Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Thực trạng quản lý giảng dạy môn Tiếng Anh ở một số trường THCS CL quận 6 thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------

Vương Văn Cho

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác
giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình
nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vương Văn Cho


LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn:

trình độ chuyên môn, khả năng và thể lực của người lao động cũng như về cơ cấu
lao động.
Là một nước đang phát triển, Việt Nam chỉ có thể sớm thoát khỏi cảnh nghèo
nàn, lạc hậu, rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển nếu có
lực lượng lao động được đào tạo có hệ thống và khoa học, tiếp thu có sáng tạo được
những thành tựu khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại.
Giáo dục đào tạo (GD&ĐT) cùng với khoa học công nghệ (KHCN) là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, cải thiện nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu
phát triển đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH).
Thế nhưng, để nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển đất nước tiến
tới một nuớc cơ bản có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2020, chúng ta còn gặp
nhiều khó khăn, tồn tại về nhiều mặt trong đó có đào tạo. Những năm gần đây,
chúng ta được nghe nói nhiều về chất lượng đào tạo còn yếu kém của nước ta qua
nhiều kênh truyền thông đại chúng. Để khắc phục những tồn tại yếu kém này, nhiều
nhà khoa học, nhiều nhà giáo dục có tâm huyết đã lên tiếng hiến kế, góp ý xây
dựng, nhằm chấn hưng lại nền giáo dục nước nhà. Trong số những việc đã làm được
của nhân dân và Nhà nước là việc thực hiện cải cách giáo dục ở nước ta. Do đó,


Luật giáo dục Việt Nam năm 1998, Luật giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2005,
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2010 đã lần lượt ra
đời.
Một thực tế hiện nay là chúng ta còn thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ, công
chức có đủ năng lực, trình độ đảm đương được công việc, nhất là khả năng sử dụng
ngoại ngữ và tin học vào công tác. Trong khi các tập đoàn kinh tế nước ngoài đổ bộ
vào Việt Nam, đa phần đều sử dụng tiếng Anh là chủ yếu mà chúng ta lại chưa có
đủ lực lượng thông thạo ngoại ngữ này để có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu của công
việc. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý (QL) giảng dạy tiếng Anh trong
các nhà trường hiện nay đặt ra cho các nhà lãnh đạo, QL giáo dục các cấp là cần
thiết để đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước. Đây cũng chính là vấn đề hết

TP. HCM vẫn chưa cao, còn những tồn tại cần khắc phục như: HS ít được rèn luyện
về kỹ năng nghe nói, thiên về kỹ năng đọc viết nhiều. Nếu khắc phục được những
tồn tại này thì công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh ở các trường THCS CL
Q.6 TP. HCM sẽ được cải thiện nhiều hơn góp phần nâng cao kỹ năng học tiếng
Anh tại địa phương.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Tác giả chỉ nghiên cứu về công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh ở
một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.
- CBQL, GV, HS ở 8 trường THCS CL tại Q.6 TP. HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài qua nhiều phương tiện thông tin báo, đài, Internet... Từ đó, tổng hợp lại
để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò
-Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến dựa trên cơ sở lý luận, mục đích nghiên
cứu. Trong đó gồm các bảng câu hỏi:
+Câu hỏi dành cho CBQL, GV màng lưới, Tổ trưởng chuyên môn
(TTCM) tiếng Anh ở một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.


+Dành cho GV ở một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.
+Dành cho HS ở một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.
Phương pháp này được tiến hành qua việc thu thập thông tin bằng “phiếu
thăm dò ý kiến” đối với một số CBQL và một số GV, HS ở các trường: THCS CL
Bình Tây, THCS CL Nguyễn Đức Cảnh, THCS CL Đoàn kết, THCS CL Phú Định,
THCS CL Nguyễn Văn Luông, THCS CL Lam Sơn, THCS CL Hậu Giang, THCS
CL Phạm Đình Hổ. Số phiếu phát ra là 490 phiếu của HS và số phiếu thu về là 484
phiếu HS, 27 phiếu CBQL và 45 phiếu GV dạy tiếng Anh.
7.3. Phương pháp phỏng vấn :

Xukhomlinxki trong “Một số kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ
thông”; Jaxapob trong “Tổ chức lao động của người hiệu trưởng”; P.V.Zimin,
M.I.Kôndakốp, N.I.Saxerđôlốp trong “Những vấn đề quản lý trường học”.v.v…
Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định: Kết quả toàn bộ hoạt động QL của
nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động
giảng dạy của đội ngũ GV. [52, tr.31]
- P.V.Zimin, M.I.Kôndakốp, N.I.Saxerđôlốp đi sâu nghiên cứu lãnh
đạo công tác giảng dạy, giáo dục nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong
hoạt động QL của HT. [52, tr.28]
-V.A.Xukhomlinxki, V.P.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề
ra một số vấn đề QL của HT trường PT như phân công giữa HT và PHT. Các tác
giả thống nhất khẳng định nguời HT là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách
nhiệm trong công tác QL nhà trường. Điều đó sẽ tránh được sự giẫm đạp lên công
việc của nhau đồng thời tránh được tình trạng buông lơi một số công việc trong hoạt
động của nhà trường [48, tr.16]. V.A.Xukhomlinxki đặc biệt coi trọng sự trao đổi
giữa HT và PHT để tìm ra biện pháp QL tốt nhất. Tác giả cho rằng: “Trong những
cuộc trao đổi này như đòn bẩy đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công


tác quản lý được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm”. [53,
tr.24,25]
- Về xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV: Các nhà nghiên cứu thống nhất là
trong những nhiệm vụ của HT thì nhiệm vụ hết sức quan trọng là xây dựng và bồi
dưỡng đội ngũ GV.
HT phải biết lựa chọn đội ngũ GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng
họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác
nhau. [2, tr.13]
- Một biện pháp QL hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng mà các tác
giả quan tâm là tổ chức hội thảo khoa học. Thông qua hội thảo, GV có điều kiện
trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của

theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ quản lý trung tâm của nhà trường” và “Người hiệu
trưởng phải luôn luôn kết hợp một cách hữu cơ quá trình dạy và học”. [26, tr.28]
Tác giả Nguyễn Văn Lê chú ý tới công tác bồi dưỡng GV về tư tưởng chính
trị, về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực giảng dạy cho họ. [29, tr.5]
Tác giả Mai Quốc Liên cũng có ý kiến: “Cần cấp bách có một chiến lược
ngoại ngữ để phủ khắp tiếng Anh trong các trường học toàn quốc. [28, tr.6]
Nói tóm lại các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài nghiên cứu và đưa ra
nhiều biện pháp QL hoạt động dạy học ở nhà trường trong đó có bộ môn tiếng Anh;
một số luận văn thạc sỹ quan tâm tới đề tài của HT nhằm nâng cao chất lượng dạy
học ở các địa bàn:
Một số trường THPT dân lập ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
Một số trường THPT ở Thành phố Cà Mau – Tỉnh Cà Mau.
QL hoạt động dạy học thực sự là vấn đề quan trọng đã được quan tâm nghiên
cứu và cần tiếp tục nghiên cứu. Tại Q.6 TP. HCM chưa có tác giả nào đề cập nghiên
cứu đề tài này. Vấn đề chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm hiểu thực trạng việc
giảng dạy môn tiếng Anh ở một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM và từ đó đề xuất
một số giải pháp QL phù hợp mang tính khả thi và cần thiết để góp phần cải thiện
chất lượng dạy học môn tiếng Anh ngay từ bậc THCS.


1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Địa bàn nghiên cứu: Q.6 là một quận ven nội, nằm về phía Tây
Nam TP.HCM, là quận đầu cầu nối nội thành TP.HCM với vùng nông thôn ngoại
thành phía Nam – Tây Nam của TP và vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú
bằng cả đường bộ và đường thủy.
Q.6, về phía Bắc và Tây Bắc giáp Quận Tân Bình và Quận 11 bởi
Rạch Bến Trâu, đường Tân Hóa và đại lộ Hùng Vương; phía Nam và Tây Nam giáp
Quận 8 bởi kênh Bến Nghé, rạch Ruột Ngựa và rạch Nhảy; phía Tây giáp Quận
Bình Tân bởi đường An Dương Vương, phía Đông giáp với Quận 5 bởi đường
Nguyễn Thị Nhỏ qua bến xe khách Chợ Lớn và dọc theo đường Ngô Nhân Tịnh.

văn hóa cấp I là 67.43% dân cư, cấp II là 13.08% dân cư, cấp III là 8.4%, ĐH và
trên ĐH là 1.35% dân cư, trong đó có 0.96% dân cư mù chữ. Nhưng đến năm 1999
thì đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật do quận quản lý tăng lên rõ rệt, có 48 thạc sĩ,
16 phó tiến sĩ, 7 tiến sĩ, hàng trăm CB-CNV có trình độ ĐH, CĐ và Trung học
chuyên nghiệp. Năm 2000 trình độ PT có 205.762 người, CĐ có 1.432 người, ĐH
có 7.824 người, trên ĐH có 130 người.
Dân số trong độ tuổi lao động từ sau ngày giải phóng đến nay nhìn
chung được tăng lên qua các năm. Tính bình quân trung bình tỉ lệ dân số trong độ
tuổi lao động tăng hàng năm từ 50% đến 61% tổng dân số quận, tỉ lệ này cao hơn tỉ
lệ nguồn lao động trung bình của TP (từ 42% đến 48%). Q.6 có nguồn lao động khá
dồi dào, tỉ lệ số người trong độ tuổi lao động có tăng qua các năm, chiếm 97% tổng
số người trong độ tuổi lao động. Riêng số người ngoài tuổi lao động thực tế có tham
gia lao động chiếm từ 1.9% đến 3.8% số người trong nguồn lao động của quận.
Lực lượng lao động đang có việc làm thường xuyên chiếm gần 70%
nguồn lao động. Người làm việc trong các ngành sản xuất vật chất chiếm 87%; còn
trong các ngành phi sản xuất vật chất là 13%.
Lao động dự trữ chiếm khoảng 30% nguồn lao động, trong đó số lao
động nội trợ chiếm tỉ lệ cao 63% của lao động dự trữ. Số lao động chưa có việc làm
chiếm khoảng 5% nguồn lao động xã hội qua các năm.


Vấn đề giải quyết việc làm cho nguồn lao động của quận là một vấn
đề được sự quan tâm ưu tiên của các ngành, các cấp, nhưng tiến độ giải quyết việc
làm vẫn không đáp ứng kịp đòi hỏi do nguồn lao động tăng lên và số người cần việc
làm mỗi ngày một tăng lên. Trong 5 năm từ 1986 – 1990 quận đã giải quyết việc
làm cho khoảng 20.047 người, bình quân mỗi năm giải quyết trên 4.000 người lao
động có việc làm, nhưng vẫn không kịp với đòi hỏi của nguồn lao động. Hàng năm
nguồn lao động dự trữ được bổ sung từ bộ đội, thanh niên xung phong xuất ngũ,
công an phục viên, lao động từ nơi khác đến, cộng với số HS đến tuổi lao động phải
nghỉ học để tìm việc làm, mặt khác nguồn lao động mới tăng lên theo độ tuổi lao

LÊN
SL
TL

TL(%)

SL

TL

SL

TL

SL

TL SL TL

43.6

873

35.3

468

18.9

53



1034 41.2

677

27.0

72

2.9

1

9

2169 1009
9911 3741

46.5

803

332

15.3

24

1.1


HS

KHÁ

SL

TL(%)

SL

TB

YẾU

TL

SL

TL

SL

KÉM

TL SL TL

TB TRỞ
LÊN
SL
TL


31.0 224 6.5 12 0.3

3210

93.2

8

3577

641

17.9

1208 33.8 1359 38.0 335 9.4 34 1.0

3208

89.7

9

3124

803

25.7

1219 39.0

KHÁ

SL

TL(%)

SL

TL

TB
SL

YẾU

KÉM

TL

SL

TL

SL

TL

TB TRỞ
LÊN
SL

27.6

1316 36.8 1015 28.4

235

6.6

22

0.6

3323

92.8

8

3232

493

15.2

963

29.8 1311 40.6

416


91.2

13664 3290

24.1

4501 32.9 4588 33.6 1168

8.5

117 0.9 12379 90.6

TC

(Nguồn thống kê của Phòng GD&ĐT Q.6)


100
GIOI

80

KHA

60

TB

40


môn tiếng Anh trong sự nghiệp giáo dục.
Trước hết, chúng ta cần xem xét một số khái niệm có liên quan đến hoạt
động QL chuyên môn của người CBQL trong lĩnh vực này.


1.3.1.1. Quản lý.
- QL là một hiện tượng xã hội. Nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu
hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt tới với tư
cách là những cá nhân riêng lẻ. Khi đó, dưới tác động của QL, con người phối hợp
với nhau, cùng nỗ lực để hướng tới mục tiêu chung.
*Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của
hoạt động này trong thực tiễn. Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá
trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm
sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu
tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ trì trệ, ngược lại chỉ quan tâm
đến việc “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Trên thực tế, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về QL:
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung - là khách thể quản
lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”. [34, tr.24]
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo, nếu như ở tầm vĩ mô, nói đến QL xã hội
thì “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội,… bằng một hệ
thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể,
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [19, tr.17].
Qua một số định nghĩa trên về QL, ta có thể rút ra các kết luận như sau:
+ QL là một hoạt động mang tính xã hội; đồng thời là hoạt động mang tính
khoa học và tính nghệ thuật rất cao. Hoạt động QL tất yếu nảy sinh khi con người
lao động tập thể và cùng hướng tới mục tiêu chung.
+ Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ

- Phương tiện của hoạt động giảng dạy bao gồm những phương pháp, cách
thức tổ chức, tác động sư phạm và những công cụ, thiết bị, máy móc hỗ trợ.


- Kết quả của hoạt động giảng dạy là chất lượng và trình độ mới về phẩm
chất và năng lực của HS, giúp HS có thể nhận thức và cải biến hiện thực, làm cho
hiện thực trở nên tốt đẹp hơn.
1. 3.1.3. Khái niệm về QL hoạt động giảng dạy
Thực chất việc QL hoạt động giảng dạy của HT là QL GV trong việc
thực hiện những nhiệm vụ cơ bản nêu trên.
Đó là quá trình mà người HT phải hoạch định, tổ chức, điều khiển,
kiểm tra – đánh giá hoạt động giảng dạy của GV nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
đã đề ra. Hoạt động QL này chiếm thời gian và công sức khá lớn của người HT.
Trong quá trình đó, người HT chủ yếu phải tập trung vào hoạt động dạy của thầy và
là trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua QL hoạt động dạy của thầy mà QL
hoạt động học của trò.
1.3.2. Quan điểm của Đảng về công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh và
vai trò của công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự nghiệp giáo dục.
1.3.2.1. Quan điểm của Đảng về công tác QL việc giảng dạy môn tiếng
Anh trong sự nghiệp giáo dục.
Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn 20012010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách
có hệ thống và đồng bộ, tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo
dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH - HĐH, chấn hưng đất nước, đưa đất nước
phát triển nhanh và bền vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu
vực và thế giới.
Từ tư tưởng chỉ đạo nêu trên, trong phần đổi mới mục tiêu, nội dung,
chương trình giáo dục, Chiến lược phát triển trong giai đoạn 2001-2010 có nhấn
mạnh là phải chú trọng trang bị và nâng cao kiến thức tin học, ngoại ngữ cho HS.
Dạy ngoại ngữ trên diện rộng từ lớp 6; HS được học ổn định và liên tục ít nhất một
ngoại ngữ để khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) có thể sử dụng được.

năng giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chưyên môn”.
Để phối hợp trách nhiệm giữa các ngành, ngày 19/09/1997 liên tịch
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ


GD&ĐT đã ra thông tư liên tịch số 79/TTLT và Thông tư liên tịch số 171/TTLB
ngày 04/11/1994 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ GD&ĐT để hướng
dẫn thực hiện chỉ thị nói trên.
Chưa bao giờ việc học ngoại ngữ lại có nhiều văn bản pháp lệnh như
thế. Điều đó chứng tỏ ngoại ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát
triển nguồn nhân lực và là thực tế khách quan cần thiết. Ngoài khoa học chuyên
ngành, ngoại ngữ và tin học là một nội dung đào tạo bắt buộc. Đó là phương tiện
không thể thiếu được đối với CBQL và công chức, đặc biệt trong bối cảnh khoa học
kỹ thuật (KHKT) đang phát triển với tốc độ như vũ bảo hiện nay và hơn nữa, nước
ta đang là thành viên chính thức của WTO. Ngoại ngữ không những giúp chúng ta
tiếp cận những thành tựu khoa học, những thông tin mới nhất, mà còn là cầu nối, là
phương tiện giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc.
Đối với HS, sinh viên, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là
công cụ hữu hiệu để HS, sinh viên tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện mình ngay khi
còn đang ngồi trên ghế nhà trường và sau khi ra trường.
Chính vì vậy mà việc QL việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự
nghiệp giáo dục và chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 lại càng có vai trò
hết sức quan trọng hơn bao giờ hết. Yêu cầu của thời đại đòi hỏi người CBQL giáo
dục các cấp cần phải xác định mục tiêu học ngoại ngữ từng bậc học và cấp học một
cách nghiêm túc để nhằm đáp ứng mục tiêu chung và cung cấp nguồn nhân lực có
đủ tiêu chuẩn theo nhu cầu phát triển đất nước.
1.3.3. Đặc điểm của trường THCS CL
+ Vị trí: Điều 2, chương I Điều lệ trường THCS qui định: “Trường
trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ
thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường trung học có

mục tiêu về chất lượng GD&ĐT.
+ Đặc điểm về nội dung chương trình – phương pháp giảng dạy:
- Trường THCS CL tổ chức giảng dạy theo nội dung chương trình
giáo dục THCS do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, gồm 13 môn bắt buộc: Toán,
Lí, Hóa, Sinh, Kĩ thuật, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân, Thể dục,


Nhạc, Họa và một số môn tự chọn có thể là tin học, ngoại ngữ... Thời lượng và phân
tiết được qui định rõ trong phân phối chương trình (PPCT). Đây được xem là “pháp
lệnh”, đòi hỏi Ban lãnh đạo nhà trường và toàn thể GV phải tuân thủ, chỉ có thể giãn
tiết (để dạy cho kĩ hơn, sâu hơn) chứ không được phép cắt xén tiết dạy.
- Nội dung chương trình nhằm hướng đến mục tiêu GD&ĐT như đã
nói trên. Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin và phát triển nền kinh tế tri
thức, nội dung chương trình cũng đã và cần phải được các nhà biên soạn SGK thẩm
định lại cho các mục đích tinh – gọn, phát huy được ở HS năng lực tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo, năng lực tự học, những kĩ năng sống, thích ứng và hội nhập với
cộng đồng, v.v…
- Cũng với mục đích đó, phương pháp dạy học ở các bậc học nói
chung và ở trường THCS CL nói riêng, mặc dù còn tùy đặc thù từng môn nhưng
đều nhắm đến sự đổi mới. Bên cạnh những phương pháp cổ điển như thuyết trình,
vấn đáp, đàm thoại, người ta nói nhiều đến các phương pháp: Euristic - nêu vấn
đề,…. Tất cả để hướng đến việc kích hoạt sự chủ động học tập, phát triển năng lực
trí tuệ ở người học.
+ Giáo viên:
Tất cả GV giảng dạy ở các trường THCS CL trước tiên đều là GV
biên chế theo định biên của Bộ Nội vụ và thỉnh giảng (theo hợp đồng lao động), nếu
họ hội đủ những điều kiện về phẩm chất, trình độ, năng lực, sức khỏe theo qui định
của Luật giáo dục và trường còn thiếu giáo viên bộ môn (GVBM) do chưa được
phân bổ đủ.
+ Học sinh:

nghiệp giáo dục: Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mà Luật Giáo
dục Việt Nam 2005 đã đề ra “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ và nghề nghiệp, năng
động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [7, tr.1] cho chúng ta thấy mẫu
người mà ngành giáo dục đào tạo phải là con người phát triển toàn diện. Để phát


triển toàn diện đòi hỏi bản thân con người ấy phải nỗ lực phấn đấu nhiều mặt về đạo
đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực cá nhân… trong đó,
muốn nắm bắt và cập nhật tri thức của nhân loại nhất là khoa học và công nghệ
trong xu thế hội nhập toàn cầu thì con người Việt Nam trong thời đại hiện nay cũng
như trong tương lai phải biết thêm ít nhất một ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ. Tiếng
Anh là ngoại ngữ hiện nay được nhiều người trên thế giới sử dụng phổ biến trong
các Hội nghị quốc tế, Hội thảo chuyên đề ở mọi tầm cỡ hoặc qua sách, báo, tài liệu
nghiên cứu khoa học hay thông tin qua các phương tiện truyền thông… Giao tiếp
vốn là nhu cầu không thể thiếu của con người và nhu cầu này ngày càng phát triển
theo tiến trình quy mô ngày càng gia tăng. Nhằm đáp ứng cho nhu cầu này thì tiếng
Anh là một trong những ngoại ngữ, công cụ giao tiếp chiếm vị trí hàng đầu trên
nhiều lĩnh vực hoạt động. Chính vì vậy tiếng Anh được coi là sinh ngữ mà con
người trên thế giới dùng làm công cụ trao đổi, nắm bắt thông tin qua các phương
tiện truyền thông hiện đại để rút ngắn thời gian và thu hẹp dần khoảng cách không
gian trong thời đại ngày nay. Do lợi thế này mà ở nước ta nhiều trung tâm, cơ sở bồi
dưỡng ngoại ngữ lần lượt phát triển mạnh mẽ ở các TP lớn. Tiếng Anh là một ngoại
ngữ được chính thức coi là môn học chính khoá trong chương trình giảng dạy ở các
bậc học PT và ĐH. TP. HCM là TP năng động, phát triển mạnh về các mặt và là
trung tâm văn hoá, kinh tế… hàng đầu của cả nước. Vì thế nhiều nước trong khu
vực và thế giới quan tâm đầu tư phát triển trên nhiều lĩnh vực vào TP. HCM ngày
càng gia tăng. Vì vậy, việc sử dụng tiếng Anh để quan hệ giao dịch là điều bình

trường có thể học tập, trưởng thành và phát triển để họ biến tiềm năng cá nhân
thành hiện thực.
-

Nhiệm vụ của HT cũng được qui định rõ trong điều 17 của “Điều lệ trường

trung học” bao gồm:
+ Tổ chức bộ máy nhà trường;
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
+ QL GV, nhân viên, HS; QL chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của GV, nhân viên;
+ QL và tổ chức giáo dục HS;
+ QL hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường;
+ Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên,
HS; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status