Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Xác định hàm lượng Ochratoxin trong thực phẩm bằng phương pháp sắc ký lỏng hai lần khối phổ (LC-MS/MS) - Pdf 59

Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
MỞ ĐẦU
Vấn đề  an toàn vệ  sinh thực phẩm ngày càng được quan tâm bởi nó liên 
quan trực tiếp tới sức khỏe của tất cả người tiêu dùng. Thời gian vừa qua trong  
nước liên tiếp phát hiện các vụ ngộ độc thực phẩm trong đó có các vụ  ngộ  độc 
mycotoxin đặc biệt nghiêm trọng …đã gây ra tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng  
khi lựa chọn thực phẩm cũng như sử dụng thực phẩm thế nào là đúng cách. Theo  
thống kê của Cục An toàn thực phẩm về các vụ ngộ độc thực phẩm trong những 
năm gần đây trên cả nước:
­ Năm 2009: Toàn quốc xảy ra 147 vụ ngộ độc thực phẩm, có 5026 người  
mắc; 3958 người nhập viện; 33 người tử vong.
­ Năm 2010: Tình hình NĐTP trong năm 2010 phức tạp. Toàn quốc đã xảy ra 
175 vụ ngộ độc trong đó có 34 vụ ngộ độc trên 30 người làm 5664 người mắc 42  
trường hợp tử vong, so sánh với số liệu trung bình trên năm của giai đoạn 2006­
2009, số vụ ngộ độc giảm 9,1%; số mắc giảm 17,6% và số tử vong giảm 19,2%. 
­ Năm 2011: 148 vụ, 4700 người mắc, 27 người tử vong.
­ Năm 2012: 168 vụ, 5541 người mắc, 34 người tử vong.
Theo TS Trần Quang Trung, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm ­ Bộ Y  
tế, trong 9 tháng của năm 2013, cả  nước đã có 108 vụ  ngộ  độc thực phẩm làm 
hơn 2.800 người mắc, trong đó có 18 ca tử  vong. Trong 40 vụ  ngộ  độc thực  
phẩm được thống kê trong quý III này thì nguyên nhân do vi sinh vật là 23 vụ, do 
độc tố tự nhiên 4 vụ, do hóa chất 2 vụ và 11 vụ chưa xác định được nguyên nhân. 
Các vụ ngộ độc xảy ra khắp nơi, từ gia đình riêng đến tập thể.
Ochratoxin là một loại độc tố được sinh ra bởi các chủng nấm mốc thuộc  
các giống Aspergilus ochraceus và Penicillium verrucusum và là loại độc tố  có 
tiềm năng gây ung thư  và viêm thận  ở  người và động vật. Độc tố  này đã được 
phát hiện trên nhiều nông sản khác nhau bao gồm ngũ cốc và các sản phẩm của 
chúng. Điều đáng lo ngại là khi chúng ta ăn phải thức ăn bị nhiễm ochratoxin nó  

1

̀ ́ ̉
́ ự  hình thành nấm mốc và độc tố  của chúng có thể  bắt đầu từ 
khi cây còn  ở  trên đồng, lúc thu hoạch, trong khi bảo quản hoặc ngay cả trong  
quá trình chế biến thức ăn cho vật nuôi. Như vậy, không nơi nào trên thế giới có 
thể  thoát khỏi nấm mốc và độc tố  từ  chúng, và tác hại của chúng là vô cùng to  
lớn đối với năng suất vật nuôi và sức khỏe con người.
Để  kiểm soát mức độ  nhiễm ochratoxin trong thực phẩm,  ở  Việt Nam  
cũng như  trên thế  giới đã có nhiều phương pháp phân tích được nghiên cứu và 
ứng dụng. Nhưng với những  đặc điểm  ưu việt và độ  chính xác cao nên các 
phương pháp phân tích sắc ký lỏng  khối phổ được coi là phương pháp phân tích 
có giá trị pháp lý để phát hiện và định lượng nồng độ ochratoxin ở lượng vết hay  
siêu vết. 
Xuất phát từ  tính cấp thiết của xã hội và tính   ưu việt của phương pháp 
phân tích, chúng tôi xây dựng phương pháp nghiên cứu:
"Xác định hàm lượng Ochratoxin trong thực phẩm bằng phương pháp sắc ký  
lỏng hai lần khối phổ (LC­MS/MS)”.
Mục tiêu của thực hiện đề tài nghiên cứu là:

2


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
1.   Xây dựng phương pháp xác định hàm lượng của  Ochratoxin  trong  thực 
phẩm bao gồm:
­  Khảo sát các điều kiện trên máy sắc ký lỏng hai lần khối phổ
­ Khảo sát các điều kiện xử lý mẫu.
­ Thẩm định phương pháp đã xây dựng.
2.   Áp dụng phương pháp xác định ochratoxin trong ngũ cốc, sản phẩm từ  ngũ 
cốc, rượu lên men trên thị trường trong nước.



Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình

       
         Ochratoxin A 

         Ochratoxin B

                                 Hình 1.1: Cấu trúc các Ochratoxins
1.1.2.Tính chất hóa lý của Ochratoxins
Ochratoxins là đốc tố  tinh thể  không màu, bền với nhiệt, tan trong dung  
môi hữu cơ phân cực như chloroform, methanol, …, ít tan trong nước và tan trong 
đệm carbonat loãng). Ochratoxins rất bền vững với các xử  lý nhiệt và hóa chất.  
Độc tố được sản sinh nhiều nhất ở nhiệt độ từ 20­250C. Sự sản sinh ochratoxins 
phụ  thuộc chủng nấm mốc, hoạt tính của nước trong hạt, cơ  chất, nhiệt độ.  
Ochratoxins dễ  bị  phân hủy bởi ánh sáng, trong môi trường kiềm hoặc chất tẩy  
rửa.
      Ochratoxin   A   phát   huỳnh   quang   và   hấp   thụ   UV   cực   đại   tại   365nm. 
Ochratoxin A có điểm nóng chảy  ở  1690C. Phổ  hồng ngoại trong cloroform cho 
các píc có độ dài 3380, 1723,1678, 1655 cm ­1 OTA có tính axit yếu pKa1 = 4,2­4,4 
và pKa2 = 7,0­7,3. Ochratoxin A phát huỳnh quang xanh khi dùng thiết bị  sắc ký  
lớp mỏng (TLC) chiếu tia UV ở 366nm.
       Ochratoxin B có trọng lượng phân tử  369,37. Ochratoxin B có thể  phát 
huỳnh quang màu xanh khi chiếu tia UV bước sóng 318 nm. Nhiệt độ nóng chảy  
khoảng 2210C.
     Cơ  chế  tác động của ochratoxins: ochratoxins gây  ức chế  sự  vận chuyển  
của ribonucleic axit (tARN) và các axitamin. Ochratoxins còn  ức chế  vi khuẩn,  
nấm men và phenylalanine ­ tARN  ở  gan. Tác động làm  ức chế  sự  tổng hợp  

thể, có thể gây tử vong cho động vật. Khi nhiễm độc ochratoxin cơ thể rất mẫn  
cảm với các loại bệnh thông thường

6


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
­ Bào mòn   niêm mạc của  ống tiêu hóa do lớp tế  bào niêm mạc bị  chết  
bong ra và bị  khô lại hình thành nên một lớp màng bọc làm cản trở  sự  chuyển  
thức ăn đi trong ống tiêu hóa
­ Làm thay đổi hoạt động sinh lý bình thường gây rối loạn sinh sản. Ở thú 
mang thai có thể gây chết thai. Đối với gia cầm có thể gây tỷ lệ chết phôi ở giai  
đoạn đầu rất cao, tỷ lệ nở thấp   
­ Làm giảm tính ngon miệng đối với thức ăn do sự  phát triển của nấm 
mốc làm mất mùi thức ăn
­ Làm hư  hại các vitamin trong thức ăn do sự  lên men phân giải của nấm  
mốc
­ Ngoài các tác hại trên nấm mốc có trong thức ăn còn lên men phân giải  
các nguồn dường chất (glucid, protein, acid amin, vitamin...) làm cho thức ăn bị 
giảm giá trị  nghiêm trọng, làm mất mùi tự  nhiên, chuyển sang mùi hôi mốc, vật 
nuôi không thích ăn.
 Như vậy có thể nói rằng độc tố nấm gây ra những tác hại rất lớn và hậu  
quả vô cùng nghiêm trọng cho cơ thể của người và động vật. 
Tuy theo t
̀
ưng loai ma đôc tô nâm môc có th
̀
̣
̀ ̣


Hạt cà phê rang, cà phê bột
5
Cà phê uống liền
10
Rượu vang, nước nho ép
2
Thực phẩm dành cho trẻ dưới 36 tháng tuổi
0,5
Gia vị
30
Sản phẩm chiết xuất từ cam thảo
80
Ngũ cốc và bột ngũ cốc

Hiện chưa có quy định cụ  thể  nào về  mức MRL cho ochratoxin B kể  cả 
trong nước và tiêu chuẩn Châu Âu (EN)
1.2 Các phương pháp xác định
1.2.1 Phương pháp ELISA (enzyme­linked immunosorbent assay).
Nguyên tắc dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể.  
Ochratoxin chuẩn được cộng hợp với enzyme, tạo thành phức hợp Ochratoxin­ 
enzyme và được sử dụng như một kháng nguyên ở nồng độ nhất định, cạnh tranh  
với ochratoxin có trong mẫu. Kháng thể đặc hiệu với ochratoxin được gắn lên bề 
mặt giếng nhựa polystryren. Dịch chiết mẫu trong methanol 70% được trộn cộng  
hợp với ochratoxin – enzyme và được cho vào giếng có phủ    kháng thể, các 
ochratoxin có trong mẫu (nếu có) sẽ cạnh tranh với phức hợp ochratoxin­ enzyme  
để  gắn vào kháng thể  cố  định trên polystryren. Sau đó rửa sạch các phức hợp 
thừa, cơ chất phản  ứng với enzyme được đưa vào tạo màu. Ủ  một thời gian sau  
đó thêm vào dung  dịch ngưng phát màu để tạo điều kiện đồng đều về thời gian  
cho mọi giếng. Tiến hành đo độ  hấp thụ  của mẫu và dãy chuẩn bằng máy đo  

Phương pháp sắc ký khí đã được một số tác giả ứng dụng để xác định các 
loại độc tố  Ochratoxin. Tuy nhiên phương pháp chỉ  phân tích được những chất  
dễ  bay hơi, còn các chất khó bay hơi thì phải tạo dẫn xuất nên tốn thời gian và 
hóa chất. Hơn nữa, để phân tích được đồng thời các chất thì cần thời gian phân  
tích dài. Do vậy, phương pháp ít được  ứng dụng để  phân tích các loại độc tố 

9


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
Ochratoxin này 

Tác giả  Yuying Jiao và các cộng sự  [31] đã tiến hành xác  

định Ochratoxin trong thực phẩm bằng phương pháp sắc ký khí. Ở đó Ochratoxin 
A được chuyển thành dạng dẫn xuất ester 0­methyl ochratoxin A và được xác 
định bằng sắc ký khí khối phổ với chế độ ESI âm.
1.2.3. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và cột ái lực miễn  
dịch (IAC)
Giống như ELISA, cột ái lực miễn dịch cũng dựa trên sự kết hợp đặc hiệu 
giữa kháng nguyên và kháng thể. Kháng thể  đặc hiệu với ochratoxin được gắn  
lên giá rắn của cột sắc ký (thường dùng Sepharose 4B), tạo cho IAC đặc tính vừa 
tinh sạch vừa  cô đặc ochratoxin. Mẫu  được chiết với acetonitril/H 2O, sau  đó 
được pha loãng và cho qua cột ái lực miễn dịch. Cột được rửa sạch những tạp 
chất không gắn lên kháng thể  và được giải hấp bằng methanol. Tiến hành định  
lượng bằng HPLC với detector huỳnh quang . Bản thân Ochratoxin là chất phát 
huỳnh quang tại bước sóng hập thụ 333 nm, bước sóng phát xạ 460 nm nên đã có  
rất   nhiều   nghiên   cứu   sử   dụng   phương   pháp   sắc   ký   lỏng   hiệu   năng   cao   với 
detector huỳnh quang để xác định. 

gradient ở khoảng 8 phút đã có thể  cho ra chất phân tích với tín hiệu tốt. Độ  thu  
hồi, độ chụm được tiến hành đo ở 3 mức nồng độ 1, 10, 50 ng/ml. Giới hạn phát 
hiện và giới hạn định lượng ở trong nước tiểu tương ứng là 0,3 và 0,7 ng/ml. Cột 
sắc ký sử  dụng là cột C18 – Waters, tốc độ  dòng 0,5 ml/phút. Pha động: 90% 
kênh   A   (nướu,   acetonitril,   aceticacid   90:10:0,1)   trong   1   phút,   tăng   tỷ   lệ   60%  
A/40%B   (acetonitril và acetic acid 100:0,1) trong 6 phút, đưa về  90% B  ở  giây 
tiếp theo và giữ trong vòng 1 phút. Tổng thời gian chậy sắc ký là 8 phút. Detector 
khối   phổ   thực   hiện   ở   chế   độ   ion   âm,   IS=­4V,   nhiệt   độ   nguốn   400 0C,   với 
ochratoxin A có các thông số tương ứng: DP=­20V, FP=­74V, EP=­8,6, CE=­25V, 
CXP=­9,5V,   với   ochratoxin  B   có   các   thông  số   tương   ứng:   DP=­20V,   FP=­86, 
EP=­8,6,   CE=­44,41V,   CXP=­15,11V.   Ion   định   dạng:   OTA:   m/z   402.1­>357.9, 
OTB: m/z 368.0­>133.1.  ở  trong nghiên cứu này tác giả  coi ochratoxin B như  là 
một nội chuẩn, được thêm vào từ  đầu để  kiểm soát hiệu suất thu hồi. Đầu vi 
chiết pha rắn được nhúng vào 1 ml mẫu ở tốc độ  khuấy 850 rpm, thời gian hấp 

11


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
thụ  và giải hấp thụ là 1 giờ  15 phút. Phương pháp có ưu điểm tính tự  động hóa  
cao, ít độc hại cho người phân tích.
Tại Viện nghiên cứu thuốc trừ  sâu và nước, Đại học Jaume, Tây Ban 
Nha,   nhóm   tác   giả   Eduardo   Beltrán   [20]   đã   nghiên   cứu   xác   định   một   số 
mycotoxin trong thực phẩm và sữa bằng sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết 
bởi   acetonitril:   nước   (80:20),   làm   sạch   mẫu   bằng   cột   ái   lực   miễn   dịch  
(Aflaochra HPLCTM) được cung cấp bởi Vicam (Tecasa, Madrid, Tây Ban Nha). 
Phương pháp cho độ  thu hồi 80­110% tại mức thêm chuẩn 0,025 và 0,1 ng/g,  
RSD nhỏ hơn 15%.
Nhóm tác giả  L.C. Huang đã nghiên cứu xác định một nhóm các chất  

tĩnh và pha động khác nhau. Do vậy, chúng di chuyển với tốc độ  khác nhau và 
tách

 

Sắc ký lỏng

ra

khỏi

 

Ion hóa

Bộ phân 
tích khối

 

nhau. 

Detector/ Lưu 
giữ số liệu

Hình 1.3: Sơ đồ đơn giản của hệ thống sắc ký lỏng.
Trong HPLC, pha tĩnh chính là chất nhồi cột làm nhiệm vụ  tách hỗn hợp 
chất phân tích,  đó là những chất rắn, xốp và kích thước hạt rất nhỏ, từ 3 – 7 µm.  

13

động theo thời gian gọi là rửa giải gradient nồng độ.

14


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
Detector là bộ phận quan trọng quyết định độ nhạy của phương pháp. Tuỳ 
thuộc bản chất lí hoá của chất phân tích mà lựa chọn detector cho phù hợp. Một  
số loại detector dùng trong HPLC như: Detector quang phổ hấp thụ phân tử (UV­
VIS), detector huỳnh quang (RF), detector  độ  dẫn, detector mảng diot (DAD),  
detector khối phổ (MS).
1.3.2  Khối phổ (Mass Spectrometry)
Khối phổ là thiết bị phân tích dựa trên cơ sở xác định khối lượng phân tử 
của các hợp chất hóa học bằng việc phân tách các ion phân tử  theo tỉ  số  giữa  
khối lượng và điện tích (m/z) của chúng. Các ion có thể  tạo ra bằng cách thêm 
hay bớt điện tích của chúng như loại bỏ electron, proton hóa,... Các ion tạo thành 
này được tách theo tỉ  số  m/z và phát hiện, từ  đó có thể  cho thông tin về  khối  
lượng hoặc cấu trúc phân tử của hợp chất.
Tránh ion phân tích va chạm 
với ion trong không khí

Chân không cao

Nguồn ion

Phân tích 
khối

Phổ khối


Hình 1.5: Bộ nguồn ion hóa.
Khi dung dịch mẫu ra khỏi cột sắc ký, được đưa vào ống mao quản bằng 
kim loại. Đầu mao quản này được áp điện thế cao (4­6 kV). Khi điện tích dư trên 
đầu mao quản vượt qua  sức căng bề mặt của dịch mẫu thì sẽ tạo thành các giọt 
mang điện tích. Tiếp đó các giọt mang điện này được làm giảm kích thước nhờ 
hai quá trình liên tục xảy ra, đó là sự hóa hơi dung môi nhờ dòng khí N 2 được liên 
tục thổi vào và sự bắn phá của các giọt tích điện cùng dấu. Cuối cùng dẫn đến  
sự hình thành pha hơi của các ion. Nhờ lực hút tĩnh điện mà các ion này được dẫn  

16


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
vào bộ phân tích khối phổ qua một cửa sổ rất nhỏ. Dung môi và khí trơ N2 được 
hút ra ngoài do một dòng khí (Curtain Gas).
 Có 2 chế độ bắn phá: bắn phá với chế độ ion dương và ion âm.
 Loại hình thành ion dương.
o Phù hợp nhất cho phân tích các loại thuốc có tính bazo.
o Thường hình thành nên ion [M+H]+.
o Cũng có thể hình thành ion [M+nH]n+ ,  [M+Na+]+
 Loại hình thành ion âm.
o Thích hợp nhất cho sự phân tích các loại thuốc có tính axit.
o [M­H]­ , [M­nH]n­
 Đây là kĩ thuật ion hóa mềm, có độ nhạy cao. Kĩ thuật này ứng dụng phân  
tích   các   chất   không   phân   cực   như:   protein,   peptit,   cacbonhydrat,   nucleotit,  
polyetilen glycocol,... và các chất phân cực có khối lượng phân tử nhỏ.
b) Chế độ ion hoá hoá học ở áp suất khí quyển (APCI).
Chất phân tích và dung môi ở dạng lỏng được chuyển thành các giọt nhỏ rồi  

Hình 1.6: Bộ phân tích tứ cực
Một số ion có tỷ số m/z xác định cộng hưởng với thế xoay chiều xác định 
có thể đi thẳng qua khoảng không đến detector. Trong khi đó các ion khác không  
sẽ có quỹ đạo không ổn định va chạm với các cực và bị  giữ  lại ở  đó. Tuy nhiên 
để  thu được tất cả  các ion ta quét điện áp theo chu kỳ từ  zero đến một điện áp 
nhất định tăng dần sau đó lại trở lại zero, lần lượt các ion sẽ  vượt qua được tứ 
cực cũng có khối lượng từ nhỏ đến lớn để đến detector
 Bộ phân tích tứ cực bẫy ion  (Quadrupole Ion­Trap Mass Analyser)
Bẫy tứ cực hoạt động theo nguyên lý bộ phân tích khối tứ cực, chỉ có một  
điểm khác là các ion được lưu giữ  và đưa dần ra khỏi bẫy. Bằng cách thay đổi 

18


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
thế  xoay chiều áp vào các cực các ion có tỷ  số  m/z khác nhau có thể  vượt qua 
khoảng không để đến detector. Các ion này cũng có thể bị  bắn phá trong bãy để 
thu được các ion con. Về nguyên tắc loại phân tích khối phổ bãy ion có thể  làm 
đến MS nhiều lần.
Loại thiết bị  này bao gồm một điện cực vòng (ring electrode) với nhiều 
điện cực bao xung quanh, điện cực đầu cột (end­cap electrode) ở trên và ở dưới. 
Trái với lại thiết bị tứ cực  ở trên, các ion sau khi đi vào bẫy ion theo một đường  
cong  ổn định được bẫy lại cho đến khi một điện áp RF được đặt trên điện cực 
vòng. Các ion khác nhau m/z sau đó trở nên không ổn định và sẽ có hướng đi về 
phía detector. Do điện áp RF khác nhau trong hệ thống này mà thu được một phổ 
khối lượng đầy đủ.
 Bộ phân tích tứ cực chặp ba (triple Quadrupole Analyser).
Gồm ba tứ cực ghép nối với nhau. 
            .

cuối của thiết bị khối phổ là bộ phận phát hiện ion. Bộ phận phát hiện cho phép 
khối phổ  tạo ra một tín hiệu của các ion tương  ứng từ  các electron thứ  cấp đã 
được khuếch đại hoặc tạo ra một dòng do điện tích di chuyển. Có hai loại bộ 
phận phát hiện phổ biến: bộ phận phát hiện nhân electron (electron multipler) và 
bộ phận phát hiện nhân quang (photo multipler).
Bộ  phận phát hiện nhân electron là một trong những detector phổ  biến 
nhất, có độ nhạy cao. Một ion đập vào bề  mặt diot làm bật ra các electron. Các 
electron thứ  cấp sau đó được dẫn tới các diot tiếp theo và sẽ tạo ra electron thứ 
cấp nhiều hơn nữa, tạo thành dòng các electron (1­106)
Bộ  phận phát hiện nhân quang cũng giống như  thiết bị  nhân electron, các  
ion ban đầu đập vào một diot tạo ra dòng các electron. Khác với detector nhân 
electron, các electron sau đó sẽ va đập vào một màn chắn photpho và giải phóng  
ra các photon. Các photon này được phát hiện bởi một bộ nhân quang hoạt động 
như  thiết bị  nhân electron. Số  lượng các photon tỷ  lệ  với cường độ  tín hiệu.Ưu 
điểm của phương pháp này là các ống nhân quang được đặt trong chân không nên 
loại bỏ được các khả năng nhiễm bẩn.

20


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình

CHƯƠNG 2:  ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
­ Ochratoxin là độc tố  gây tác hại vào các cơ  quan quan trọng của cơ  thể 
như: thần kinh, gan, thận và hệ  miễn dịch.  Ochratoxin A  gây hậu quả  nghiêm 
trọng đối với người và động vật nuôi ở nồng độ cực thấp (ppb). Ochratoxin B có 


Độ chính xác của phương pháp (độ đúng và độ chụm)

 Áp dụng phương pháp để  xác định Ochratoxins trong các loại mẫu thực  
phẩm, rượu lên men.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Phương pháp tách chiết mẫu
Chọn dung môi dễ  hoà tan chất phân tích để  chiết chất phân tích ra khổi  
nền  mẫu.   Dung  môi  đó  có   thể   là:  chloroform,   methanol,   dung  dịch  cacbonate  
loãng,…Vì loại dung môi này thường kéo theo rất nhiều chất tạp khác có tính 
chất tương tự  chất phân tích bị  chiết vào nên rất cần loại bớt các chất tạp này. 
Chiết pha rắn là một phương pháp chuẩn bị  mẫu để  là giàu và làm sạch mẫu 
phân tích từ dung dịch bằng cách hấp phụ lên cột chiết pha rắn. Sau đó chất phân  
tích được rửa giải bằng một lượng nhỏ dung môi thích hợp. 
2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.3.1. Thiết bị, dụng cụ
2.3.1.1. Thiết bị
 Hệ thống sắc ký lỏng khối phổ khối phổ LC­MS/MS của Shimadzu bao gồm:
+ Máy sắc ký lỏng của Shimadzu. Model 20 AD­UFLC.
+ Máy khối phổ.
Nước sản xuất: Mỹ
Model: AB sciex Triplequard 5500

22


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình
 Cột sắc ký: Water­ cột C18  (250mm × 2,1mm × 5μm) và tiền cột C18 (4mm × 
2,1mm × 3μm) 

kín, thổi khô, hoà tan cặn trong  1 ml MeOH. Chuẩn gốc được bảo quản ở nhiệt  
độ từ 0 – 5 C, trong 6 tháng.
­ Dung dịch chuẩn hỗn hợp làm việc: được pha tùy vào mục đích xây dựng  
khoảng đường chuẩn, thông thường nồng độ chuẩn được pha trong khoảng nồng  
độ từ 2,5 µg/l ­ 50 µg/l 
Bảng 2.1: Bảng pha dung dịch chuẩn chạy máy
Nồng   độ   hỗn   hợp 
chuẩn     làm   việc 
(µg/l)
Thể   tích  lấy  chuẩn 
làm việc (µl)
Định mức (ml)
Nồng   độ   chuẩn 
(µg/l) 

500

50

50

50

25

100

100

500

Hoá, Nghệ An.
­ Khối lượng mẫu lấy: 100 – 500 g/mẫu
­ Bảo quản: nhiệt độ thường
­ Mẫu đảm bảo độ đồng nhất theo yêu cầu
+Với mẫu rượu: lắc đều trước khi xử lý, rung loại bọt với rượu vang nổ
+ Với mẫu ngũ cốc: Dùng máy đồng nhất mẫu để đồng nhất khoảng 500g 
mẫu tới cỡ hạt khoảng 1­2 mm.

24


Luận văn thạc sĩ                                                                      Nguy ễn Th ị Hà 
Bình

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tối ưu các điều  kiện chạy máy LC­MS/MS
3.1.1 Tối ưu các điều kiện chạy của máy khối phổ MS/MS
3.1.1.1 Khảo sát ion mẹ và ion con
Vì ochratoxin A, B là những chất có khối lượng phân tử  không lớn và độ 
phân cực trung bình. Qua tham khảo tài liệu chúng tôi tiến hành khảo sát xác định 

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status