luận văn kinh doanh quốc tế mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết bị vật tư của công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí việt nam - Pdf 59

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên kinh tế, không
chỉ giúp sinh viên có thể hoàn thành tốt khóa luận mà còn giúp sinh viên có cơ hội tiếp
xúc thực tế với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp để giúp sinh viên có một cái
nhìn thực tế hơn.
Để hoàn thành tốt khóa luận, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc, các bộ phận
phòng ban công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam đã giúp đỡ và hỗ
trợ nhiệt tình trong thời gian thực tập và nghiên cứu số liệu để báo cáo tại đây. Thời gian
thực tế tại công ty không nhiều nhưng tôi đã thu được rất nhiều kiến thức chuyên ngành
bổ ích và rèn luyện, tích lũy được phần nào văn hóa lao động trong doanh nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong bộ môn Kinh doanh quốc tế, khoa Kinh
tế và Kinh doanh Quốc tế và nhà trường đã giúp đỡ lựa chọn đề tài phù hợp và tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành báo cáo thực tập và khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS.Phan Thu Giang, giáo viên hướng dẫn trực
tiếp đã sát sao và tận tình chỉ bảo để giúp tôi hoàn thành bài tập tốt nghiệp quan trọng
này. Do kiến thức còn hạn chế và thời gian thực tập không nhiều, nên bài làm còn có
nhiều thiếu sót, nhưng tôi hy vọng bài tập có thể đáp ứng được các yêu cầu của nhà
trường, cũng như giúp cho công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam có
cái nhìn tổng quát về các vấn đề đang gặp phải. Từ đó đề xuất một số hướng giải pháp tôi
đã nghiên cứu để góp phần nâng cao hiệu quả mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết
bị vật tư của công ty .
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Huyền

1

1



25
27
29


Từ viết tắt

3

Nghĩa tiếng việt

CP

Cổ phần

VNĐ

Việt Nam đồng

CN

Chi nhánh

CCDV

Cung cấp dịch vụ

BH

Bảo hiểm

xu thế chung cho mọi quốc gia nếu muốn tồn tại và phát triển, đặc biệt là các nước đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Sự hội nhập kinh tế đã đưa hoạt động xuất nhập khẩu
của nước ta trong những năm gần đây phát triển một cách mạnh mẽ. Trong năm 2018,
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước tính đạt 482 tỷ USD, tăng 12,6% so với năm
2017,nghĩa là vượt khoảng 60 tỷ USD so với năm ngoái.Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu
ước đạt 244 tỷ USD, tăng 13,8%; tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 238 tỷ USD, tăng
11,5%.Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, số thu ngân sách Nhà nước từ hoạt động xuất
nhập khẩu tính đến ngày 26/12 đạt 310.000 tỷ đồng, vượt 9,5% dự toán. Vì vậy, Đảng và
nước ta đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xuất nhập khẩu và coi là một
trong ba chương trình kinh tế lớn phải thực hiện
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung là một việc hết sức to lớn đối
với tình hình kinh tế của nước ta hiện nay . Trong đó có sự đóng góp to lớn và cơ bản của ngành
điện bởi đây là ngành không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như việc phục
vụ đời sống sinh hoạt của con người. Một vấn đề được đặt ra là việc cung cấp các trang thiết bị
điện phục vụ cho ngành mà chúng ta chưa đủ khả năng để sản xuất máy móc thiết bị nhằm đáp
ứng nhu cầu đó . Tuy nhiên với sự mở rộng hội nhập kinh tế , vấn đề này không còn quá khó
khăn với các nhà kinh doanh khi mà các nước có thể dễ dàng hơn trong việc nhập khẩu các
trang thiết bị móc móc hiện đại từ nước này sang nước khác, không chỉ gói gọn ở các cơ sở trong
nước. Hơn thế nữa, việc nhập khẩu từ các nước khác nhau cũng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt
Nam có thể mở rộng , nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại . Đó là lí do vì sao các doanh nghiệp
nhập khẩu của Việt Nam hiện nay luôn tìm kiếm những ‘ bạn hàng “ tiềm năng khác tùy từng
thời điểm và điều kiện khác nhau. Nắm bắt được thực tế này cùng với việc tìm hiểu trong quá
trình thực tập tại công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam em quyết
định chọn đề tài :” mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết bị vật tư của công ty cổ phần
dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam”
4


1.2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động mở rộng thị trường nhập

mỗi thị trường lại có những đặc điểm về mặt hàng khác nhau. Vì thế các giải pháp đưa ra
còn chưa sát so với thị trường chính mà công ty hướng đến.Bởi vậy nên em chọn đề tài”
mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết bị vật tư của công ty cổ phần điện lực dầu khí
Việt Nam” và phân tích rõ hơn từng thị trường.
1.3.Mục đích nghiên cứu
-

Mục tiêu chung: đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm ở rộng thị trường nhập khẩu

-

trang thiêt bị vật tư của của công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam
Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về hoạt động nhập khẩu và mở rộng thị trường nhập
khẩu của doanh nghiệp
Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nhập khẩu trang thiết bị vật tư, thực
trạng hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu của công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện
lực dầu khí Việt Nam, từ đó đánh giá những ưu điểm và tồn tại trong hoạt động mở rộng
thị trường nhập khẩu của công ty
Nêu rõ phương hướng và mục tiêu mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết bị vật
tư , đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm giúp công ty đạt được mục tiêu đề ra
1.4. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu trang thiết bị vật tư của công ty cổ phần
dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam
1.5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại công ty CP dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí
Việt Nam .
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thị trường nhập khẩu các trang thiết bị vật tư của
công ty trong giai đoạn 2016-2018.
1.6. Phương pháp nghiên cứu


CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG
NHẬP KHẨU TRANG THIẾT BỊ VẬT TƯ CỦA CÔNG TY CP DỊCH VỤ
KỸ THUẬT ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM
2.1. Lý luận về hoạt động nhập khẩu
2.1.1. Khái niệm về hoạt động nhập khẩu
Về mặt lý thuyết thì xuất nhập khẩu được hiểu là hoạt động kinh doanh buôn bán
trên phạm vi quốc tế, là sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên nguyên tắc trao đổi
ngang giá lấy tiền tệ là môi giới và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhập khẩu không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà nó là hệ thống các quan hệ buôn
bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.
Nhập khẩu của mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong
nước và tỷ giá hối đoái tại đây. Nếu thu nhập bình quân của người dân nước đó càng cao
thì nhu cầu sử dụng hàng nhập khẩu cũng theo đó mà tăng hơn. Ngược lại, nếu tỷ giá hối
đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn, điều này có thể tác
động đến nhập khẩu và khiến nhu cầu nhập khẩu giảm.
Luật Thương mại 2005 Điều 28 khoản 1 định nghĩa như sau:
“Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo quy định của pháp luật.”
2.1.2. Các hình thức nhập khẩu của doanh nghiệp
Trong kinh doanh quốc tế có nhiều phương thức nhập khẩu khác nhau, mỗi phương
thức có đặc điểm riêng và kỹ thuật tiến hành riêng . Tuy nhiên trong thực tế nhập khẩu
thường sử dụng một trong số những phương thức chủ yếu sau:
Nhập khẩu trực tiếp
Đối với hình thức này thì người mua và người bán hàng hóa trực tiếp giao dịch với
nhau, quá trình mua và bán không hề ràng buộc lẫn nhau. Bên mua có thể mua mà không
bán và ngược lại.

8


9


Tạm nhập tái xuất là hình thức mà thương nhân Việt Nam nhập khẩu tạm thời hàng
hóa vào Việt Nam, nhưng sau đó lại xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang
một nước khác.
Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ trong nước mà
để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu
và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra.
Khi tiến hành tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng
riêng biệt, gồm: hợp đồng mua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng
bán hàng ký với thương nhân nước nhập khẩu.
Lưu ý, có trường hợp gần giống như tạm nhập tái xuất, nhưng hàng hóa được
chuyển thẳng từ nước bán hàng sang nước mua hàng, mà không làm thủ tục nhập khẩu
vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Đó gọi là hình thức
chuyển khẩu.
Nhập khẩu gia công
Là hình thức mà bên nhận gia công của Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ
người thuê gia công ở nước ngoài, theo hợp đồng gia công đã ký kết. Chẳng hạn như
doanh nghiệp dệt may, giầy da của Việt Nam nhập nguyên phụ liệu từ Đài Loan để sản
xuất hàng gia công cho đối tác Đài Loan.
2.1.3. Đặc điểm hoạt động nhập khẩu
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu có các đặc điểm sau:
- Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc
tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán Thương mại quốc tế.
- Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú: giao
dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm.
- Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C...
- Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao

nước đang phát triển ( trong đó có Việt Nam) trong việc cải thiện đời sống kinh tế , thay
đổi một số lĩnh vực , nhờ có nhập khẩu mà tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý ,
công nghệ hiện đại…thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng

11


2.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Khả năng vốn, tài chính
Trong kinh doanh nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể làm được gì ngay
cả khi đã có cơ hội kinh doanh. Có vốn và trường vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các
công việc kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn, có điều kiện để tận dụng các cơ
hội để thu lợi lớn.
Sự trường vốn tạo ra khả năng nắm bắt thông tin nhanh, chính xác do có điều kiện
sử dụng các phưong tiện hiện đại. Ngoài ra còn cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện
tốt các công cụ marketing trên thị trường về giá cả, cách thức nhập khẩu và bán hàng trên
thị trường nội địa, tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên trong công ty là yếu
tố cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh. Xét về tiềm lực của doanh nghiệp
thì con người là vốn quý nhất. Một đội ngũ vững vàng về chuyên môn, kinh nghiệm trong
giao thương quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và say
mê nhiệt tình trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu
của doanh nghiệp.
Do đặc điểm riêng của kinh doanh thương mại quốc tế là thường xuyên phải giao
dịch với đối tác nước ngoài nên cán bộ ngoài giỏi nghiệp vụ kinh doanh còn phải giỏi
ngoại ngữ. Ngoại ngữ kém sẽ gây khó khăn trong việc giao dịch, làm ảnh hưởng đến hiệu
quả công việc.
Một doanh nghiệp kinh doanh lâu năm, có uy tín trên thị trường là một điều kiện rất
thuận lợi. Có uy tín với bạn hàng về việc thanh toán đủ, đúng hạn sẽ thuận lợi cho những
hợp đồng sau này. Uy tín của doanh nghiệp là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh và

quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao trình độ sản xuất trong nước, cạnh tranh với thị
trường thế giới. Để thực hiện chiến lược đó, nhiều nước đã cắt giảm thuế quan để khuyến
khích trao đổi. Ví dụ như Đài Loan đã giảm thuế hàng nhập khẩu từ 40% xuống 20%.
Thái Lan giảm thuế xuất nhập khẩu máy móc thiết bị từ 30% xuống còn 5%. Việt Nam
với tiến trình tham gia vào AFTA giảm mức thuế suất xuất nhập khẩu xuống còn 0 - 5%
vào năm 2006. Còn hiện tại việc quy định mức thuế xuất nhập khẩu luôn là đề tài được
quan tâm từ nhiều phía.
Hạn ngạch nhập khẩu

13


Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước nhằm hạn chế nhập khẩu về số
lượng hoặc giá trị một số mặt hàng nhất định hoặc từ những thị trường nhất định trong
một khoảng thời gian thường là một năm.
Mục tiêu việc áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch của Nhà nước
nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, sử dụng có hiệu quả quỹ ngoại tệ, bảo đảm các cam kết
của Chính phủ ta với nước ngoài.
Hạn ngạch nhập khẩu đưa đến tình trạng hạn chế số lượng nhập khẩu đồng thời gây
ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hoá. Hạn ngạch nhập khẩu có tác động tương đối
giống với thuế nhập khẩu tức là do có hạn ngạch làm giá hàng nhập khẩu trong nước sẽ
tăng lên. Nhưng hạn ngạch không làm tăng thu ngân sách. Đối với cả Chính phủ và các
doanh nghiệp trong nước, việc cấp hạn ngạch nhập khẩu có lợi là xác định được khối
lượng nhập khẩu biết trước.
Hiện nay Nhà nước ta tiến hành đấu thầu hạn ngạch chứ không phân bổ trực tiếp
cho các doanh nghiệp như trước đây nữa. Doanh nghiệp nào thắng thầu thì sẽ có quyền
nhập khẩu mặt hàng đó với số lượng quy định.Tuy nhiên việc nhập khẩu nhiều hay ít khi
doanh nghiệp đã thắng thầu phụ thuộc vào đinh ngạch (tổng hạn ngạch) mà Chính phủ
đưa ra.
Tỷ giá hối đoái

hoặc nhập khẩu để tiếp tục sản xuất các loại hàng hoá phù hợp với nhu cầu và thị hiếu trong
một giai đoạn nhất định của dân cư. Việc nghiên cứu văn hoá, thị hiếu sẽ quyết đinh kết quả
bán hàng của các nhà nhập khẩu và quyết định đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu.
2.2.Một số lý thuyết về mở rộng thị trường nhập khẩu
2.2.1. Khái niệm thị trường và hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu
Khái niệm thị trường
Theo nghĩa đầu tiên, thị trường là một địa điểm cụ thể, ở đó người mua và kẻ bán
gặp nhau để trao đổi hàng hóa hay dịch vụ. Những đô thị thời trung cổ có những khu chợ
cho người này bán hàng và người kia mua hàng. Ngày nay, sự trao đổi có thể diễn ra ở
mọi thành phố, tại những nơi được gọi là khu mua bán chứ không chỉ riêng ở các chợ.
Theo quan điểm kinh tế học, thị trường bao hàm mọi người mua và người bán trao
đổi nhau các hàng hóa hay dịch vụ. Như vậy, thị trường nước ngọt sẽ gồm những người
15


bán chủ yếu như các hãng Coca – Cola, Pepsi – Cola, Seven – up v.v… và người mua là
tất cả những người nào mua nước ngọt. Nhà kinh tế quan tâm đến cấu trúc, tiến trình hoạt
động và kết quả hoạt động của mỗi thị trường.
Với một người làm marketing, thị trường là tập hợp những người hiện đang mua và
những người sẽ mua một loại sản phẩm nhất định. Một thị trường là tập hợp những người
mua và một ngành sản xuất là tập hợp những người bán.
Khái niệm hoạt động mở rộng thị trường
Công tác mở rộng thị trường được hiểu theo một nghĩa đơn giản là một quá trình
bao gồm các công việc nghiên cứu, khai thác, và chiếm lĩnh thị trường nhằm làm tăng
quy mô thị trường của doanh nghiệp, tức là với hoạt mở rộng thị trường nhập khẩu , sẽ
làm doanh nghiệp tìm kiếm được thêm nhiều đối tác mới, từ đó đem lại nhiều lợi ích hơn
đến cho doanh nghiệp
Khái niệm công tác mở rộng thị trường chỉ có trong nền kinh tế thị trường vì sự tồn
tại của thị trường, vai trò của nó đối với doanh nghiệp và cơ chế tự do cạnh tranh là
nguyên nhân cho sự cần thiết và điều kiện đảm bảo cho mở rộng thị trường được thực

về không gian và thời gian
Cả hai phương thức trên đều có ưu nhược điểm riêng vậy nên tùy theo điều kiện
của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn phương thức sao cho phù hợp. Tuy nhiên trong điều
kiện kinh tế hội nhập , xu hướng chung hiện nay là kết hợp cả hai nội dung với nhau , vừa
không ngừng ổn định thị trường nhập khẩu cũ vừa ra sức tìm kiếm chiếm lĩnh các thị
truờng mới
2.2.3. Nội dung của hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu
2.2.3.1.Nghiên cứu thị trường quốc tế,tìm kiếm cơ hội nhập khẩu
Đây là nội dung quan trọng giúp doanh nghiệp đánh giá được triển vọng mở rộng
thị trường nhập khẩu của mình. Nghiên cứ thị trường quốc thế bao gồm các hoạt động:
-Nghiên cứu về nhu cầu thị trường:
Nhu cầu về sản phẩm trên thị trường, tình hình về cung cầu của sản phẩm trên thị
trường quốc tế, mức biến động về giá cả.
Nghiên cứu cách thức tổ chức thị trường nước ngoài:
Nghiên cứu về các kênh phân phối sản phẩm, về số lượng trung gian, về quy trình
nhập khẩu hàng hóa,.. sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm ra cách thức thâm nhập thị trường
nhập khẩu một cách hiệu quả nhất.
17


2.2.3.2.Cân nhắc và lựa chọn các vấn đề liên quan đến nhập khẩu hàng hóa của
doanh nghiệp
- Lựa chọn sản phẩm nhập khẩu:
Thông thường mỗi một thị trường sẽ có những lợi thế về từng sản phẩm nhất định.
Không nhất thiết công ty phải nhập khẩu toàn bộ trang thiết bị vì cũng có một vài
vật tư trong nước có thể sản xuất được mà chất lượng cũng đảm bảo. Công ty phải cân
nhắc xem trang thiết bị nào thực sự cần thiết để nhập khẩu, phù hợp với điều kiện kinh tế
của công ty và đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh
- Lựa chọn thị trường nhập khẩu:
Việc nghiên cứu thị trường giúp cho doanh nghiệp có thể xác định rõ thị trường nào

Hiện nay nền kinh tế thế giới ngày càng hội nhập, các rào cản thuế quan đang dần
được gỡ bỏ. việc nhập khẩu hàng hóa từ nước này sang nước khác đã trở nên dễ dàng hơn
rất nhiều
Ngược lại, hệ thống rào cản phi thuế quan ngày càng dày đặc, đặc biệt là tại các quốc gia
phát triển. Do đó làm cản trở hoạt động mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.
 Tiềm năng và chiến lược phát triển của ngành:

Tiềm năng của ngành: Đây là yếu tố xây dựng lên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm
bao gồm tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng,
thông tin liên lạc,… Các nhân tố này quyết định quy mô sản xuất, nguồn cung cấp
nguyên liệu, chi phí lao động, khả năng vận chuyển,… từ đó tác động đến giá và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm.
Chiến lược phát triển ngành: Chiến lược phát triển ngành được xây dựng tùy vào
đặc điểm và tiềm năng của từng ngành. Chiến lược phát triển ngành quyết định ngành
hàng có được ưu tiến trú trọng hay không, từ đó ảnh hưởng tới khả năng mở rộng thị
trường nhập khẩu của doanh nghiệp.
 Các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu

của doanh nghiệp:
Các quy định pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động mở rộng thị trường
nhập khẩu của doanh nghiệp. Các quy định này bao gồm các quy định về thuế, quy định
về tài chính,… Ngoài ra còn có các chính sách liên quan đến nguyên liệu, cơ sở hạ tầng,
… Những chính sách này tạo nên môi trường pháp lý đối với mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
Nhân tố chủ quan
19


 Liên quan đến chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp:


Tên công ty: Công Ty Cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam



Tên tiếng Anh: PETROVIETNAM POWER SERVICES JOINT STOCK COMPANY



Tên giao dịch: PV POWER SERVICES., JSC



Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 7, Tòa nhà Hỗn Hợp HH3 Khu đô thị Mỹ Đình - Phường Mỹ
Đình 1 - Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội



Mă số thuế của công ty: 0102560459



Ngày thành lập: 31/12/2007



Vốn điều lệ: 150,000,000,000 đồng



Điện thoại/Fax: 0437878136 / 0437878185


mươi tỷ đồng)
Nhằm tiếp cận thị trường khu vực phía Nam và mở rộng mạng lưới hoạt động của
mình.Ngày 28/8/2008 PV Power Servies đã thành lập chi nhánh PV Power servies tại
Thành phố Hồ Chí Minh để thay mặt cho PVPower Services tổ chức, giải quyết và giám



sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của PV Power Services tại phía Nam.
Ngày 03/8/2009, công ty đã thành lập hai chi nhánh Nhơn Trạch và Cà Mau bước
đầu thiết lập các đơn vị sản xuất trực tiếp để phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì tại
Nhà máy điện Nhơn Trạch và Nhà máy điện Cà Mau. Đến nay, 3 chi nhánh của Công ty
đã đi vào hoạt động ổn định và đảm bảo dịch vụ sửa chữa, bảo trì bảo dưỡng tại các nhà
máy.
Ngày 28/12/2010, Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam



được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký chứng khoán số 305/2010/GCNCP-VSD chính thức


chấp thuận hoạt động lưu ký chứng khoán niêm yết trên sàn giao dịch HNX.
Ngày 07/1/2011, chứng khoán Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật Điện lực Dầu khí
Việt Nam với mã giao dịch PPS chính thức chào sàn HNX với khối lượng trên 100.000
giao dịch thành công.
3.1.3. Lĩnh vực kinh doanh





23


Bảng 1.2. Cơ cấu nhân sự Công ty CP dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam

Nguồn: Phòng Nhân sự - Công ty CP dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam
Trình độ nhân viên của công ty rất được coi trọng và được kiểm duyệt một cách kỹ
càng. Đại học trở lên chiếm 66.7%, cao đẳng và trung cấp 8.1%, điều này góp phần xây
dựng một đội ngũ nhân viên có tay nghề cao, sáng tạo và sức trẻ. Chính vì thế,công tác
đào tạo cũng được công ty hết sức quan tâm. Với định hướng xây dựng một đội ngũ nhân
viên vững mạnh có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cao, công ty đã tăng cường bổ
sung những buổi tập huấn nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ công nhân viên thuộc bộ phận
nghiệp vụ.
Thêm vào đó, công ty cũng đang tiến hành tuyển dụng nhân viên đã có kinh nghiệm
làm việc trong lĩnh vực mà công ty đang hoạt động cũng như tiếp nhận sinh viên thực tập
nhằm tuyển chọn và đào tạo đội ngũ nhân sự tương lai, có chất lượng cho công ty. Nhờ
chính sách đãi ngộ và chế độ lao động tốt làm nhân viên rất hài lòng, qua đó làm việc tốt
hơn, góp phần tạo ra những kết quả kinh doanh ấn tượng cho Công ty trong thời gian qua.
3.1.6. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Trải qua 11 năm hình thành và phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty đã
hoàn thiện và phát triển không ngừng. Công ty hiện nay được trang bị với đầy đủ các
trang thiết bị và cơ sở vật chất để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh bao
gồm:các trang thiết bị , dịch vụ khoan, kỹ thuật giếng khoan khai thác dầu dịch vụ cung
24


ứng và xử lý tràn dầu; thiết kế và xây lắp các công trình dầu, khí, điện, xây dựng dân
dụng; vận tải biển và phục vụ hậu cần; cung cấp lao động kỹ thuật, du lịch…. Bên cạnh
đó, công ty có đơn vị cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, thu xếp vốn tín dụng cho các dự án
đầu tư, huy động vốn, tín dụng doanh nghiệp, các dịch vụ tài chính và chứng khoán.

32.489.875
Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN
25.713.269
25.812.639
25.998.542
Nguồn: Phòng Kế toán – Công ty CP dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam
Theo bảng số liệu trên ta thấy rõ ràng tình hình kinh doanh của công ty tăng trưởng khá
đều qua các năm.Doanh thu năm 2017 tăng 6.01% so với năm 2016, năm 2018 tăng1.12% so
với năm 2017 . Mức độ tăng doanh thu của công ty không quá cao nhưng đã cho thấy được
một sự ổn định cần thiết, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay .
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status