Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 21 * Số 5 * 2017
Nghiên cứu Y học
23 Nc 914 KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG CÁC THUỐC ỨC CHẾ DPP-4 TRÊN
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM
Đặng Nguyễn Đoan Trang*, Trần Thị Anh Thư*
TÓM TẮT
Mở đầu: Thuốc ức chế dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4) là 1 nhóm thuốc mới trong điều trị đái tháo đường
với chỉ định đơn trị hoặc phối hợp. Một số hoạt chất đã được sử dụng tại Việt Nam (sitagliptin, vildagliptin,
saxagliptin, linagliptin) và mở ra triển vọng mới trong điều trị đái tháo đường typ 2.
Mục tiêu: Khảo sát việc sử dụng các thuốc ức chế DPP-4 trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại
trú tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 385 bệnh nhân đái tháo đường
týp 2 chưa đạt mục tiêu HbA1c (HbA1c > 7%), được chỉ định thuốc ức chế DPP-4 lần đầu tiên và không thay đổi
phác đồ đái tháo đường trong 3 tháng khảo sát. Thông tin được ghi nhận bằng cách phỏng vấn và thu thập từ hồ
sơ điều trị ngoại trú. Cân nặng và chiều cao của bệnh nhân được đo vào thời điểm ban đầu và 3 tháng sau đó.
Kết quả: Thuốc ức chế DPP-4 được chỉ định phổ biến nhất là vildagliptin. Metformin là thuốc được chỉ định
phối hợp nhiều nhất với thuốc ức chế DPP-4. Sau 3 tháng khảo sát, glucose huyết giảm trung bình 1,72 ± 2,01
(mmol/L) và HbA1c giảm trung bình 1,08 ± 0,82%; 37,9% bệnh nhân đạt mục tiêu glucose huyết và 35,8% bệnh
nhân đạt mục tiêu HbA1c. Các yếu tố liên quan đến khả năng đạt mục tiêu HbA1c bao gồm mức glucose huyết,
mức HbA1c, mức triglycerid và BMI ban đầu. Thời gian mắc bệnh, mức HbA1c, mức triglycerid và mức BMI
ban đầu có liên quan đến mức giảm HbA1c. Phần lớn bệnh nhân không thay đổi cân nặng sau 3 tháng khảo sát
(54,8%). Không có biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong quá trình nghiên cứu.
Kết luận: Hiệu quả của việc sử dụng thuốc ức chế DPP-4 trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chưa kiểm
soát tốt HbA1c đã được ghi nhận trong nghiên cứu. Mặc dù glucose huyết và HbA1c giảm sau 3 tháng điều trị
với thuốc ức chế DPP4 nhưng tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị vẫn chưa cao. Ngoài việc kiểm soát đường huyết, cần
kiểm soát tốt triglycerid và cân nặng để tăng hiệu quả điều trị.
Từ khóa: Ức chế DPP4, đái tháo đường, đường huyết, HbA1c, cân nặng
and 35.8% of the study population achieved blood glucose goal and HbA1c goal, respectively. Factors
significantly associated with the ability to achieve HbA1c goal included blood glucose levels, HbA1c levels,
triglyceride levels at baseline and BMI. Duration of diabetes, HbA1c levels, triglyceride levels at baseline and BMI
were found to be significantly associated with the reduction in HbA1c. Weight change wasn’t observed in the
majority of patients (54.8%). No serious adverse event was found during the study period.
Conclusion: The use of DPP-4 inhibitors in patients with type 2 diabetes mellitus who had not reached the
HbA1c goal was found to be effective. Although the change in blood glucose and HbA1c was significant, the
proportion of patients reaching treatment goal were still below expectation. Triglycerides and weight should be
more tightly controlled to increase the efficacy of treatment.
Keywords: DPP4 inhibitors, diabetes mellitus, blood glucose, HbA1c, weight.
hành trên thị trường để đánh giá hiệu quả cũng
ĐẶT VẤN ĐỀ
như tính an toàn của thuốc khi sử dụng trên dân
Đái tháo đường là một trong những bệnh lý
số rộng, trên những đối tượng khác nhau. Tại
mạn tính chiếm tỷ lệ cao và có tốc độ phát triển
Việt Nam, các thuốc ức chế DPP-4 đã và đang
nhanh. Việc nghiên cứu phát triển các thuốc tác
được sử dụng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, số
động lên các cơ chế bệnh sinh khác nhau của đái
lượng báo cáo và nghiên cứu về việc sử dụng các
tháo đường týp 2 ngày càng được quan tâm và
thuốc ức chế DPP-4 còn khá khiêm tốn. Đề tài
phát triển trên thế giới.
được tiến hành nhằm cung cấp thêm thông tin
GLP-1 (glucagon-like peptid 1) là một
cho các nhà điều trị và trên cơ sở đó, giúp xây
hormon incretin có tác dụng làm giảm glucose
dựng các phác đồ điều trị tại cơ sở.
huyết thông qua nhiều cơ chế như tăng tiết
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 21 * Số 5 * 2017
Tiêu chuẩn loại trừ
Đái tháo đường týp 1 hoặc do các nguyên
nhân khác, có các bệnh lý của hệ tạo máu làm
ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm HbA1c như
bệnh lý hemoglobin (HbS, HbC), thiếu máu tán
huyết, đang sử dụng glucocorticoid, phụ nữ có
thai hoặc cho con bú.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Công thức ước lượng cỡ mẫu
Nghiên cứu Y học
Tất cả các phép kiểm thống kê được thực
hiện với phần mềm SPSS16, các giá trị được coi
là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (N =
385)
Số lượng Tỷ lệ (%)
Giới
Tuổi (năm)
Z : hệ số tin cậy; Z = 1,96 với độ tin cậy là 95%
Nam
33,7
60 - 69
105
27,3
Để cỡ mẫu thu được tối đa, chọn p = 0,5.
70 – 79
46
11,9
> 79
5
1,3
d:sai số chuẩn, chọn d = 5%.
Cỡ mẫu tối thiểu tính được là N=385.
2
BMI* (kg/m )
48
12,5
4–5
166
43,1
6–7
136
35,3
8 – 10
0–1
35
9,1
131
34,0
2–3
Trước
134,6 ± 14,6
82,1 ± 11,3
9,7 ± 2,2
8,5 ± 1,1
5,63 ± 1,29
1,16 ± 0,24
3,72 ± 1,00
2,92 ± 2,38
Sau
132,0 ± 13,7
79,5 ± 9,7
8,0 ± 2,0
7,5 ± 1,0
4,98 ± 1,03
1,18 ± 0,23
3,05 ± 0,81
2,40 ± 1,60
P
> 0,05
> 0,05
< 0,05
< 0,05
> 0,05
> 0,05
< 0,001
< 0,001
Việc sử dụng các thuốc ức chế DPP4
Trong số các thuốc ức chế DPP-4 được chỉ
định, vildagliptin chiếm tỷ lệ nhiều nhất (n =
145; 38%), sau đó là sitagliptin (n = 107; 27%),
saxagliptin (n = 95; 25%) và linagliptin (n = 38;
11%).
Trong mẫu nghiên cứu, số lượng thuốc điều
trị đái tháo đường của mỗi bệnh nhân dao động
từ 1 đến 4 thuốc. Trong đó, nhóm phối hợp 3
thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (54,0%), kế đến là
5
6
7
Thuốc sử dụng kèm theo
Tần số Tỷ lệ (%)
DPP4i
Nhóm biguanide (metformin)
299
77,7%
Nhóm sulfonylurea
223
57,9%
Insulin
80
20,8%
Nhóm ức chế α-glucosidase
10
4,4 – 7,2 mmol/L
< 7%
Trước khảo sát
Tần số
Tỷ lệ %
10/385
2,6%
0/385
0%
Hiệu quả kiểm soát glucose huyết và
HbA1c
Sau 3 tháng điều trị, glucose huyết giảm
trung bình 1,72 ± 2,01 (mmol/L) và HbA1c giảm
Sau khảo sát
Tần số
Tỷ lệ %
146/385
37,9%
138/385
35,8%
P
9,99 ± 2,38
10,79 ± 2,67
7,87 ± 0,37
8,33 ± 1,10
8,59 ± 1,04
9,25 ± 1,27
Khi so sánh mức glucose huyết và HbA1c
trước và sau khi phối hợp thuốc ức chế DPP-4
trên 9 phối hợp thuốc cụ thể, kết quả cho thấy
204
Sau khảo sát
7,06 ± 0,80
7,69 ± 1,61
8,22 ± 2,21
8,37 ± 2,08
6,96 ± 0,43
7,32 ± 0,96
7,47 ± 1,01
8,11 ± 1,07
Mức giảm trung bình
1,21 ± 0,87
1,58 ± 1,68
1,77 ± 2,13
2,42 ± 2,85
0,91 ± 0,49
1,01 ± 0,87
Các biến cố bất lợi của thuốc
Bảng 6. Các biến cố bất lợi ghi nhận trong thời gian
khảo sát (N = 352)
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Biến cố bất lợi
Nhiễm trùng đường hô hấp
Đầy bụng/khó tiêu
Đau họng
Buồn nôn
Đau bụng
Đau đầu
Tiêu chảy
Hạ glucose huyết
Ăn mất ngon
Ngứa da
Tần số
22
nhẹ và nhanh chóng hồi phục mà không cần
phải ngưng thuốc.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở mẫu nghiên cứu
là 71%, gần với kết quả nghiên cứu của tác giả
Trần Kim Thư cũng trên dân số bệnh nhân đái
tháo đường ngoại trú (74%)(1). Các bệnh nhân
trong mẫu nghiên cứu được chỉ định thuốc ức
Nghiên cứu Y học
chế DPP4 sau trung bình 5,26 ± 1,60 năm được
chẩn đoán đái tháo đường, trên 90% bệnh nhân
được chỉ định thuốc ức chế DPP4 sau khi đã sử
dụng các nhóm thuốc khác (metformin,
sulfonylureas). Việc lựa chọn thuốc ức chế DPP4 sau khi đã sử dụng các nhóm thuốc khác phụ
thuốc vào nhiều yếu tố bao gồm các hướng dẫn
điều trị, kinh nghiệm của bác sĩ điều trị và chi
phí của các thuốc ức chế DPP-4.
Kết quả khảo sát trên cân nặng cho thấy cân
nặng trung bình của 352 bệnh nhân khảo sát gần
như không thay đổi. Các nghiên cứu về ảnh
hưởng lên cân nặng của các thuốc ức chế DPP-4
đã cho các kết quả khác nhau nhưng đa số cho
kết quả trung lập, không ảnh hưởng đến cân
nặng. Các nghiên cứu trên sitagliptin cho thấy
cân nặng dao động từ giảm 1,5 kg sau 52 tuần
điều trị đến tăng 1,8 kg sau 24 tuần điều trị(2). Các
nghiên cứu trên vildagliptin cho thấy cân nặng
dao động từ giảm 1,8 kg đến tăng 1,3 kg sau 24
nhắc việc phối hợp thuốc ức chế DPP-4 sớm trên
những bệnh nhân chưa kiểm soát được đường
huyết (có thời gian mắc bệnh ngắn) để mang lại
hiệu quả tốt hơn.
Kết quả phân tích hồi quy đa biến của một
nghiên cứu tại Nhật cho thấy các yếu tố liên
quan đến hiệu quả giảm HbA1c sau 12 tháng là
mức HbA1c ban đầu cao, mức giảm HbA1c sau
3 tháng điều trị, chỉ số khối cơ thể thấp, chưa có
bệnh mạch vành (8). Kết quả phân tích trên mẫu
nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có mức glucose
huyết, HbA1c và triglyceride ban đầu cao thì khả
năng đạt mục tiêu điều trị HbA1c sẽ thấp hơn và
mức giảm HbA1c cũng thấp hơn. Kết quả này
khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của
Mullugeta và cộng sự đánh giá mối liên quan
giữa hiệu quả kiểm soát đường huyết với giá trị
lipid huyết ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2(9).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi góp phần
khẳng định tầm quan trọng của việc kiểm soát
lipid huyết đi kèm với kiểm soát đường huyết
nhằm tối ưu hoá hiệu quả điều trị và ngăn ngừa
các biến chứng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thể trạng
thừa cân/béo phì có liên quan nghịch đến khả
năng đạt mục tiêu cũng như mức giảm HbA1c.
Kết quả này tương tự kết quả của nhiều nghiên
cứu trước đây(6, 8, 10). Mặc dù các cơ chế chính xác
về mối liên hệ giữa béo phì và đái tháo đường
vẫn chưa được xác định rõ ràng, các nghiên cứu
trong nghiên cứu có thể chưa đầy đủ.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 385 hồ sơ bệnh án, nghiên cứu
đã góp phần xác định được một số đặc điểm
dịch tễ, tình hình sử dụng thuốc ức chế PPP-4
trong điều trị đái tháo đường trên bệnh nhân
ngoại trú. Đặc biệt, nghiên cứu đã ghi nhận được
hiệu quả kiểm soát đường huyết và HbA1c trên
thực tế, so sánh hiệu quả trước và sau khi điều
trị với các thuốc ức chế DPP4 của từng phối hợp
thuốc cụ thể và xác định được các yếu tố liên
quan đến khả năng đạt mục tiêu HbA1c cũng
như mức giảm HbA1c sau 3 tháng điều trị. Các
kết quả thu được gợi ý các chiến lược điều trị
phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả điều trị đái
tháo đường trên lâm sàng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Trần Kim Thư, Đặng Nguyễn Đoan Trang (2016). Đánh giá
nguy cơ biến cố tim mạch do xơ vữa trong 10 năm và việc sử
dụng statin theo hướng dẫn của ACC/AHA 2013 trên bệnh
Oladele VA, Parimalaranie Y et al. (2016). Cross-sectional
study of patients with type 2 diabetes in OR Tambo district,
South Africa. BMJ Open, 6, e010875.
De Pablos-Velasco P et al. (2014). Current Level of Glycaemic
Control and Its Associated Factors in Patients With Type 2
Diabetes Across Europe. Clin Endocrinol. 80(1), pp. 47-56.
Yagi S, Aihara K, Akaike M et al. (2015). Predictive Factors for
Efficacy of Dipeptidyl Peptidase-4 Inhibitors in Patients with
Type 2 Diabetes Mellitus. Diabetes & Metabolism Journal, 39(4),
342–347.
Mullugeta Y et al. (2012). Dyslipidemia Associated with Poor
Glycemic Control in Type 2 Diabetes Mellitus and the
Nghiên cứu Y học
10.
11.
Protective Effect of Metformin Supplementation.
Indian
Journal of Clinical Biochemistry, 27(4), pp. 363-369.
Mannucci E, Monami M, Dicembrini I. et al. (2014). Achieving
HbA1c targets in clinical trials and in the real world: a
systematic review and meta-analysis. J Endocrinol Invest, 37,
pp. 477-495.
Eckel RH., Kahn SE. et al. (2011). Obesity and Type 2 Diabetes:
What Can Be Unified and What Needs to Be Individualized? J
Clin Endocrinol Metab, 96(6), pp. 1654–1663