Xây dựng hệ thống bài tập luyện viết câu văn có hình ảnh trong văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 (2017) - Pdf 59

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-------------------

HÁN THỊ NGỌC ANH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
LUYỆN VIẾT CÂU VĂN CÓ HÌNH
ẢNH TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO
HỌC SINH LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô giáo trường
Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã tận
tình truyền thụ cho tôi kiến thức, phương pháp giảng dạy ở tiểu học… giúp
cho việc học tập, nghiên cứu, tiếp thu tri thức, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ
của tôi đạt kết quả như mong muốn.
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Th.S Vũ Thị
Tuyết, người đã hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận của mình. Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy
cô giáo, các em HS trường Tiểu học Thị trấn A – Đông Anh – Hà Nội và
trường Tiểu học Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tôi trong quá
trình khảo sát thực tế tại trường.
Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực của bản thân nên đề tài không
tránh khỏi những thiếu xót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VIẾT CÂU VĂN CÓ HÌNH ẢNH ................ 7
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 7
1.1.1. Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học Tập làm văn.................. 7
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học ................................................................................ 8
1.1.3. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 4, 5 ......................................................... 21
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 23
1.2.1. Các dạng bài tập về văn miêu tả trong chương trình TLV lớp 4, 5...... 23
1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy- học luyện viết câu văn có hình ảnh cho
học sinh lớp 4, 5 .............................................................................................. 25
1.3. Tiểu kết chương 1..................................................................................... 27
Chương 2: CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN VIẾT CÂU VĂN CÓ HÌNH
ẢNH CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 ................................................................... 28
2.1. Nguyên tắc xây dựng bài tập.................................................................... 28
2.1.1. Nguyên tắc hướng đến mục tiêu môn học ............................................. 28


2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học

Trường tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập tiếng Việt chữ viết
với phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa
học. Học sinh tiểu học chỉ có thể học các môn khác khi có kiến thức tiếng
Việt. Bởi với người Việt Nam, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ
để trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức. Môn tiếng Việt trong trường tiểu
học có nhiệm vụ hoàn thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh.
Môn tiếng Việt là công cụ số một, quan trọng bậc nhất ở Tiểu học, là
chìa khóa để đi vào học các môn khác. Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân
môn (Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn)
mỗi phân môn có nhiệm vụ nhất định, chúng hỗ trợ nhau để giúp học sinh học
tốt Tiếng Việt. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn rất quan trọng
trong dạy học Tiếng Việt. Nó thể hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất
của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp, tư
duy và học tập. Việc dạy các em viết những câu văn có hình ảnh có tác dụng
rất lớn đối với việc hình thành và phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, năng
lực tư duy của học sinh. Một bài văn có sinh động, có hấp dẫn, có lôi cuốn
người đọc hay không là ở việc học sinh biết sử dụng câu văn có hình ảnh. Bài
làm văn được coi là hay không phải chỉ có những câu, những từ ngữ, những
cách viết, đoạn viết bài đúng mà phải có sức gợi lớn. Như vậy để đạt được
những mục tiêu của phân môn, người học cần luyện tập với nhiều hình thức
phong phú, đa dạng trong quá trình cảm thụ cũng như xây dựng bài văn.
Ở bậc tiểu học, ngay từ lớp 2, học sinh đã được làm quen với bài tập
viết câu văn có hình ảnh, lên lớp 3 học sinh được tiếp xúc nhiều hơn và phải
đến lớp 4, 5 học sinh mới thành thạo trong việc sử dụng các dạng bài tập này.
Hệ thống bài tập luyện viết câu văn có hình ảnh có vai trò rất quan trọng để
các em hoàn thành tốt bài văn của mình.

1



học môn tiếng Việt cũng như học các môn khác, đồng thời giúp các em có
khả năng giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi.
Dạy viết câu văn có hình ảnh cho học sinh lại càng cần thiết hơn bao
giờ hết. Bởi bài làm văn được coi là đúng hay không đúng không phải chỉ có
những câu, những từ ngữ, cách viết đoạn, viết bài lớn mà phải có sức gợi lớn.
Chính vì vai trò quan trọng của việc hình thành kĩ năng viết câu văn có hình
ảnh nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những bài viết đề
cập đến trong Tập làm văn.
Sau đây chúng tôi xin trình bày những nghiên cứu có liên quan đến việc
viết câu văn có hình ảnh. Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh viết văn có
hình ảnh.
Thuộc hướng nghiên cứu này có các công trình nghiên cứu sau:
1/ Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hưởng (2000) “Giải đáp 88 câu hỏi
về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học”. Tác giả đã viết: Để rèn luyện kĩ năng
viết bài TLV của học sinh lớp 4 đạt kết quả tốt cần phải rèn viết những câu văn
sinh động, rèn viết những đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý, rèn viết
bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại,
trong điểm rèn viết những câu văn sinh động ông còn chỉ rõ giáo viên hướng
dẫn học sinh tập mở rộng câu bằng cách sử dụng những hình anh, chi tiết, các
biện pháp so sánh, liên tưởng làm cho cách diễn đạt cụ thể, chân thực và sinh
động.
2/ Lê Phương Nga (2011) “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu
học”. Tác giả cho rằng một trong những kỹ năng cần rèn để học sinh học giỏi
môn Tiếng Việt là kĩ năng nhận diện các biện pháp tu từ (BPTT). Ngoài ra
công trình này còn đưa ra một số bài tập hướng dẫn HS luyện viết các câu văn
có hình ảnh đẹp.


3/ Vũ Ngọc Khánh (2011) “Bí quyết giỏi văn”. Tác giả cho rằng có thể
tạo hình bằng lối so sánh, tác giả còn chỉ rõ so sánh bằng tỉ dụ, so sánh bằng

5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập luyện viết câu văn
có hình ảnh trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
5.2.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu của đề tài ở việc tập trung xây dựng loại bài tập
luyện viết câu văn có hình ảnh bằng cách sử dụng các biện pháp tu từ so sánh,
nhân hóa, đảo ngữ, điệp ngữ trong văn miêu tả của học sinh lớp 4, 5.
5.2.2. Giới hạn phạm vi thống kê, khảo sát.
Khóa luận khảo sát năng lực viết câu văn và bước đầu thể nghiệm các
dạng bài tập luyện viết câu văn có hình ảnh trên đối tượng học sinh lớp 4, 5
trường tiểu học Thị trấn A - Đông Anh - Hà Nội và trường tiểu học Xuân Hòa
– Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thực nghiệm
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận. Nội dung khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.


Chương 2: Các dạng bài tập luyện viết câu văn có hình ảnh cho học
sinh lớp 4, 5.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.



văn sinh động, có hồn. Muốn đạt được mục đích nêu trên, con đường ngắn
nhất, có tính chất bắt buộc đó là con đường thực hành. Và thực hành thông
qua hệ thống bài tập bao giờ cũng đem lại hiệu quả toàn diện, tốt nhất.
Như vậy, trong các bài học thực hành rèn luyện kĩ năng có thể hiểu bài
tập là một tập hợp yêu cầu hành động để đạt tới một kết quả nào đó. Nếu là
một hoạt động cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành
được kĩ năng tương ứng. Nói cụ thể hơn trong các bài học thực hành rèn kĩ
năng sử dụng tiếng việt thì việc rèn kĩ năng viết cho học sinh thông qua bài
tập được coi là rất quan trọng.
1.1.1.2. Cơ sở xây dựng bài tập
- Để hoạt động thực hành đạt hiệu quả, hệ thống bài tập phải được xây
dựng dựa trên những cơ sở khoa học.
- Trước hết các bài tập phải đáp ứng được mục tiêu môn học. Một trong
những mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển ở HS
các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
- Các bài tập phải đảm bảo được các nguyên tắc: khoa học, phát triển và
vừa sức (các nguyên tắc này chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn trong chương
2).
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.2.1. Khái niệm câu
Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ: âm vị, hình
vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất - nó được
nghiên cứu từ thời cổ đại.
- Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về câu.


Theo Diệp Quang Ban (2005), “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn,
dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy
tắc, ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong

đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình
tượng phẩm chất bên trong của một đối tượng” [12, tr.78]. So sánh tu từ bao
giờ cũng gồm hai vế: vế được so sánh (vế A) và vế so sánh (vế B). Mối quan
hệ giữa vế A với vế B được gắn với nhau theo công thức sau:
A như B (tựa, dường như)
B (hoặc A) bao nhiêu A (hoặc B) bấy nhiêu.
A là B
Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa “so sánh là hình thức diễn đạt tu từ khi
đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có một
nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mĩ
trong nhận thức của người đọc, người nghe”[3, tr.34]. So sánh gồm 4 yếu tố:
cái so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh và cái được so sánh.
Như vậy, có thể hiểu: So sánh là đem đối chiếu hai sự vật, hai đối
tượng, hai đặc điểm khác loại, khác phạm trù nhau nhưng có một nét chung,
giống nhau nào đó nhằm diễn đạt một cách hình ảnh và biểu cảm hơn về sự
vật, hiện tượng đó.
b1.2) Các dạng so sánh
Cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” tác giả Đinh Trọng Lạc đưa ra mô
hình chung của so sánh là A × B và mô hình đầy đủ gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố 1: Yếu tố được hoặc bị so sánh.
- Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành
động có vai trò nêu rõ phương diện so sánh.


- Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.
- Yếu tố 4:Yếu tố được đưa ra làm tiêu chuẩn so sánh
Kí hiệu: A là vế được so sánh
B là vế so sánh.
Xét về mặt nội dung, đối tượng nằm ở hai vế của phép so sánh là khác
loại, khác phạm trù nhưng lại có nét giống nhau nào đó, nét giống nhau này

+ So sánh người với vật
Ví dụ
Bà như quả đã chín rồi
Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng
(Võ Thanh An)
Mẹ già như chuối chín cây
So sánh bà (sống lâu, tuổi đã cao) như quả ngọt chín rồi (quả đến độ già
giặn, có giá trị dinh dưỡng cao). So sánh như vậy để cho người người đọc sự
suy nghĩ, liên tưởng: Bà có tấm lòng thơm thảo, đáng quý, có ích lợi cho cuộc
đời, đáng nâng niu và trân trọng.)
- So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng
Ví dụ
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu.
(Bầm ơi! - Tố Hữu)
Thông qua biện pháp nghệ thuật so sánh cái cụ thể “hạt mưa” với cái
trừu tượng nỗi thương bầm với cặp từ so sánh “bao nhiêu”, “bấy nhiêu” nhà
thơ Tố Hữu đã khắc họa hình ảnh người mẹ vất vả “ướt áo tứ thân” và tình
cảm của người con đối với mẹ không thể đong đếm được.


 Tác dụng của so sánh
So sánh vừa có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc
được cụ thể, sinh động, vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc.
B2. Biện pháp tu từ nhân hóa
b2.1. Khái niệm nhân hóa:
Tác giả Đinh Trọng Lạc đưa ra khái niệm về nhân hóa như sau: “ Nhân
hóa ( còn gọi là nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta
lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con
người nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn,

tính chất của đối tượng không phải con người:
Ví dụ:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay víu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
Vì sương nên núi bạc đầu
Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa.
(Ca dao)
- Coi đối tượng không phải là con người như con người để tâm tình,
trò chuyện với nhau.
Ví dụ:
Giọt sương đêm long lanh
Nằm nghiêng trên phiến lá.
Lắng tai nghe tiếng đêm
Của làng quê êm ả.
Sương nghe lời chị gió.
Thì thào trong vườn trăng


Sương nghe tiếng mầm xanh
Gọi nhau trong lòng đất.
(Giọt sương)
- Dùng những từ chỉ quan hệ thân thuộc của con người để gọi tên đối
tượng không phải là con người.
Ví dụ:
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Bố em xách điếu đi cày.

vị
ngữ - động từ ra trước chủ ngữ, đảo vị ngữ - tính từ ra trước chủ ngữ, đảo bổ
ngữ
- khách thể, đảo bổ ngữ phương thức của vị từ, đảo lên đầu câu bổ ngữ
phương thức của từ, đảo bổ ngữ chỉ phương thức hay bổ ngữ câu chỉ tình
huống – sự vật, đảo bổ ngữ của câu chỉ nguyên nhân, đảo bổ ngữ của câu chỉ
mục đích, đảo vị trí của vị từ là từ chuyên dụng, đảo vị trí của vị từ là động từ
chỉ hành động.
b3.2) Các loại đảo ngữ
- Đảo vị ngữ trước chủ ngữ
Chất trong vị ngọt mùi hương
Lặng thầm thay những con đường ong bay…
(Hành trình của bầy ong – Nguyễn Đức Mậu)
(Dòng 2 đảo VN lên trước góp phần nhấn mạnh được ý nghĩa đẹp đẽ:
Sự lao động thầm lặng, không mệt mỏi của bầy ong thật đáng cảm phục).
- Đảo bổ ngữ của động từ ra trước câu:
Toán là (môn) anh Tuấn rất giỏi.
- Đảo bổ ngữ lên trước trạng ngữ
Lạch cạch cái xe ngựa chuyển bánh.
 Tác dụng của đảo ngữ
Nhằm nhấn mạnh, làm nổi bật ý cần diễn đạt, giúp cho câu văn, câu
thơ thêm sinh động, hài hòa về âm thanh,…
b4) Biện pháp nghệ thuật Điệp từ, điệp ngữ


b4.1) Khái niệm điệp từ, điệp ngữ
“Điệp ngữ (còn gọi: lặp) là một phương tiện tu từ cú pháp.Đó là sự lặp
lại có ý thức những từ ngữ” [8, tr 90].
Ví dụ:


Là kiểu điệp từ, ngữ được vận dụng ở các cấp độ khác: câu, đoạn, văn
bản.Đó là cách sắp xếp từ, ngữ lặp theo các vị trí mở đầu – kết thúc một câu
thơ, một đoạn thơ, một bài thơ.
Voi vận tải trên lưng quân bị
Vào trận sao cho khỏe như voi
(Sư tử xuất quân – Phỏng theo La Phông- ten)
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
(Nhớ Việt Bắc – Tố Hữu)
- Điệp cuối - đầu
Là kiểu điệp ngữ mà những từ ngữ được lặp lại, được sắp xếp ở các vị
trí kết thúc dòng thơ trên và mở đầu dòng thơ dưới
Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai
(Hai bàn tay em – Huy Cận)
- Điệp đầu
Là điệp tu từ cốt ở việc lặp lại một số yếu tố ở câu đầu trong một số câu
tếp theo
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ
Cục… cục tác cục ta
Nghe xao động nắng
trưa Nghe bàn chân đỡ
mỏi Nghe gọi về tuổi thơ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status