Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
MỞ ĐẦU
Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng được quan tâm bởi nó liên
quan trực tiếp tới sức khỏe của tất cả người tiêu dùng. Thời gian vừa qua trong
nước liên tiếp phát hiện các vụ ngộ độc thực phẩm trong đó có các vụ ngộ độc
mycotoxin đặc biệt nghiêm trọng …đã gây ra tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng
khi lựa chọn thực phẩm cũng như sử dụng thực phẩm thế nào là đúng cách. Theo
thống kê của Cục An toàn thực phẩm về các vụ ngộ độc thực phẩm trong những
năm gần đây trên cả nước:
Năm 2009: Toàn quốc xảy ra 147 vụ ngộ độc thực phẩm, có 5026 người
mắc; 3958 người nhập viện; 33 người tử vong.
Năm 2010: Tình hình NĐTP trong năm 2010 phức tạp. Toàn quốc đã xảy ra
175 vụ ngộ độc trong đó có 34 vụ ngộ độc trên 30 người làm 5664 người mắc 42
trường hợp tử vong, so sánh với số liệu trung bình trên năm của giai đoạn 2006
2009, số vụ ngộ độc giảm 9,1%; số mắc giảm 17,6% và số tử vong giảm 19,2%.
Năm 2011: 148 vụ, 4700 người mắc, 27 người tử vong.
Năm 2012: 168 vụ, 5541 người mắc, 34 người tử vong.
Theo TS Trần Quang Trung, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Bộ Y
tế, trong 9 tháng của năm 2013, cả nước đã có 108 vụ ngộ độc thực phẩm làm
hơn 2.800 người mắc, trong đó có 18 ca tử vong. Trong 40 vụ ngộ độc thực
phẩm được thống kê trong quý III này thì nguyên nhân do vi sinh vật là 23 vụ, do
độc tố tự nhiên 4 vụ, do hóa chất 2 vụ và 11 vụ chưa xác định được nguyên nhân.
Các vụ ngộ độc xảy ra khắp nơi, từ gia đình riêng đến tập thể.
Ochratoxin là một loại độc tố được sinh ra bởi các chủng nấm mốc thuộc
các giống Aspergilus ochraceus và Penicillium verrucusum và là loại độc tố có
tiềm năng gây ung thư và viêm thận ở người và động vật. Độc tố này đã được
phát hiện trên nhiều nông sản khác nhau bao gồm ngũ cốc và các sản phẩm của
chúng. Điều đáng lo ngại là khi chúng ta ăn phải thức ăn bị nhiễm ochratoxin nó
1
̀ ́ ̉
́ ự hình thành nấm mốc và độc tố của chúng có thể bắt đầu từ
khi cây còn ở trên đồng, lúc thu hoạch, trong khi bảo quản hoặc ngay cả trong
quá trình chế biến thức ăn cho vật nuôi. Như vậy, không nơi nào trên thế giới có
thể thoát khỏi nấm mốc và độc tố từ chúng, và tác hại của chúng là vô cùng to
lớn đối với năng suất vật nuôi và sức khỏe con người.
Để kiểm soát mức độ nhiễm ochratoxin trong thực phẩm, ở Việt Nam
cũng như trên thế giới đã có nhiều phương pháp phân tích được nghiên cứu và
ứng dụng. Nhưng với những đặc điểm ưu việt và độ chính xác cao nên các
phương pháp phân tích sắc ký lỏng khối phổ được coi là phương pháp phân tích
có giá trị pháp lý để phát hiện và định lượng nồng độ ochratoxin ở lượng vết hay
siêu vết.
Xuất phát từ tính cấp thiết của xã hội và tính ưu việt của phương pháp
phân tích, chúng tôi xây dựng phương pháp nghiên cứu:
"Xác định hàm lượng Ochratoxin trong thực phẩm bằng phương pháp sắc ký
lỏng hai lần khối phổ (LCMS/MS)”.
Mục tiêu của thực hiện đề tài nghiên cứu là:
2
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
1. Xây dựng phương pháp xác định hàm lượng của Ochratoxin trong thực
phẩm bao gồm:
Khảo sát các điều kiện trên máy sắc ký lỏng hai lần khối phổ
Khảo sát các điều kiện xử lý mẫu.
Thẩm định phương pháp đã xây dựng.
2. Áp dụng phương pháp xác định ochratoxin trong ngũ cốc, sản phẩm từ ngũ
cốc, rượu lên men trên thị trường trong nước.
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
Ochratoxin A
Ochratoxin B
Hình 1.1: Cấu trúc các Ochratoxins
1.1.2.Tính chất hóa lý của Ochratoxins
Ochratoxins là đốc tố tinh thể không màu, bền với nhiệt, tan trong dung
môi hữu cơ phân cực như chloroform, methanol, …, ít tan trong nước và tan trong
đệm carbonat loãng). Ochratoxins rất bền vững với các xử lý nhiệt và hóa chất.
Độc tố được sản sinh nhiều nhất ở nhiệt độ từ 20250C. Sự sản sinh ochratoxins
phụ thuộc chủng nấm mốc, hoạt tính của nước trong hạt, cơ chất, nhiệt độ.
Ochratoxins dễ bị phân hủy bởi ánh sáng, trong môi trường kiềm hoặc chất tẩy
rửa.
Ochratoxin A phát huỳnh quang và hấp thụ UV cực đại tại 365nm.
Ochratoxin A có điểm nóng chảy ở 1690C. Phổ hồng ngoại trong cloroform cho
các píc có độ dài 3380, 1723,1678, 1655 cm 1 OTA có tính axit yếu pKa1 = 4,24,4
và pKa2 = 7,07,3. Ochratoxin A phát huỳnh quang xanh khi dùng thiết bị sắc ký
lớp mỏng (TLC) chiếu tia UV ở 366nm.
Ochratoxin B có trọng lượng phân tử 369,37. Ochratoxin B có thể phát
huỳnh quang màu xanh khi chiếu tia UV bước sóng 318 nm. Nhiệt độ nóng chảy
khoảng 2210C.
Cơ chế tác động của ochratoxins: ochratoxins gây ức chế sự vận chuyển
của ribonucleic axit (tARN) và các axitamin. Ochratoxins còn ức chế vi khuẩn,
nấm men và phenylalanine tARN ở gan. Tác động làm ức chế sự tổng hợp
thể, có thể gây tử vong cho động vật. Khi nhiễm độc ochratoxin cơ thể rất mẫn
cảm với các loại bệnh thông thường
6
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
Bào mòn niêm mạc của ống tiêu hóa do lớp tế bào niêm mạc bị chết
bong ra và bị khô lại hình thành nên một lớp màng bọc làm cản trở sự chuyển
thức ăn đi trong ống tiêu hóa
Làm thay đổi hoạt động sinh lý bình thường gây rối loạn sinh sản. Ở thú
mang thai có thể gây chết thai. Đối với gia cầm có thể gây tỷ lệ chết phôi ở giai
đoạn đầu rất cao, tỷ lệ nở thấp
Làm giảm tính ngon miệng đối với thức ăn do sự phát triển của nấm
mốc làm mất mùi thức ăn
Làm hư hại các vitamin trong thức ăn do sự lên men phân giải của nấm
mốc
Ngoài các tác hại trên nấm mốc có trong thức ăn còn lên men phân giải
các nguồn dường chất (glucid, protein, acid amin, vitamin...) làm cho thức ăn bị
giảm giá trị nghiêm trọng, làm mất mùi tự nhiên, chuyển sang mùi hôi mốc, vật
nuôi không thích ăn.
Như vậy có thể nói rằng độc tố nấm gây ra những tác hại rất lớn và hậu
quả vô cùng nghiêm trọng cho cơ thể của người và động vật.
Tuy theo t
̀
ưng loai ma đôc tô nâm môc có th
̀
̣
̀ ̣
Hạt cà phê rang, cà phê bột
5
Cà phê uống liền
10
Rượu vang, nước nho ép
2
Thực phẩm dành cho trẻ dưới 36 tháng tuổi
0,5
Gia vị
30
Sản phẩm chiết xuất từ cam thảo
80
Ngũ cốc và bột ngũ cốc
3
Hiện chưa có quy định cụ thể nào về mức MRL cho ochratoxin B kể cả
trong nước và tiêu chuẩn Châu Âu (EN)
1.2 Các phương pháp xác định
1.2.1 Phương pháp ELISA (enzymelinked immunosorbent assay).
Nguyên tắc dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể.
Ochratoxin chuẩn được cộng hợp với enzyme, tạo thành phức hợp Ochratoxin
enzyme và được sử dụng như một kháng nguyên ở nồng độ nhất định, cạnh tranh
với ochratoxin có trong mẫu. Kháng thể đặc hiệu với ochratoxin được gắn lên bề
mặt giếng nhựa polystryren. Dịch chiết mẫu trong methanol 70% được trộn cộng
hợp với ochratoxin – enzyme và được cho vào giếng có phủ kháng thể, các
ochratoxin có trong mẫu (nếu có) sẽ cạnh tranh với phức hợp ochratoxin enzyme
để gắn vào kháng thể cố định trên polystryren. Sau đó rửa sạch các phức hợp
thừa, cơ chất phản ứng với enzyme được đưa vào tạo màu. Ủ một thời gian sau
đó thêm vào dung dịch ngưng phát màu để tạo điều kiện đồng đều về thời gian
cho mọi giếng. Tiến hành đo độ hấp thụ của mẫu và dãy chuẩn bằng máy đo
Phương pháp sắc ký khí đã được một số tác giả ứng dụng để xác định các
loại độc tố Ochratoxin. Tuy nhiên phương pháp chỉ phân tích được những chất
dễ bay hơi, còn các chất khó bay hơi thì phải tạo dẫn xuất nên tốn thời gian và
hóa chất. Hơn nữa, để phân tích được đồng thời các chất thì cần thời gian phân
tích dài. Do vậy, phương pháp ít được ứng dụng để phân tích các loại độc tố
9
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
Ochratoxin này
Tác giả Yuying Jiao và các cộng sự [31] đã tiến hành xác
định Ochratoxin trong thực phẩm bằng phương pháp sắc ký khí. Ở đó Ochratoxin
A được chuyển thành dạng dẫn xuất ester 0methyl ochratoxin A và được xác
định bằng sắc ký khí khối phổ với chế độ ESI âm.
1.2.3. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và cột ái lực miễn
dịch (IAC)
Giống như ELISA, cột ái lực miễn dịch cũng dựa trên sự kết hợp đặc hiệu
giữa kháng nguyên và kháng thể. Kháng thể đặc hiệu với ochratoxin được gắn
lên giá rắn của cột sắc ký (thường dùng Sepharose 4B), tạo cho IAC đặc tính vừa
tinh sạch vừa cô đặc ochratoxin. Mẫu được chiết với acetonitril/H 2O, sau đó
được pha loãng và cho qua cột ái lực miễn dịch. Cột được rửa sạch những tạp
chất không gắn lên kháng thể và được giải hấp bằng methanol. Tiến hành định
lượng bằng HPLC với detector huỳnh quang . Bản thân Ochratoxin là chất phát
huỳnh quang tại bước sóng hập thụ 333 nm, bước sóng phát xạ 460 nm nên đã có
rất nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với
detector huỳnh quang để xác định.
gradient ở khoảng 8 phút đã có thể cho ra chất phân tích với tín hiệu tốt. Độ thu
hồi, độ chụm được tiến hành đo ở 3 mức nồng độ 1, 10, 50 ng/ml. Giới hạn phát
hiện và giới hạn định lượng ở trong nước tiểu tương ứng là 0,3 và 0,7 ng/ml. Cột
sắc ký sử dụng là cột C18 – Waters, tốc độ dòng 0,5 ml/phút. Pha động: 90%
kênh A (nướu, acetonitril, aceticacid 90:10:0,1) trong 1 phút, tăng tỷ lệ 60%
A/40%B (acetonitril và acetic acid 100:0,1) trong 6 phút, đưa về 90% B ở giây
tiếp theo và giữ trong vòng 1 phút. Tổng thời gian chậy sắc ký là 8 phút. Detector
khối phổ thực hiện ở chế độ ion âm, IS=4V, nhiệt độ nguốn 400 0C, với
ochratoxin A có các thông số tương ứng: DP=20V, FP=74V, EP=8,6, CE=25V,
CXP=9,5V, với ochratoxin B có các thông số tương ứng: DP=20V, FP=86,
EP=8,6, CE=44,41V, CXP=15,11V. Ion định dạng: OTA: m/z 402.1>357.9,
OTB: m/z 368.0>133.1. ở trong nghiên cứu này tác giả coi ochratoxin B như là
một nội chuẩn, được thêm vào từ đầu để kiểm soát hiệu suất thu hồi. Đầu vi
chiết pha rắn được nhúng vào 1 ml mẫu ở tốc độ khuấy 850 rpm, thời gian hấp
11
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
thụ và giải hấp thụ là 1 giờ 15 phút. Phương pháp có ưu điểm tính tự động hóa
cao, ít độc hại cho người phân tích.
Tại Viện nghiên cứu thuốc trừ sâu và nước, Đại học Jaume, Tây Ban
Nha, nhóm tác giả Eduardo Beltrán [20] đã nghiên cứu xác định một số
mycotoxin trong thực phẩm và sữa bằng sắc ký lỏng khối phổ. Mẫu được chiết
bởi acetonitril: nước (80:20), làm sạch mẫu bằng cột ái lực miễn dịch
(Aflaochra HPLCTM) được cung cấp bởi Vicam (Tecasa, Madrid, Tây Ban Nha).
Phương pháp cho độ thu hồi 80110% tại mức thêm chuẩn 0,025 và 0,1 ng/g,
RSD nhỏ hơn 15%.
Nhóm tác giả L.C. Huang đã nghiên cứu xác định một nhóm các chất
tĩnh và pha động khác nhau. Do vậy, chúng di chuyển với tốc độ khác nhau và
tách
Sắc ký lỏng
ra
khỏi
Ion hóa
Bộ phân
tích khối
nhau.
Detector/ Lưu
giữ số liệu
Hình 1.3: Sơ đồ đơn giản của hệ thống sắc ký lỏng.
Trong HPLC, pha tĩnh chính là chất nhồi cột làm nhiệm vụ tách hỗn hợp
chất phân tích, đó là những chất rắn, xốp và kích thước hạt rất nhỏ, từ 3 – 7 µm.
13
động theo thời gian gọi là rửa giải gradient nồng độ.
14
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
Detector là bộ phận quan trọng quyết định độ nhạy của phương pháp. Tuỳ
thuộc bản chất lí hoá của chất phân tích mà lựa chọn detector cho phù hợp. Một
số loại detector dùng trong HPLC như: Detector quang phổ hấp thụ phân tử (UV
VIS), detector huỳnh quang (RF), detector độ dẫn, detector mảng diot (DAD),
detector khối phổ (MS).
1.3.2 Khối phổ (Mass Spectrometry)
Khối phổ là thiết bị phân tích dựa trên cơ sở xác định khối lượng phân tử
của các hợp chất hóa học bằng việc phân tách các ion phân tử theo tỉ số giữa
khối lượng và điện tích (m/z) của chúng. Các ion có thể tạo ra bằng cách thêm
hay bớt điện tích của chúng như loại bỏ electron, proton hóa,... Các ion tạo thành
này được tách theo tỉ số m/z và phát hiện, từ đó có thể cho thông tin về khối
lượng hoặc cấu trúc phân tử của hợp chất.
Tránh ion phân tích va chạm
với ion trong không khí
Chân không cao
Nguồn ion
Phân tích
khối
Phổ khối
Hình 1.5: Bộ nguồn ion hóa.
Khi dung dịch mẫu ra khỏi cột sắc ký, được đưa vào ống mao quản bằng
kim loại. Đầu mao quản này được áp điện thế cao (46 kV). Khi điện tích dư trên
đầu mao quản vượt qua sức căng bề mặt của dịch mẫu thì sẽ tạo thành các giọt
mang điện tích. Tiếp đó các giọt mang điện này được làm giảm kích thước nhờ
hai quá trình liên tục xảy ra, đó là sự hóa hơi dung môi nhờ dòng khí N 2 được liên
tục thổi vào và sự bắn phá của các giọt tích điện cùng dấu. Cuối cùng dẫn đến
sự hình thành pha hơi của các ion. Nhờ lực hút tĩnh điện mà các ion này được dẫn
16
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
vào bộ phân tích khối phổ qua một cửa sổ rất nhỏ. Dung môi và khí trơ N2 được
hút ra ngoài do một dòng khí (Curtain Gas).
Có 2 chế độ bắn phá: bắn phá với chế độ ion dương và ion âm.
Loại hình thành ion dương.
o Phù hợp nhất cho phân tích các loại thuốc có tính bazo.
o Thường hình thành nên ion [M+H]+.
o Cũng có thể hình thành ion [M+nH]n+ , [M+Na+]+
Loại hình thành ion âm.
o Thích hợp nhất cho sự phân tích các loại thuốc có tính axit.
o [MH] , [MnH]n
Đây là kĩ thuật ion hóa mềm, có độ nhạy cao. Kĩ thuật này ứng dụng phân
tích các chất không phân cực như: protein, peptit, cacbonhydrat, nucleotit,
polyetilen glycocol,... và các chất phân cực có khối lượng phân tử nhỏ.
b) Chế độ ion hoá hoá học ở áp suất khí quyển (APCI).
Chất phân tích và dung môi ở dạng lỏng được chuyển thành các giọt nhỏ rồi
Hình 1.6: Bộ phân tích tứ cực
Một số ion có tỷ số m/z xác định cộng hưởng với thế xoay chiều xác định
có thể đi thẳng qua khoảng không đến detector. Trong khi đó các ion khác không
sẽ có quỹ đạo không ổn định va chạm với các cực và bị giữ lại ở đó. Tuy nhiên
để thu được tất cả các ion ta quét điện áp theo chu kỳ từ zero đến một điện áp
nhất định tăng dần sau đó lại trở lại zero, lần lượt các ion sẽ vượt qua được tứ
cực cũng có khối lượng từ nhỏ đến lớn để đến detector
Bộ phân tích tứ cực bẫy ion (Quadrupole IonTrap Mass Analyser)
Bẫy tứ cực hoạt động theo nguyên lý bộ phân tích khối tứ cực, chỉ có một
điểm khác là các ion được lưu giữ và đưa dần ra khỏi bẫy. Bằng cách thay đổi
18
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
thế xoay chiều áp vào các cực các ion có tỷ số m/z khác nhau có thể vượt qua
khoảng không để đến detector. Các ion này cũng có thể bị bắn phá trong bãy để
thu được các ion con. Về nguyên tắc loại phân tích khối phổ bãy ion có thể làm
đến MS nhiều lần.
Loại thiết bị này bao gồm một điện cực vòng (ring electrode) với nhiều
điện cực bao xung quanh, điện cực đầu cột (endcap electrode) ở trên và ở dưới.
Trái với lại thiết bị tứ cực ở trên, các ion sau khi đi vào bẫy ion theo một đường
cong ổn định được bẫy lại cho đến khi một điện áp RF được đặt trên điện cực
vòng. Các ion khác nhau m/z sau đó trở nên không ổn định và sẽ có hướng đi về
phía detector. Do điện áp RF khác nhau trong hệ thống này mà thu được một phổ
khối lượng đầy đủ.
Bộ phân tích tứ cực chặp ba (triple Quadrupole Analyser).
Gồm ba tứ cực ghép nối với nhau.
.
cuối của thiết bị khối phổ là bộ phận phát hiện ion. Bộ phận phát hiện cho phép
khối phổ tạo ra một tín hiệu của các ion tương ứng từ các electron thứ cấp đã
được khuếch đại hoặc tạo ra một dòng do điện tích di chuyển. Có hai loại bộ
phận phát hiện phổ biến: bộ phận phát hiện nhân electron (electron multipler) và
bộ phận phát hiện nhân quang (photo multipler).
Bộ phận phát hiện nhân electron là một trong những detector phổ biến
nhất, có độ nhạy cao. Một ion đập vào bề mặt diot làm bật ra các electron. Các
electron thứ cấp sau đó được dẫn tới các diot tiếp theo và sẽ tạo ra electron thứ
cấp nhiều hơn nữa, tạo thành dòng các electron (1106)
Bộ phận phát hiện nhân quang cũng giống như thiết bị nhân electron, các
ion ban đầu đập vào một diot tạo ra dòng các electron. Khác với detector nhân
electron, các electron sau đó sẽ va đập vào một màn chắn photpho và giải phóng
ra các photon. Các photon này được phát hiện bởi một bộ nhân quang hoạt động
như thiết bị nhân electron. Số lượng các photon tỷ lệ với cường độ tín hiệu.Ưu
điểm của phương pháp này là các ống nhân quang được đặt trong chân không nên
loại bỏ được các khả năng nhiễm bẩn.
20
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Ochratoxin là độc tố gây tác hại vào các cơ quan quan trọng của cơ thể
như: thần kinh, gan, thận và hệ miễn dịch. Ochratoxin A gây hậu quả nghiêm
trọng đối với người và động vật nuôi ở nồng độ cực thấp (ppb). Ochratoxin B có
Độ chính xác của phương pháp (độ đúng và độ chụm)
Áp dụng phương pháp để xác định Ochratoxins trong các loại mẫu thực
phẩm, rượu lên men.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Phương pháp tách chiết mẫu
Chọn dung môi dễ hoà tan chất phân tích để chiết chất phân tích ra khổi
nền mẫu. Dung môi đó có thể là: chloroform, methanol, dung dịch cacbonate
loãng,…Vì loại dung môi này thường kéo theo rất nhiều chất tạp khác có tính
chất tương tự chất phân tích bị chiết vào nên rất cần loại bớt các chất tạp này.
Chiết pha rắn là một phương pháp chuẩn bị mẫu để là giàu và làm sạch mẫu
phân tích từ dung dịch bằng cách hấp phụ lên cột chiết pha rắn. Sau đó chất phân
tích được rửa giải bằng một lượng nhỏ dung môi thích hợp.
2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.3.1. Thiết bị, dụng cụ
2.3.1.1. Thiết bị
Hệ thống sắc ký lỏng khối phổ khối phổ LCMS/MS của Shimadzu bao gồm:
+ Máy sắc ký lỏng của Shimadzu. Model 20 ADUFLC.
+ Máy khối phổ.
Nước sản xuất: Mỹ
Model: AB sciex Triplequard 5500
22
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
Cột sắc ký: Water cột C18 (250mm × 2,1mm × 5μm) và tiền cột C18 (4mm ×
2,1mm × 3μm)
kín, thổi khô, hoà tan cặn trong 1 ml MeOH. Chuẩn gốc được bảo quản ở nhiệt
độ từ 0 – 5 C, trong 6 tháng.
Dung dịch chuẩn hỗn hợp làm việc: được pha tùy vào mục đích xây dựng
khoảng đường chuẩn, thông thường nồng độ chuẩn được pha trong khoảng nồng
độ từ 2,5 µg/l 50 µg/l
Bảng 2.1: Bảng pha dung dịch chuẩn chạy máy
Nồng độ hỗn hợp
chuẩn làm việc
(µg/l)
Thể tích lấy chuẩn
làm việc (µl)
Định mức (ml)
Nồng độ chuẩn
(µg/l)
500
50
50
50
25
100
100
500
Hoá, Nghệ An.
Khối lượng mẫu lấy: 100 – 500 g/mẫu
Bảo quản: nhiệt độ thường
Mẫu đảm bảo độ đồng nhất theo yêu cầu
+Với mẫu rượu: lắc đều trước khi xử lý, rung loại bọt với rượu vang nổ
+ Với mẫu ngũ cốc: Dùng máy đồng nhất mẫu để đồng nhất khoảng 500g
mẫu tới cỡ hạt khoảng 12 mm.
24
Luận văn thạc sĩ Nguy ễn Th ị Hà
Bình
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tối ưu các điều kiện chạy máy LCMS/MS
3.1.1 Tối ưu các điều kiện chạy của máy khối phổ MS/MS
3.1.1.1 Khảo sát ion mẹ và ion con
Vì ochratoxin A, B là những chất có khối lượng phân tử không lớn và độ
phân cực trung bình. Qua tham khảo tài liệu chúng tôi tiến hành khảo sát xác định
25