có các bệnh lí cơ xương
khớp, thần kinh ngoại biên (p < 0,01). Có tới 13.1% BN bị bỏ sót tình trạng đau, chỉ 12,5% được điều trị liệu
pháp giảm đau không dùng thuốc và 80,4% được điều trị bằng thuốc với chủ yếu là các nhóm Acetaminophen
(53%), Opioid yếu (28%), dãn cơ (25,6%), kháng viêm không Steroid (21,4%). Đáng lưu ý, chỉ định thuốc giảm
đau chưa phù hợp với mức độ đau của BN, và không có BN nào được dùng Opioid mạnh. Đồng thời, chúng tôi
ghi nhận điều trị giảm đau hiệu quả làm giảm rõ rệt tình trạng trở ngại do đau trên các hoạt động hàng ngày ( >
0,8; p < 0,001).
Kết luận: BNCT điều trị nội trú đang phải đối mặt với tình trạng đánh giá đau chưa đúng mức và kiểm soát
đau kém gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị cũng như chất lượng cuộc sống. Kết quả của nghiên cứu này nhằm
đóng góp vào nỗ lực cải thiện chất lượng điều trị trên BNCT.
Từ khoá: đau, trở ngại do đau, kiểm soát đau, bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú
ABSTRACT
only by using Acetaminophen (53%), weak opioids (28%), muscle relaxants (25.6%) or non-steroid antiinflammatory drug (21.4%), which were not suitable with pain intensity. The use of strong opioid was not
recorded. Furthermore, effective pain management was found to significantly reduce the pain-related interference
on daily activities (p < 0.001).
Conclusions: Results of this study produced evidence to advocate for an effective strategy to assess and
manage pain in elderly patients. We recommend that hospital administrators should review current strategies to
enhance pain management practice.
Keywords: pain, pain interference, pain management, hospitalized elderly patient
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh nhân cao tuổi (BNCT) chiếm trên 40%
tổng số bệnh nhân (BN) nhập viện, trong đó đau
là triệu chứng thường gặp nhất gây ảnh hưởng
đến cuộc sống của 45,8% - 77,7%(1,6,7,9,11) số BNCT
điều trị nội trú và hơn 80% người cao tuổi (NCT)
sống trong các viện dưỡng lão(9). Phần lớn BNCT
có tình trạng đau với mức độ đau từ trung bình
đến nặng nhưng lại được kiểm soát đau rất kém,
không được đánh giá đúng mức và điều trị thoả
đáng. Cho đến nay, các nghiên cứu về đau cho
thấy 2/3 BN nhập viện phải đối diện với vấn đề
không kiểm soát đau(8); 66% BNCT trong viện
dưỡng lão có đau mạn tính nhưng có tới 34%
trường hợp không được bác sĩ điều trị nhận ra(19);
tổ chức Nghiên cứu đau quốc tế IASP cho biết
45,8% BNCT nhập viện có tình trạng đau nhưng
có tới 12,9% than phiền đau không được kiểm
soát(9). Kiểm soát đau trong ung thư ở NCT cũng
ko phải là trường hợp ngoại lệ với khoảng 25 40% BN ung thư có đau hàng ngày, trong đó
21% BN ở độ tuổi 65 - 74 tuổi, 26% BN từ 75 - 84
tuổi không được nhận thuốc giảm đau và 30%
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả tại 2 thời điểm:
BN vừa nhập khoa và sau nhập khoa 7 ngày
hoặc thời điểm xuất viện nếu thời gian nằm viện
< 7 ngày.
Chuyên Đề Nội Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Địa điểm nghiên cứu
Khoa Lão – bệnh viện Nhân Dân Gia Định
TP Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu
Cỡ mẫu
Công thức chọn mẫu:
Với Z = 1,96; d = 0,05 p = 0,673 theo nghiên cứu(7)
Ta được: n
338.
Tiêu chuẩn nhận vào
BN trên 60 tuổi và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Tổng số BN được khảo sát trong nghiên cứu
Đã từng nhận vào các nghiên cứu liên quan
đau trước kia.
BN không thể trả lời những câu hỏi.
Phương pháp tiến hành
Hình thức thu thập số liệu
Thực hiện phỏng vấn trực tiếp và thu thập
thông tin từ hồ sơ bệnh án.
Công cụ
Bộ câu hỏi Thang đánh giá đau vắn tắt - Brief
Pain Inventory short form (BPIsfvn) của tác giả
Charles S. Cleeland(4). Đây là công cụ đánh giá
đau được dùng rộng rãi trên toàn thế giới, có
tính giá trị cao và độ tin cậy tốt(3,4); dễ hiểu, áp
dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, nhiều lứa
tuổi, trong đó bao gồm cả người cao tuổi(9,18), kể
cả người suy giảm nhận thức mức độ nhẹ(17) và
được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng
Việt(5). Bộ câu hỏi được sử dụng với sự cho phép
Thần kinh
Phân tích số liệu
KẾT QUẢ
của chúng tôi là 349 BN. Sau thời gian theo dõi,
có 169 BN có đau được phỏng vấn lại lần 2 và
ghi nhận đầy đủ các thông tin từ hồ sơ bệnh án.
39,1
88,2
1,2
10,7
23,7
35,5
245
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Nghiên cứu Y học
Đặc điểm
Buôn bán
Khác
Học vấn
Mù chữ
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Cao đẳng/đại học
Tình trạng hôn nhân
Goá
Ly dị
Đang kết hôn
Độc thân
Tình trạng gia đình
Sống với người thân
Sống một mình
Huyết học
Tai mũi họng
Mắt
Sản phụ khoa
Ung thư
35,5
15,4
82,4
27,5
35,2
65,8
68,0
27,8
31,4
10,7
1,2
2,4
3,0
6,5
Tỷ lệ bệnh nhân giảm đau hiệu quả
Trong 169 BN được đánh giá đau lần 2, đầu
tiên chúng tôi tiến hành so sánh sự thay đổi
cường độ đau ở lần 2 so với lần 1 và chia các BN
này thành 3 nhóm: giảm, tăng và không đổi. Sau
đó, chúng tôi kiểm định sự khác biệt giữa 2 lần
đánh giá bằng Wilcoxon Signed Ranks, kết quả
được trình bày trong bảng 3.
29
Kiểm
Wilcoxon
signed
ranks
p < 0,0001
4,1
Kết quả phân tích được trình bày trong biểu
đồ 1 dưới đây:
Biểu đồ 1: Tỷ lệ BN giảm đau hiệu quả (n = 169).
Một số yếu tố liên quan tỷ lệ giảm đau hiệu
quả
Chúng tôi khảo sát sự ảnh hưởng của các
yếu tố nhân trắc học và bệnh lí lên hiệu quả giảm
đau của BN thông qua so sánh tỷ lệ BN giảm đau
hiệu quả giữa các phân nhóm.
Kế đến, chúng tôi đánh giá hiệu quả giảm
đau dựa trên phần trăm giảm đau của BN, với
định nghĩa BN được giảm đau hiệu quả là BN có
phần trăm giảm đau
50% so với ban
đầu(2,12,13,14,15,16). Trong đó, phần trăm giảm đau
(%) trong một biến số được tính theo công thức:
Biểu đồ 6. Các liệu pháp giảm đau không dùng thuốc
Biểu đồ 3: Tỷ lệ BN được bác sĩ ghi nhận đau
(n = 169).
Chúng tôi ghi nhận có 86,9 % số BN có tình
trạng đau được bác sĩ ghi nhận có đau trong 24
giờ trước nhập viện hoặc trong thời gian
nằm viện.
Các liệu pháp điều trị giảm đau được dùng
Biểu đồ 4: Các liệu pháp điều trị giảm đau (n = 169)
Thần kinh
(n = 169).
Bảng 4: Các liệu pháp điều trị giảm đau trong nhóm
BN có cường độ đau 7/10 (n = 107)
Liệu pháp điều trị
Không dùng thuốc
Xâm lấn
Không xâm lấn
Hành vi
Chữa bệnh tự nhiên
Dùng thuốc
Acetaminophen
Tramadol
Morphin
NSAIDS
Corticoid
Hướng thần
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Số liệu về điều trị giảm đau được trình bày
ở các biểu đồ dưới đây với các liệu pháp giảm
đau được chia thành 2 nhóm: nhóm liệu pháp
dùng thuốc giảm đau (gồm 13 nhóm chính)
(biểu đồ 4, biểu đồ 5) và nhóm liệu pháp
không dùng thuốc (liệu pháp xâm lấn như gây
tê tuỷ sống, xạ trị…; liệu pháp không xâm lấn
như xoa bóp, vật lí trị liệu.; liệu pháp hành vi
– nhận thức như tâm linh; đánh lạc hướng…;
liệu pháp chữa bệnh tự nhiên như thảo dược,
tinh dầu…) (biểu đồ 6).
thứ 2. Kết quả cho thấy, trong nhóm BN có giảm
Vai trò của giảm đau hiệu quả với giảm trở
ngại do đau trên các hoạt động hàng ngày
Chúng tôi ghi nhận hầu hết BN có tình trạng
đau đều có cường độ đau ở lần đánh giá thứ 2
thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với lần đầu (p
giảm đau của khía cạnh đau tệ nhất, đau vừa
phải, và tổng cường độ đau đều có sự tương
quan thuận chặt chẽ với phần trăm giảm trở
ngại, với hệ số tương quan lần lượt là 0,818;
0,856 và 0,849 (p < 0,0001).
Kế tiếp, chúng tôi tiếp tục khảo sát việc giảm
đau hiệu quả có liên quan như thế nào với việc
cải thiện trở ngại do đau trên các HĐHN của
NCT bằng cách so sánh tỷ lệ BN có giảm đau
hiệu quả và không hiệu quả với các mức độ của
trở ngại (mức độ nhẹ và nặng) ở lần đánh giá
248
đau hiệu quả thì số BN có trở ngại mức độ nặng
chiếm tỷ lệ rất thấp và thấp hơn hẳn so với tỷ lệ
này trong nhóm BN giảm đau không hiệu quả ở
cả khía cạnh đau tệ nhất, đau vừa phải và tổng
cường độ đau (p < 0,0001, χ2) (biểu đồ 7).
BÀN LUẬN
Tỷ lệ giảm đau hiệu quả và một số yếu tố
liên quan
Bên cạnh đó, kết quả phân tích trong nghiên
cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có sự liên quan
giữa tỷ lệ hiệu quả giảm đau với giới tính (p
trong đó có 80,4% số BN được điều trị liệu pháp
dùng thuốc và 12,5% được điều trị liệu pháp
không dùng thuốc (biểu đồ 4). Các thuốc giảm
đau được dùng chủ yếu là nhóm
Acetaminophen (53%), Tramadol (28%), và một
số thuốc hỗ trợ như dãn cơ (25,6%), NSAIDs
(21,4%), thuốc chống co giật, hướng thần,
corticoid (biểu đồ 5). Tuy nhiên, một vấn đề
đáng lưu ý là không có BN nào trong nghiên cứu
của chúng tôi được chỉ định nhóm Morphin kể
cả những BN có mức độ đau nặng (cường độ
đau ≥ 7/10 theo thang điều trị đau Tổ Chức Y Tế
Thế Giới), các BN này chỉ được dùng các nhóm
thuốc giảm đau dành cho mức độ đau nhẹ trung bình, các nhóm thuốc hỗ trợ được dùng
với tỷ lệ thấp và các liệu pháp không dùng thuốc
hầu như không được quan tâm (bảng 4). Qua đó
phản ánh thực tế các thuốc giảm đau được các
bác sĩ tại khoa Lão chỉ định phù hợp với đặc
điểm bệnh lí và các nguyên nhân gây đau (chủ
Thần kinh
Nghiên cứu Y học
yếu là các nhóm thuốc điều trị đau do các bệnh lí
cơ xương khớp, thần kinh, tiêu hóa), tuy nhiên
chưa thoả đáng với mức độ đau mà BN phải
chịu đựng nên còn tỷ lệ không nhỏ BN chưa
được kiểm soát đau hiệu quả.
Đặc điểm này cũng được thể hiện tương tự
Qua kết quả phân tích, chúng tôi ghi nhận
biến số phần trăm giảm đau có sự tương quan
thuận chặt chẽ với phần trăm giảm trở ngại
HĐHN (
0,8; p < 0,0001, tương quan
Spearman). Hơn nữa, xét riêng lần đánh giá
thứ 2, số BN bị trở ngại mức độ nặng trong
nhóm BN có giảm đau hiệu quả chiếm tỷ lệ rất
thấp (< 3%) và thấp hơn hẳn so với trong
nhóm BN giảm đau không hiệu quả (> 35%) (p
249
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
< 0,0001, χ2) (biểu đồ 7). Qua đó, khẳng định
việc giảm đau hiệu quả giúp cải thiện rõ rệt
tình trạng trở ngại do đau trên các hoạt động
hàng ngày của BNCT, nhấn mạnh vai trò của
công tác đánh giá và điều trị đau thích hợp
nhằm đem lại hiệu quả điều trị tối ưu.
6.
KẾT LUẬN
9.
13.
14.
15.
16.
17.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
250
Abbott FV, Gray-Donald K, Sewitch MJ, Johnston CC, Edgar
L, et al (1992). The prevalence of pain in hospitalized patients
and resolution over six months. Pain, 50(1): 15-28.
Brown JL, Edwards PS, Atchison JW, Lafayette-Lucey A,
Wittmer VT, et al (2008). Defining patient-centered,
multidimensional success criteria for treatment of chronic
spine pain. Pain Med, 9 (7): 851-62.
Cleeland CS, Ryan KM (1994). Pain assessment: global use of
randomised controlled trials of analgesics. Pain, 66 (2-3): 22937.
Moore A, McQuay H, Gavaghan D (1997). Deriving
dichotomous outcome measures from continuous data in
randomised controlled trials of analgesics: verification from
independent data. Pain, 69 (1-2): 127-30.
Moore A, Moore O, McQuay H, et al (1997). Deriving
dichotomous outcome measures from continuous data in
randomised controlled trials of analgesics: use of pain
intensity and visual analogue scales. Pain, 69(3): 311-5.
Moore RA, Straube S, Aldington D (2013). Pain measures and
cut-offs - 'no worse than mild pain' as a simple, universal
outcome. Anaesthesia, 68(4): 400-12.
O'Brien EM, Staud RM, Hassinger AD, et al (2010). Patientcentered perspective on treatment outcomes in chronic pain.
Pain Med, 11(1): 6-15.
Schepker CA, Leveille SG, Pedersen MM, et al (2016). Effect of
Pain and Mild Cognitive Impairment on Mobility. J Am Geriatr
Soc, 64 (1): 138-43.
Schmader KE, Sloane R, Pieper C, Coplan PM, et al (2007). The
impact of acute herpes zoster pain and discomfort on
functional status and quality of life in older adults. Clin J Pain,
23(6): 490-6.
Kaye AD, Baluch A, Scott JT (2010). Pain Management in the
Elderly Population: A Review. The Ochsner Journal, 10(3): 179187.
Ngày nhận bài báo:
01/11/2016
Ngày phản biện nhận xét bài báo: