KHẢO SÁT MỨC ĐỘ Ô NHIỄM VI SINH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CÁC QUY TRÌNH GIẶT TRÊN CÁC LOẠI ĐỒ VẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Minh Tuấn*, Trịnh Thị Thoa**, Vương Minh Nguyệt**,
Nguyễn Thị Thu Phương**, Lê Thị Anh Đào**, Phan Thị Kim Hương**, Nguyễn Thị Lệ**,
Nguyễn Phi Châu**, Dương Ngọc Điệp**, Nguyễn Thị Ngọc Sương**, Nguyễn Thanh Bảo*
TÓM TẮT
Mở đầu: Trong hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, công tác xử lý đồ vải y tế được xem là một
khâu quan trọng vì đồ vải y tế được xem là một mắc xích trong chu kỳ lây truyền các tác nhân vi khuẩn gây
nhiễm khuẩn bệnh viện.
Mục tiêu:(1) Khảo sát mức độ ô nhiễm và phổ vi khuẩn ô nhiễm trên các loại đồ vải y tế, bao gồm đồ vải
bình thường, và đồ vải phẫu thuật đang được sử dụng tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.(2)
Đánh giá hiệu quả của các quy trình giặt xử lý đồ vải y tế trong việc làm giảm mức độ ô nhiễm vi khuẩn.
Phương pháp: Để có thể khảo sát mức độ ô nhiễm, các loại vi khuẩn gây ô nhiễm và hiệu quả của các quy
trình giặt xử lý đồ vải y tế tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên 180
mẫu gồm đồ vải bình thường và đồ vải phẫu thuật, sử dụng các kỹ thuật vi sinh thường quy để phân lập, định
danh và đếm số lượng các vi khuẩn phân lập được
Kết quả: Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm vi khuẩn trên hai loại đồ vải nói trên là tương đương nhau và
rất cao(732-792CFU/cm2). Có tổng cộng tám loại vi khuẩn phân lập được, trong đó Staphylococcus spp,
Micrococcus spp, và E. coli chiếm tỷ lệ hàng đầu(21,7; 19,6; và 15,8%).
Kết luận: Các quy trình giặt xử lý thông thường có hiệu quả cao trong việc giảm mức độ ô nhiễm vi khuẩn
trên các loại đồ vải y tế.
ABSTRACT
SURVEY THE BACTERIAL POLUTION LEVEL AND EVALUATE THE EFFICACY OF DIFFERENT
WASHING PROCEDURES ON MEDICAL LINEN AT HO CHI MINH UNIVERSITY MEDICAL
CENTER
Huynh Minh Tuan, Trinh Thi Thoa, Vuong Minh Nguyet,
Nguyen Thi Thu Phuong, Le Thi Anh Dao, Phan Thi Kim Hương, Nguyen Thi Le,
Nguyen Phi Chau, Duong Ngoc Diep, Nguyen Thi Ngoc Suong, Nguyen Thanh Bao
Công tác xử lý đồ vải y tế trong bệnh viện là
một khâu quan trọng trong hoạt động chống
nhiễm khuẩn bởi vì đồ vải y tế được tái sử dụng
có thể được xem là một mắc xích quan trọng
trong chu kỳ lây truyền các tác nhân vi khuẩn
gây nhiễm khuẩn bệnh viện
Trên thực tế công tác xử lý và tái sử dụng đồ
vải y tế vẫn còn nhiều bất cập và chưa được
quan tâm đúng mức, mỗi bệnh viện có một qui
trình xử lý khác nhau không thống nhất, có bệnh
viện có bộ phận xử lý đồ vải riêng, có bệnh viện
sử dụng dịch vụ xử lý đồ vải ở ngoài(các công ty
chuyên giặt ủi đồ vải y tế)… Chất lượng của các
qui trình xử lý, đặc biệt là mức độ ô nhiễm vi
sinh vật trên đồ vải y tế chưa được kiểm định và
giám sát chặt chẽ, thường xuyên.
Tổng quan về đồ vải y tế
Đinh nghĩa
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về đồ vải, việc phân loại dựa vào tình hình thực
tế của từng đơn vị y tế. Sau đây là một số định
nghĩa về đồ vải y tế mà chúng tôi đưa ra dựa
vào tình hình hoạt động thực tế tại Bệnh viện
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Đồ vải bình thường: (ĐVBT) là đồ vải của
nhân viên y tế, bệnh nhân thỏa các điều kiện:
- Không dính máu hay dịch tiết.
Không phát sinh từ những bệnh phòng
truyền nhiễm: HIV, viêm gan C, viêm gan B,
salmonella, nấm, ghẻ, viêm gan A(8,4)
Hầu hết các nghiên cứu này đều cho thấy
những bất hợp lý trong các qui trình xử lý đồ vải
tại các bệnh viện nghiên cứu bao gồm: phân loại,
thu gom, xử lý, lưu trữ và tái sử dụng.
Các quy trình giặt xử lý đồ vải y tế
Trong thực tế các quy trình giặt xử lý ở các
đơn vị y tế khác nhau có rất nhiều khác biệt trong
việc sử dụng máy móc thiết bị, nguồn nước, nhiệt
độ nước, và các loại hóa chất sử dụng.
Trên thế giới: Trong thập niên 80 của thế kỷ
XX cũng đã có một số nghiên cứu về đồ vải cho
thấy lượng vi khuẩn có thể giảm đi đáng kể khi
giặt đồ vải ở nhiệt độ thấp 220C – 500C nếu sử
dụng đúng các hoá chất giặt trong đó có các hoá
chất tẩy trắng. Quy trình giặt ở nhiệt độ thấp có
hiệu quả tương đương với nhiệt độ cao.(1,7)
Ở Việt Nam trong các khảo sát tại bệnh viện
Bạch Mai báo cáo tại Hội Nghị Kiểm Soát Nhiễm
Khuẩn năm 2006 cho thấy không có sự khác biệt
giữa các quy trình giặt xử lý đồ vải y tế bằng xà
phòng với nước javel (thuốc tẩy) với quy trình
giặt chỉ sử dụng xà phòng. Kết quả cũng cho
thấy không có sự khác biệt giữa các quy trình
giặt xử lý đồ vải y tế bằng nước nóng so với
nước lạnh(9).
Staphylococcus aureus gây ngộ độc thực phẩm
Coagulase dương (Staphylococcus aureus,
Staphylococus intermedius) và coagulase âm
(Staphylococcus
epidermidis,
Staphylococcus
saprophyticus,
Staphylococcus
haemolyticuss).
Nhóm coagulase âm trước nay vẫn được xem là
hoại sinh không gây bệnh, nhưng hiện nay, theo
kết quả của các nghiên cứu mới đây nó cũng có
khả năng gây bệnh trong một số trường hợp đặc
biệt là nhiễm trùng cơ hội. Staphylococcus aureus
(tụ cầu khuẩn vàng) hiện nay là một trong
những tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn
bệnh viện, đặc biệt là các chủng kháng
Methicilline
(Methicilline
Resistant
Staphylococcus aureus = MRSA).
Staphylococcus spp có thể gây các bệnh từ
nhiễm khuẩn thông thường như mụn nhọt,
apxe, viêm tai, viêm khớp, viêm phổi, xoang mũi
đến nhiễm khuẩn trầm trọng như sưng phổi,
nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm màng
trong tim và nhiễm khuẩn đường tiểu, có thể
gây tử vong.
Chuyên Đề Ngoại Khoa
lớn. Độc tố ruột gồm 2 loại LT (Thermolabiles,
không bền với nhiệt) và ST (Thermostable, bền
mới nhiệt). Những dòng E.Coli có cả 2 loại độc tố
LT và ST sẽ gây tiêu chảy trầm trọng và kéo dài.
Độc tố ruột enterotoxin gồm cả nội độc tố và
ngoại độc tố, trong đó ngoại độc tố gây độc
mạnh hơn nội độc tố.
EIEC (Entero Invasive E. coli): E. coli xâm lấn,
vi khuẩn xâm nhập vào tế bào biểu mô đại tràng
làm tiêu hủy các hạt vùi trong không bào và
nhân lên trong tế bào. Chúng di chuyển qua cầu
nối gian bào sang tế bào lân cận, kết quả tế bào
niêm mạc đại tràng bị viêm gây nên tổn thương
như loét niêm mạc, gây tiêu chảy lẫn máu, đàm
(giống Shigella). Các chủng này có thể lên men
hay không lên men đường lactose và có phản
ứng LDC âm tính.
EHEC (Enterohemorhagic E. coli): E. coli gây
xuất huyết ruột và hội chứng tan máu – urê
huyết HUS, do ngoại độc tố hướng mạch máu.
Nhóm này còn được gọi là VETEC (Verocytoxin
producing colilic), gây tiêu chảy, vừa là nguyên
nhân gây viêm đại tràng xuất huyết vừa làm tổn
thương mao mạch gây hiện tượng sưng phù, có
thể gây tử vong, vài loại có độc tố ruột.
EAEC (Enteroaggretive E. coli): E. coli bám
dính vào tế bào niêm mạc ruột góp phần tạo
nên sự xâm lấn dai dẳng và do đó gây tiêu
chảy kéo dài dẫn đến sự kém hấp thu các chất
dinh dưỡng.
sinh độc tố trên thịt, rau quả, gia vị, bản chất là
một loại protein gây hủy hoại biểu bì và niêm
mạc ruột gây tiêu chảy, có thể nguy hiểm đến
tính mạng. Độc tố gây nôn mửa (emetic toxin), vi
khuẩn nhiễm trong gạo, cơm nguội, đậu các loại,
bản chất độc tố là phospholipid, có tính ổn định
cao, không bị phân hủy ở nhiệt độ cao và dịch dạ
dày. Ngoài ra, vi khuẩn còn có enzymm
hemolysine là 1 protein gây độ mạnh, có thể gây
chết người. Độc tố này có thể trung hòa bởi
cholesterol trong huyết thanh nhưng nó đã góp
phần cho sự phát triển của vi khuẩn.
Bacillus licheniformis gây ngộ độc thức ăn,
tiêu chảy, viêm ruột, dẫn đến nhiễm trùng máu.
Bacillus licheniformis cũng có thể gây viêm mắt,
và làm thai phụ sẩy thai.
Enterobacter
Phân bố trong tự nhiên như đất, nước, da
người, thực vật và các sản phẩm từ sữa.
Là loại hoại sinh đường ruột nhưng có thể
gây nhiễm khuẩn được tiểu, máu, vết thương,
đường hô hấp trên, ngoài ra, chúng còn là tác
nhân gây nhiễm khuẩn cơ hội và nhiễm khuẩn
bệnh viện.
Citrobacter
Có trong đất, nước, rác thải, thức ăn, ruột
người và động vật.
Không gây bệnh đường ruột nhưng có thể
Số lượng mẫu lấy
180 mẫu ngẫu nhiên gồm đồ vải bình
thường và đồ vải phẫu thuật.
Khảo sát vi sinh học
Nuôi cấy, phân lập, định danh và đếm số
lượng vi khuẩn theo quy trình kỹ thuật thường
quy tại Bộ môn Vi Sinh, Đại Học Y Dược TP. Hồ
Chí Minh.
Các chỉ số nghiên cứu
Số lượng vi khuẩn trung bình phân lập được
trên các loại đồ vải trước khi thực hiện quy trình
giặt xử lý.(Đơn vị tính CFU/cm2)
Số lượng vi khuẩn trung bình phân lập được
trên các loại đồ vải trong và sau khi hoàn tất quy
trình giặt xử lý.(Đơn vị tính CFU/cm2)
Tên và tần suất xuất hiện của các vi khuẩn
phân lập được.
KẾT QUẢ
Vật liệu nghiên cứu
Mức độ ô nhiễm vi sinh trên các loại đồ vải
Hóa chất giặt: xà phòng giặt và nước
javel(thuốc tẩy)
Bảng 1: Mức độ ô nhiễm vi khuẩn trên các loại đồ vải
Đồ vải phẫu thuật
60
296.75
Kết quả thu được cho thấy không có sự
chênh lệch về mức độ ô nhiễm vi khuẩn giữa hai
đồ vải bình thường và đồ vải phẫu thuật đang
được sử dụng tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh.
Tần suất xuất hiện của các loại vi khuẩn
phân lập được trên các loại đồ vải:
Bảng 2: Tần suất xuất hiện các loại vi khuẩn phân
lập được
STT
Vi khuẩn
ĐVBT
ĐVPT
Tần
Tỷ lệ
5
13
9
6
3
7
1
1
suất
chung
40/180
36/180
29/180
23/180
29/180
%
21.7
19.6
15.8
12.8
15.8
16/180 8.7
7/180 3.8
4/180 2.17
Kết quả ở bảng 2 cho thấy trong 180 mẫu đồ
0.55
Tỷ lệ %
100
18.3
0.38
100
0.088
0.069
Bảng 3 cho thấy sau khi hoàn thành quy
trình giặt xử lý (gồm cả giai đoạn sấy), mức độ
ô nhiễm vi khuẩn trên cả 2 loại đồ vải đều
giảm gần như hoàn toàn với tỷ lệ: đồ vải bình
thường 2.8 CFU/cm2, đồ vải phẫu thuật 0.7
CFU/cm2. Nếu so sánh giai đoạn sau khi giặt
và giai đoạn sau khi sấy thì sau khi sấy vi
khuẩn hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn. Như
vậy có thể nói tác dụng của quá trình sấy khô
với nhiệt độ từ (72 – 800C) là rất quan trọng
trong quy trình giặt xử lý đồ vải y tế.
Chuyên Đề Ngoại Khoa
6
Bảng 4: Tần suất xuất hiện các loại vi khuẩn trước và
sau giặt xử lý
STT
Tên vi sinh vật
27
15
26
3
13
7
1
1
0
0
0
3
0
Bảng 4 cho thấy tần suất xuất hiện của các
loại vi khuẩn ô nhiễm trên đồ vải y tế giảm đi
sau khi giặt xử lý. Trước khi giặt có sự xuất hiện
của 8 loại vi khuẩn, sau khi hoàn thành quy trình
giặt xử lý chỉ còn 3 loại vi khuẩn với số lượng rất
thấp. Tuy nhiên các loại vi khuẩn này
(Staphylococcus spp, Micrococcus spp và Bacillus
spp) là những vi khuẩn có độc tính gây bệnh cao,
có khả năng tồn tại lâu trong môi trường, và là
những nguyên nhân gây nhiễm trùng bệnh viện.
So sánh hiệu quả của các quy trình giặt xử lý
đồ vải y tế khác nhau với hóa chất (chỉ dùng xà
phòng với dùng xà phòng kết hợp nước javel) và
nhiệt độ nước (300C với 60 – 800C) sử dụng cho
thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Kết quả cũng cho thấy hiệu quả của các quy
trình giặt khác nhau với hóa chất và nhiệt độ
nước sử dụng khác nhau cho kết quả tương
đương, như vậy có thể xem xét sử dụng một quy
trình giặt xử lý đồ vải y tế đơn giản nhất, ít tốn
kém nhất mà vẫn có thể cho hiệu quả cao.
KẾT LUẬN
Đồ vải y tế đã qua sử dụng chưa được giặt
xử lý có mức độ ô nhiễm vi khuẩn rất cao, với
các tác nhân vi khuẩn hàng đầu như là
Staphylococcus spp, Micrococcus spp, E. coli… Để có
thể giảm thiểu khả năng lây nhiễm chéo cho
nhân viên hoạt động trong lĩnh vực xử lý đồ vải
y tế cần có những quy định cụ thể. Áp dụng các
quy trình giặt xử lý đồ vải chuẩn là đã có tác
dụng tốt giảm mức độ ô nhiễm vi khuẩn trên đồ
vải. Tuy nhiên trong các đơn vị đòi hỏi sự vô
khuẩn tuyệt đối, quy trình giặt xử lý đồ vải y tế
thông thường có thể không đáp ứng được vì một
số tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện hàng
đầu vẫn có thể tồn tại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Thomas MC, Giedinghagen DH, Hoff GL. Brief report: an
outbreak of scabies among employees in a hospital-associated
commercial laundry. Infect Control 1987; 8: 427-429.
Chuyên Đề Ngoại Khoa
7
Chuyên
Đề Ngoại Khoa
8
Chuyên Đề Ngoại Khoa
9