Tỉ lệ rối loạn dự trữ sắt và các yếu tố liên quan của bệnh nhân đến khám tại phòng khám y học gia đình bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 59

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018

Nghiên cứu Y học

TỈ LỆ RỐI LOẠN DỰ TRỮ SẮT VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM Y HỌC GIA ĐÌNH
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trần Thảo Tuyết Tâm*, Phạm Lê An*, Phan Chung Thùy Lynh*, Nguyễn Thị Bích Ngọc*

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rối loạn dự trữ sắt là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh tật và tử vong
trên toàn thế giới. Thiếu sắt kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong chu sinh, phát triển thể chất, tâm thần ở trẻ
nhỏ, giảm thể lực ở người lớn và tình trạng sinh sản kém chất lượng ở phụ nữ. Bên cạnh đó thì tình trạng thừa
sắt cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ rối loạn dự trữ sắt và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tại phòng khám Y học gia
đình Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, có phân tích trên 498 bệnh nhân từ
5 tuổi trở lên đến khám tại các phòng khám Y học gia đình Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng
10/2016 đến tháng 7/2017. Nhập liệu bằng Epidata 3.1 và phân tích bằng Stata 13.0. Xác định mối liên quan
bằng phép kiểm X2, ngưỡng khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Kết quả: Tỉ lệ thiếu sắt là 8,23%, thừa sắt là 50,8%. Sau khi loại bỏ một số yếu tố có thể gây nhiễu, tỉ lệ thừa
sắt nguyên phát là 5,82%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thiếu sắt với nhóm tuổi, giới tính, chóng
mặt, hoa mắt, chảy máu âm đạo bất thường và tần suất xuất hiện các triệu chứng (p
determine the relationship among variables, allowed threshold p = 0.05.
Results: The rate of iron deficiency is 8.23%, iron overload is 50.8%. After eliminating some of confounding
factors, the iron overload was 5.82%. There was a statistically significant association between iron deficiency with
age group, sex, dizziness, dazzle, abnormal vaginal bleeding and number of symptoms(p
vi và bệnh viêm nhiễm cấp tính hoặc đợt cấp
của bệnh mãn tính.
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và
phân tích bằng phần mềm Stata 13.0. Số liệu
được mô tả bằng tần số (tỷ lệ %), trung bình
(độ lệch chuẩn) và trung vị (khoảng tứ phân
vị). Để xác định mối liên quan dùng phép
kiểm Chi bình phương (hoặc phép kiểm
Fisher), ngưỡng khác biệt có ý nghĩa thống kê

Chuyên Đề Nội Khoa


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018
khi p
44,25 ± 15,81

Nghiên cứu Y học

Bảng 4. Nồng độ ferritin trung bình và tình trạng rối
loạn dự trữ sắt(N=498)
Tần số (%)

32 (6,43)
150 (30,12)
237 (47,59)
79 (15,86)
22,5 ± 3,5
64 (12,85)
213 (42,77)
221 (44,38)
74 (14,86)

Nồng độ Ferritin

176 (69 : 344)*

Thiếu sắt

41 (8,23)

Tăng sắt

253 (50,8)


TC đường tiêu hóa trên
197(39,56)
Tiêu máu
25 (5,02)
Nhóm triệu chứng lâm sàng
0 triệu chứng
175 (35,14)
1 triệu chứng
181 (36,35)
2 triệu chứng
93 (18,67)
≥ 3 triệu chứng
49 (9,84)

Bảng 3. Tiền sử bệnh và các bệnh hoặc rối loạn hiện
mắc(N=498)
Tần số (%)
Tiền sử bệnh
Tim mạch

102 (20,48)

Đái tháo đường

27 (5,43)

Viêm gan B-C

26 (5,22)


17(11,13)

40 - 59

218(91,98)

19 (8,02)

≥ 60

78(98,73)

1(1,27)

0,013*

Giới
Nam

200(98,04)

4(1,96)

Nữ

257(87,41)

37(12,59)


107 (36,39)
58 (28,43)
146 (71,57)
Nhóm chỉ số khối cơ thể
42 (17,14)
22 (8,7)
116(47,35)
97 (38,24)
87 (35,51)
134 (52,96)

P


Hoa mắt
18 (3,94)
8 (19,5)
Chảy máu âm đạo 29(11,28)
21 (56,7)
bất thường
(n=294)

p

liên quan (N=498)
Giới tính
Chảy máu âm đạo bất thường

p
0,027

quan giữa rối loạn dự trữ sắt với đặc tính mẫu,
cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
(p
Sau khi đưa các yếu tố liên quan đơn biến
vào mô hình hồi quy đa biến để kiểm soát các
yếu tố gây nhiễu thì mô hình hồi quy đa biến của
tình trạng thiếu sắt với các yếu tố liên quan là
giới tính (PR=3,51, KTC 95% 1,15 – 10,67), chảy
máu âm đạo bất thường (PR=10,43, KTC 95%
4,84– 21,99). Vậy các yếu tố giới tính, chảy máu
âm đạo bất thường là các yếu tố nguy cơ độc lập
ảnh hưởng đến tình tạng thiếu sắt. Tương tự, mô
hình hồi quy đa biến của tình trạng thừa sắt với
các yếu tố liên quan là nhóm tuổi (PR=2,39, KTC
95% 1,71 – 3,31), giới tính (PR=5,17, KTC 95%
3,13 – 8,5), khó ngủ (PR=3,14, KTC 95% 1,63 –
6,05), tăng men gen (PR=4,13, KTC 95% 2,05 –
6,82). Vậy các yếu tố nhóm tuổi, giới, khó ngủ,
tăng men gan là các yếu tố liên quan độc lập ảnh
hưởng tình trạng thừa sắt.

KẾT LUẬN
Tỉ lệ thiếu sắt là 8,23%, thừa sắt là 50,8%. Sau
khi loại bỏ một số yếu tố có thể gây nhiễu theo y
văn (tăng men gan, sử dụng rượu bia và thừa
cân, béo phì), tỉ lệ thừa sắt là 5,82%. Có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa thiếu sắt với
nhóm tuổi, giới tính, chóng mặt, hoa mắt, chảy
máu âm đạo bất thường và tần suất xuất hiện các
triệu chứng. Có mối liên quan giữa tình trạng
thừa sắt với các yếu tố nguy cơ như nhóm tuổi,
giới tính, nhóm chỉ số khối cơ thể, sử dụng rượu
bia thường xuyên, khó ngủ, tăng lipid máu, tăng

5.

6.

7.

8.

9.

172

Flais J, Bardou-Jacquet E, Deugnier Y, Coiffier G, Perdriger A,
Chales G, et al. (2017), Hyperferritinemia increases the risk of
hyperuricemia in HFE-hereditary hemochromatosis. Joint Bone
Spine, 84 (3), pp. 293-297
Fonseca C, Marques F, Robalo Nunes A, Belo A, Brilhante D,
Cortez J (2016), Prevalence of anaemia and iron deficiency in
Portugal: the EMPIRE study. Internal medicine journal, 46 (4),
pp. 470 - 478.
GrundyScott M, James I Cleeman, Stephen R Daniels, Karen A
Donato, Robert H Eckel, Barry A Franklin, et al. (2005),
Diagnosis and management of the metabolic syndrome.
Circulation, 112 (17), pp. 2735 - 2752.
HaasJere D, Brownlie T (2001), Iron deficiency and reduced
work capacity: a critical review of the research to determine a
causal relationship. The Journal of nutrition, 131 (2), pp, 676S 690S.
Kagansky N, Levy S, Keter D, Rimon E, Taiba Z, Fridman
Z, Berger D, Knobler H, Malnick S (2004), Serum ferritin and
risk of the metabolic syndrome in US adults. Diabetes care, 27

16.

17.

Mainous AG, Knoll ME, Everett CJ, Matheson EM, Hulihan
MM, Grant AM (2011), Uric acid as a potential cue to screen
for iron overload. J Am Board Fam Med, 24 (4), pp. 415 - 421.
Ngô Thị Kim Phụng (2011), Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở thai
phụ ba tháng đầu thai kỳ tại Bạc Liêu. Tạp Chí Y học TP. Hồ
Chí Minh, 15 (Phụ bản của số 1), tr. 102 - 106.
Nguyễn Quang Dũng (2015), Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ
tuổi sinh đẻ người H’mông tại một số xã thuộc huyện Bảo
Lạc, tỉnh Cao Bằng. Tạp chí nghiên cứu y học, 96 (4), tr.107 - 113.
Phạm Ngọc Hoa, Hồ Bảo Hoàng, Lương Kim Loan, Phạm
Hữu Trí (2010), Mối tương quan giữa men gan và ferritin trên
bệnh nhân viêm gan siêu vi B, C mạn. Kỷ yếu Hội nghị khoa học
tháng 10/2010_bệnh viện An Giang, tr. 130 - 135.
Robalo Nunes A, Fonseca C, Marques F, Belo A, Brilhante D,
Cortez J (2017), Prevalence of anemia and iron deficiency in
older Portuguese adults: An EMPIRE substudy. Geriatr
Gerontol Int,17(11), pp. 95 - 101.
Stein J, Connor S, Virgin G, Ong DE, Pereyra L (2016), Anemia
and iron deficiency in gastrointestinal and liver conditions.
World journal of gastroenterology, 22 (35), pp. 7908.
United Nations Children's Fund (UNICEF) (2001), Iron
deficiency anaemia: assessment, prevention and control. A guide for
programme managers, WHO/NHD/01.3, pp. 33 - 45. Geneva,
Switzerland: World Health Organization.
Võ Thị Anh Thư (2013), Khảo sát tình trạng chuyển hóa sắt và mối
quan hệ với mức độ tổn thương gan trên bệnh nhân bệnh gan mạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status