Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô giáo trường
Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã tận
tình truyền thụ cho tôi kiến thức, phương pháp giảng dạy ở Tiểu học… giúp
cho việc học tập, nghiên cứu, tiếp thu tri thức, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ
của tôi đạt kết quả như mong muốn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Tiến sĩ Phạm Thị
Hòa, người đã hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận của mình. Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo,
các em học sinh trường Tiểu học Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội, đã giúp đỡ
tôi trong quá trình khảo xát thực tế tại trường.
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc
chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp
ý của các thầy cô giáo và các bạn đọc để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Liên
Nguyễn Thị Hồng Liên
1
Khoa Giáo dục Tiểu học
sinh lớp 4, 5....................................................................................................17
2.1.Bài tập luyện viết câu................................................................................ 17
2.1.1. Luyện viết câu có hình ảnh dựa trên lõi câu cho trước..........................17
2.1.2. Luyện viết hai câu liên kết với nhau...................................................... 19
2.2.Bài tập luyện viết đoạn văn........................................................................22
2.2.1. Bài tập luyện viết đoạn mở bài.............................................................. 22
2.2.2. Bài tập luyện viết đoạn thân bài.............................................................26
2.2.3. Bài tập luyện viết đoạn kết bài...............................................................32
2.3. Bài tập luyện viết bài................................................................................ 34
2.3.1. Bài tập luyện viết bài dựa theo các tư liệu gợi ý....................................34
2.3.2. Bài tập luyện viết bài văn dựa trên dàn ý và một số đoạn cho sẵn.........36
2.3.3. Bài tập luyện viết bài văn theo đề bài cho sẵn....................................... 49
Chương 3 : Thực nghiệm.............................................................................. 51
3.1. Mục đích thực nghiệm.............................................................................. 51
3.2. Nội dung thực nghiệm.............................................................................. 51
3.3. Đối tượng và cách thức thực nghiệm........................................................ 51
3.4. Lớp và giáo viên thực nghiệm.................................................................. 52
3.5. Giáo án thực nghiệm................................................................................. 52
Phần 3 : Kết luận...........................................................................................66
Phụ lục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập tiếng Việt chữ viết
với phương pháp nhà truờng, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa
học. Học sinh Tiểu học chỉ có thể học tập các môn học khác khi có kiến thức
tiếng Việt. Bởi với người Việt Nam, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công
văn miêu tả qua các bài tập quan sát và trả lời các câu hỏi. Tuy nhiên phải lên
lớp 4, 5 học sinh mới chính thức được học văn miêu tả. Các bài văn miêu tả
chính thức có yêu cầu cao hơn: học sinh quan sát, dựa vào câu hỏi để trả lời
rồi phát triển thành đoạn, bài. Trong đó, hệ thống bài tập luyện viết có vai trò
rất quan trọng đối với dạng bài văn miêu tả. Bởi vậy đã có một số tác giả đã
có những công trình nghiên cứu về bài tập luyện viết văn miêu tả. Tuy nhiên,
việc xây dựng hệ thống bài tập luyện viết văn miêu tả trong từng đơn vị ngôn
ngữ thì chưa có công trình nào. Do đó tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Xây
dựng hệ thống bài tập luyện viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5”. Tôi
mong muốn rằng đề tài sẽ cung cấp những tài liệu phong phú cho các thầy cô
giáo để góp phần dạy tốt phân môn tập làm văn trong trường Tiểu học và giúp
các em học tốt hơn kiểu bài văn miêu tả.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên
cứu như sau:
- Hướng thứ nhất tập trung nghiên cứu hoạt động dạy học tập làm văn
miêu tả cho học sinh tiểu học. Đó là hướng nghiên cứu của các tác giả sau:
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, nhà xuất
bản trường Đại học sư phạm Hà Nội, các tác giả Lê phương Nga, Đỗ Xuân
Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Trí đưa ra những nhận xét về vai trò, sự cần thiết
của việc dạy văn miêu tả ở trưòng Tiểu học, từ đó trình bày một vài giải pháp
nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả. Sách còn nêu lên một số vấn đề
chung của việc dạy học văn miêu tả (trong đó nổi bật là vấn đề “bệnh công
thức, khuôn sáo, máy móc, thiếu tính chân thực” trong cách dạy và học văn
miêu tả). Các tác giả cũng đã đề cập đến việc phân chia các dạng bài tập làm
văn và một số kiến thức khái quát chung về các dạng bài tập.
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy tập làm văn ở trường Tiểu học,
nhà xuất bản Giáo dục năm 2000, cũng nêu những nhận xét khái quát về văn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận đi sâu nghiên cứu vào việc xây dựng hệ thống bài tập luyện
viết trong dạng văn miêu tả trên đối tượng học sinh lớp 4, lớp 5 trường Tiểu
học Cổ Loa huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra, khóa luận phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan để làm cơ sở lí thuyết cho khóa
luận đồng thời điều tra thực tiễn và thực tiễn luyện viết văn miêu tả trong
phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5 ở trường tiểu học hiện nay.
- Đề xuất xây dựng hệ thống bài tập.
- Tiến hành thực nghiệm để thu thập kết quả từ việc áp dụng hệ thống bài tập
luyện viết văn miêu tả trong phân môn tập làm văn ở Tiểu học.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1/ Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn.
2/ Phương pháp phân tích.
3/ Phương pháp thống kê.
4/ Phương pháp thực nghiệm.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái quát chung về bài tập trong dạy học Tập làm văn
1.1.1.1 Khái niệm bài tập
Theo Từ điển tiếng Việt: Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận
dụng những điều đã học.
Đây là quan niệm được nhiều tác giả của các công trình nghiên cứu lí
luận giáo dục và lí luận dạy học sử dụng khá phổ biến để nghiên cứu về bài
HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao
tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Các bài tập phải đảm bảo được các nguyên tắc: khoa học, phát triển và
vừa sức.
1.1.1. 3. Các kiểu dạng bài tập làm văn
Tập làm văn là một phân môn thực hành. Không có cách xây dựng nội
dung dạy học tập làm văn nào khác ngoài việc tạo ra một hệ thống bài tập. Vì
vậy, việc mô tả nội dung dạy học tập làm văn không thể tách rời việc chỉ ra
các kiểu dạng bài tập làm văn. Đây là một việc làm không đơn giản.
Khi phân loại bài tập làm văn, chúng ta quan niệm bài tập Tập làm văn
là tất cả những bài tập có trong sách giáo khoa của phân môn Tập làm văn,
nghĩa là bao gồm cả những bài tập tiền tập làm văn và cả những bài tập kiểm
tra, sửa chữa ngôn bản. Chính vì quan niệm như vậy nên số lượng bài tập Tập
làm văn rất nhiều và phong phú, đa dạng, quy mô của một số bài tập Tập làm
văn cũng rất khác nhau và quan niệm về một đơn vị bài tập cũng rất tương
đối: Từ một mệnh lệnh yêu cầu viết một bài văn đến những mệnh lệnh yêu
cầu thực hiện nhữnh hành động khác để viết được một bài văn cũng đều được
xem là một bài tập, nghĩa là về tính cấp độ, có những bài tập ôm trong lòng nó
những bài tập khác. Chính vì vậy nhìn từ góc độ đơn vị ngôn ngữ, có thể gọi
những bài tập Tập làm văn là những bài tập dùng từ, nói (viết) câu, đoạn, bài.
Dựa vào mục đích, nội dung dạy học, bài tập Tập làm văn được chia
thành bài tập luyện nói và bài tập luyện viết.
Theo quá trình sản sinh ngôn bản, bài tập Tập làm văn có thể chia ra
thành những bài tập tiền sản sinh ngôn bản, bài tập sản sinh ngôn bản và bài
tập sửa chữa ngôn bản.
Dựa vào đặc điểm hoạt động của học sinh bài tập Tập làm văn lại có
thể chia ra thành ba nhóm: bài tập nhận diện, phân tích, bài tập theo mẫu và
bài tập sáng tạo (đây chính làn bài tập nói viết thành đoạn, bài)
xếp ý để thực hiện yêu cầu bài viết. Việc phân tích, tìm hiểu đề giúp học sinh
xác định được yêu cầu, nội dung, giới hạn của đề bài. Với mỗi đề bài cụ thể,
khi phân tích, tìm hiểu đề, các em phải trả lời được các câu hỏi: Viết để làm
gì? Viết về cái gì? Viết cho ai? Thái độ cần được bộc lộ trong bài viết là thái
độ như thế nào?
- Nhóm bài tập sản sinh ngôn bản
Nhóm bài tập sản sinh ngôn bản gồm nhóm bài tập viết đoạn và bài
tập viết bài văn.
+ Bài tập viết đoạn: Rèn cho học sinh kĩ năng tạo lập được các đoạn
văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý. Các đoạn văn được luyện viết là đoạn
mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài (mở rộng, không mở rộng). Các đoạn phải
đảm bảo sao cho có sự liền mạch về ý (không rời rạc, lộn xộn), các ý trong
đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh hoạ cụ thể hoá ý
chính (có mở đầu, triển khai, kết thúc). Đoạn văn có thể được cấu trúc theo
kiểu diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, song song.
Để bồi dưỡng kĩ năng diễn đạt, học sinh sẽ thực hành một số bài tập
luyện viết như: với các từ cho sẵn viết thành câu, luyện dùng từ bằng cách sửa
lỗi dùng từ, từ ý đã cho viết thành câu gợi tả, gợi cảm, viết có sử dụng biện
pháp tu từ theo yêu cầu, làm các bài tập mở rộng thành phần câu... để cách
diễn tả được sinh động gợi tả, gợi cảm hơn.
+ Bài tập viết bài văn: Những bài tập viết bài văn thường được thực
hiện trong cả một tiết học. Chúng luyện cho học sinh triển khai nhiệm vụ
giao tiếp thành một bài. Bài văn phải có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù
hợp với yêu cầu, nội dung và thể loại, các đoạn văn trong bài phải liên kết
với nhau thành một văn bản hoàn chỉnh, được bố cục chặt chẽ theo ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài. Có thể liên kết đoạn văn bằng cách dùng
từ ngữ nối (VD: trong khi đó, tuy vậy, chẳng bao lâu...) hoặc bằng cách
sắp xếp ý theo một trình tự nhất định. Khi viết hết một đoạn văn cần phải
tính, những biểu tượng và ấn tượng của bản thân các em. Do vậy, cần dẫn dắt
trẻ suy nghĩ và tìm ra các mối liên hệ có tính quy luật giữa các sự vật, hiện
tượng. Điều này đòi hỏi trẻ phải được rèn luyện thông qua các hoạt động học
tập theo chương trình dạy học ở nhà trường. Cụ thể ở môn Tiếng Việt thì
phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu... giúp học sinh có năng lực sản
sinh ngôn bản. Nhờ đó, học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt để làm công cụ
tư duy, học tập và giao tiếp. Riêng phân môn Tập làm văn có thể tổ chức thực
hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Vì tập làm văn được xây dựng trên
thành tựu của nhiều môn khoa học khác nhau trong đó nổi bật là lý thuyết
hoạt động lời nói, các hiểu biết về ngôn ngữ, ngữ pháp văn bản lôgíc học, lý
luận văn học. Vì vậy cần rèn luyện cho học sinh tiểu học năng lực chú ý bền
vững, năng lực điều chỉnh hoạt động học tập và có ý thức vươn lên làm chủ
hoạt động học tập của mình.
1.1.3. Cơ sở thực tiễn.
1.1.3.1. Nội dung chương trình văn miêu tả ở lớp 4, 5 và những yêu cầu cần đạt.
1.1.3.1.1. Chương trình văn miêu tả đồ vật
* Chương trình
Lớp 4
a) Thời gian: từ tuần 14 đến tuần 34
b) Nội dung và số tiết học:
- Miêu tả đồ vật từ tuần 14 đến tuần 20
+ Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật: 1 tiết
+ Luyện tập quan sát: 1 tiết
+ Luyện tập xây dựng dàn ý: 1 tiết
+ Luyện tập xây dựng đoạn: 4 tiết
+ Bài viết: 1tiết làm bài và 1 tiết trả bài
Lớp 5
a) Thời gian: tuần 24 và tuần 25
loài cây cối quen thuộc xung quanh mình về hình dáng, hoa, quả,
hương thơm... của cây ở một thời kì phát triển nào đó, làm cho người đọc
tưởng như mình đang ngắm nhìn cây.
- Biết thể hiện những điều quan sát được bằng ngôn ngữ xác thực nhưng
lại giàu hình ảnh và cảm xúc. Bài tả cây cối phải gợi lên trong lòng người
đọc hình ảnh của cây với vẻ đẹp của riêng nó, với những cảm xúc của người
viết.
1.1.3.1.3. Chương trình văn miêu tả con vật
* Chương trình
Lớp 4
- Thời gian: tuần 29 đến tuần 34
- Nội dung:
+ Cấu tạo bài văn miêu tả con vật (1 tiết)
+ Luyện tập quan sát (1 tiết)
+ Luyện tập viết đoạn văn (4 tiết)
+ Viết bài kiển tra và trả bài (2 tiết)
Lớp 5
- Thời gian: tuần 32
- Nội dung: ôn tập
+ Ôn tập (1 tiết)
+ Bài viết (1 tiết) - Trả bài viết (1 tiết)
* Yêu cầu cần đạt
Các bài văn miêu tả con vật trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu
học nhằm giúp học sinh tập quan sát con vật gần gũi trong cuộc sống, phát
hiện được những đặc điểm của con vật, biết sử dụng ngôn ngữ văn học để ghi
lại những điều quan sát được.
tạo của bài văn tả người còn lại là 11 tiết luyện tập tả người với các nội dung
sau: quan sát và chon lọc chi tiết (tuần 12), tả ngoại hình (tuần 13), tả hoạt
động (tuần 15), thực hành viết bài (tuần 18, tuần 20), dựng đoạn mở bài, kết
bài (tuần 19).
* Yêu cầu cần đạt
- Về kiến thức: Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái hay của những
câu văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá trong các bài học.
- Về kĩ năng:
+ Biết tìm ý cho đoạn văn và viết được đoạn văn miêu tả ; biết dùng
một số biện pháp liên kết câu trong đoạn.
+ Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả.
+ Biết viết bài văn miêu tả có độ dài khoảng 200 chữ.
1.1.3.2. Năng lực thực hành làm bài tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 4, 5
Để biết được năng lực viết văn của học sinh như thế nào chúng tôi đã
khảo sát 450 bài văn miêu tả của học sinh hai khối 4-5 trường tiểu học Cổ
Loa. Kết quả khảo sát như sau:
1.1.3.2.1. Kết quả khảo sát
Xếp loại
Kém
Trung bình
Khá
Giỏi
Lớp
4A
2
15
20
3
4E
2
13
23
2
5A
1
11
25
3
5B
1
9
23
2
1.1.3.2.2 Nhận xét kết quả khảo sát
- Có 50 bài văn của các em ở cả hai khối lớp mắc lỗi về câu, chiếm khoảng
11,11%.
- Có 48 bài văn của các em lập dàn ý chưa tốt cho bài văn dẫn đến viết thừa ý
và thiếu ý trong bài văn của mình, chiếm khoảng 10,6 %.
- Có khoảng hơn 300 bài viết đoạn mở bài, thân bài, kết bài chưa đạt yêu
cầu. Tỷ lệ này chiếm khoảng 65,6 %.
- Số lượng bài viết tốt, đạt kết quả cao so với mặt bằng chung có 23 bài,
chiếm 5,1 %.
Qua việc thống kê kết quả bài tập làm văn của học sinh lớp 4, 5 trường
Tiểu học Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội, chúng tôi có nhận xét chung về chất
lượng bài làm văn miêu tả của học sinh như sau:
Chất lượng học tập văn miêu tả còn chưa cao:
- Bố cục bài viết của các em còn chưa cân đối giữa các phần, vẫn còn nhiều
trường hợp chưa phân biệt rõ các phần trong một bài văn.
- Vốn từ của các em còn nghèo nàn.
- Kĩ năng diễn đạt còn yếu và chưa biết lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu
đặc sắc để miêu tả nên bài tập làm văn của học sinh thường sa vào kể lể
khô khan.
một cảnh đẹp của trường mà em yêu thích.
Bài tập 2
Sân trường em giờ ra chơi rất nhộn nhịp. Em hãy viết một câu văn giới
thiệu thời một hoạt động chơi mà em thích nhất.
Bài tập 3
Con mèo nhà em có bộ lông rất đẹp. Em hãy viết một câu văn nói tả
về bộ lông của con mèo đó.
2.1.1.2. Diễn đạt lại các câu cho trước cho các câu có hình ảnh hơn Bài tập
4
Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các
biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi tả.
a) Đôi cánh gà mẹ xòe ra rất rộng.
b) Cô Hiền Ngọc bước vào lớp nhẹ nhàng.
c) Chiếc bảng đen xinh xắn.
d) Bông hoa hồng xinh đẹp
e) Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, mặt biển trong xanh dậy sóng và
những con thuyền dậy sóng ra khơi.
f) Xa xa, nhấp nhô những cánh buồm trên sông, mấy người dân chài thấp
thoáng, vài cánh chim chiều tản mạn bay về tổ.
2.1.1.3. Nhận xét mức độ đúng hay chưa đúng của câu cho trước
Bài tập 5
Nhận xét từng cặp câu sau. Cho biết câu nào hay hơn ? Vì sao ?
1a. Mặt nó già cấc, đen thủi và răn reo làm cho hai con mắt nó
trắng dã và khoằm khoặm như mắt vọ.
1b. Mặt nó già, đen và răn làm cho hai con mắt nó trắng và khoằm
như mắt vọ.
2a. Đám mây lốm đốm, xám như đuôi con sóc nối nhau bay quấn
sát ngọn cây, đi mãi, bây giờ cứ nhạt dần đứt quãng, đã lộ ra đàng xa một
7
Hãy viết tiếp một câu văn để hoàn chỉnh cho đoạn văn mở bài sau.
Đề bài: Tả cây hoa hồng
Đoạn mở bài 1 :
Sáng nay cây hoa hồng nhà em nở bông. Mùi hương thoang thoảng hoà
quyện trong không khí mát lành của buổi sớm mai như chào mời làm em đứng
tập thể dục cũng không yên.(...)
Đoạn mở bài 2 :
Mùa xuân đến, các cây hoa trong vườn nhà em đua nhau khoe sắc. Hoa
nào cũng đẹp. (...)
Bài tập 8
Bạn Lan Anh và bạn Thành viết mở bài cho đề bài : Tả con đường quen
thuộc từ nhà đến trường nhưng chưa hoàn chỉnh em hãy giúp bạn viết tiếp
một câu văn để đoạn mở bài của các bạn được hoàn chỉnh
Đoạn văn 1: Từ nhà tôi đến trường có thể đi theo nhiều ngả đường. (...)
Đoạn văn 2: Tuổi thơ của tôi có biết bao nhiêu kỉ niệm gắn với những
cảnh vật ở quê hương. Đây là dòng sông nhỏ đầy ắp tiếng cười của bọn trẻ
chúng tôi mỗi chiều hè. Kia là triền đê rộn rã tiếng hát của thanh niên nam
nữ những đêm trăng. (...)
Bài tập 9
Một bạn đã viết phần mở bài cho đề bài: “Tả một buổi kết nạp đội viên
mà em có dịp tham dự” như sau:
Hoa phượng nở đỏ rực một góc sân trường. Lớp 5A có một ngày vui.
Đoạn mở bài của bạn chưa hoàn chỉnh, em hãy giúp bạn viết thêm một
câu văn nữa để hoàn chỉnh phần mở bài của bạn.