Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KINH TẾ CẢ NƯỚC
VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HO CHI MINH CITY ECONOMY IN RELATION TO THE VIETNAMESE ECONOMY
AND FACTORS AFFECTING HO CHI MINH CITY ECONOMIC GROWTH
Nguyễn Thị Cành
Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG – HCM –
Nguyễn Quốc Tuấn
Trường Đại học Công Nghiệp TP - HCM
(Bài nhận ngày 16 tháng 10 năm 2014, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 15 tháng 11 năm 2014)
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh tế TP.HCM qua gần 30 năm
thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, xác định vị trí, vai trò của kinh tế TP.HCM so với cả nước và các
yếu tố tác động đến phát triển kinh tế TP.HCM. Phương pháp phân tích trong bài viết là phương pháp
định tính mô tả số liệu và so sánh các chỉ số phát triển. Nguồn số liệu sử dụng chủ yếu là số liệu thứ cấp
lấy từ Niên giám Thống kê Việt Nam, Niên giám thống kê TP.HCM trong giai đoạn (1990/2000/20052013). Kết quả nghiên cứu cho thấy TP.HCM vẫn còn giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước,
đóng góp trên 20% GDP, trên dưới 1/3 ngân sách quốc gia. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP.HCM
cao hơn từ 2% - 3 % mỗi năm so với cả nước, thu nhập bình quân đầu người của TP.HCM cao hơn gấp
hai lần cả nước và tỷ lệ nghèo cũng thấp nhất. Những yếu tố đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế
TP.HCM là yếu tố vốn và lao động, thể hiện ở chỗ hiệu quả đầu tư qua chỉ số ICOR thấp hơn trên 1,51,78 lần và NSLĐ tăng hơn hai lần NSLĐ cả nước, đóng góp của yếu tố vốn và lao động trong tăng
trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, kinh tế TP.HCM có những dấu hiệu cho thấy sự phát triển kinh tế
TP.HCM thiếu tính bền vững gồm (1) xu hướng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài đang phát triển chậm
lại; (2) xu hướng khu vực công nghiệp cũng đang giảm dần về tỷ trọng đặc biệt là các ngành công
nghiệp trọng yếu có hàm lượng công nghệ cao phát triển còn chậm; (3) chất lượng môi trường đô thị,
môi trường sống ngày càng xuống cấp hạn chế tốc độ tăng trưởng GDP xanh; (4) yếu tố năng suất tổng
hợp (TFP) đang có xu hướng giảm dần và có đóng góp rất thấp trong tăng trưởng kinh tế TP.HCM.
Trên cơ sở các kết quả phân tích bài viết đã đưa ra các kiến nghị phát triển kinh tế bền vững cho
TP.HCM trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Kinh tế TP.HCM; Các yếu tố tác động, GDP, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế,
kinh tế, Việt Nam đã thu được những thành quả
đáng khích lệ. Nền kinh tế Việt Nam có tốc độ
tăng trưởng cao trong khu vực, cơ cấu kinh tế
đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, nền kinh tế ngày càng hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới, thu nhập bình
quân trên đầu người tăng, đời sống của người
dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói
giảm… Có được những thành tựu trên là nhờ
có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà
nước, sự năng động của người dân và đặc biệt
là có cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm để
tìm ra cơ chế quản mới phù hợp với đặc thù
phát triển của Việt Nam. Những đóng góp tìm
tòi thử nghiệm để hình thành chính sách kinh tế
mới hầu như bắt đầu từ các địa phương. Một
địa phương năng động nhất, có quy mô kinh tế
lớn nhất và đóng góp nhiều cho quốc gia về
tăng trưởng GDP, dịch chuyển cơ cấu kinh tế đó là thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Tuy
nhiên, cùng với nền kinh tế cả nước, kinh tế
TP.HCM trong những năm qua đã chịu tác
động của khủng hoảng kinh tế thế giới, vì vậy
tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể, dịch chuyển
cơ cấu kinh tế dù đi theo định hướng chiến
lược của thành phố (tăng khu vực dịch vụ),
nhưng sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nội ngành
còn chậm, đặc biệt là các ngành công nghiệp và
dịch vụ có hàm lượng khoa học, chất xám cao.
Bài nghiên cứu này sẽ xem xét thực trạng phát
cơ bản cơ cấu nền kinh tế. Nếu chỉ làm ra được
một chút lợi ích hoặc làm cho một nhóm dân
cư nào đó trở nên giàu có cũng không thể coi
đó là sự phát triển. Chẳng hạn các nước sản
xuất dầu lửa có tăng trưởng nhưng không phát
triển, kinh tế Nam Triều Tiên phát triển từ
những năm 1960 đến nay. Kết quả phát triển
kinh tế của nước này là tăng tỷ trọng công
nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ lệ
người sống ở thành thị hơn tỷ lệ người sống ở
nông thôn. Nếu phát triển kinh tế và tăng
trưởng kinh tế hiện đại dẫn đến tăng thu nhập
và sản phẩm theo đầu người thì không thể có
phát triển mà thiếu tăng trưởng. Tóm lại, phát
triển kinh tế là sự kết hợp thoả đáng giữa tăng
trưởng và phân phối thu nhập. Phát triển phản
ánh chất lượng tăng trưởng - tăng trưởng bền
vững. Tăng trưởng kinh tế thường đo lường
bằng tăng tổng sản phẩm quốc nội GDP. Phát
triển kinh tế phản ánh tăng trưởng GDP, các
chỉ tiêu về phân phối thu nhập, tỷ lệ nghèo, các
chỉ số về cơ cấu kinh tế….
Các chỉ tiêu phân tích trong bài nghiên cứu
này do hạn chế số liệu thống kê địa phương nên
không tính được GNP nên áp dụng chỉ tiêu thu
nhập quốc nội (GDP), chỉ tiêu giá trị sản xuất
(GTSX) theo các khu vực kinh tế; thu nhập
bình quân trên đầu người; tốc độ tăng trưởng
GDP, dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo khu vực
các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
trọng GDP, xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh
tế, phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu
và chủ lực, đóng góp nguồn thu cho ngân sách
quốc gia. Từ các đóng góp qua các chỉ tiêu nêu
trên có thể xác định vị trí kinh tế của thành phố
trong nền kinh tế cả nước.
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 17, SỐ Q3-2014
Đóng góp tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng GDP
Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của TP.HCM so với cả nước
ĐVT: Giá trị: tỷ đồng theo giá so sánh; Tốc độ: %
Năm
GDP và tốc độ
tăng trưởng GDP
của TP.HCM
Giá trị
(tỷ đồng)
1990
17.993
1991
19.630
2002
63.670
10,2
7,2
9,1
6,0
2003
70.947
11,4
7,3
21.927
11,7
8,6
2004
79.237
99.672
12,2
8,2
1995
32.596
15,3
9,5
2007
112.271
12,6
8,5
1996
37.380
14,6
9,3
5,8
2010
150.927
11,8
6,8
1999
48.499
6,2
4,8
2011
166.423
10,3
6,0
2000
52.754
Số liệu bảng 1 và biểu đồ 1 cho thấy tốc độ
tăng trưởng của TP.HCM luôn cao hơn tốc độ
tăng trưởng của cả nước, và vì vậy mức độ
đóng góp cho GDP cả nước ngày càng cao, từ
13,63% năm 1990, lên 16,67% năm 1995,
19,28% năm 2000 và 22,61% năm 2005 và trên
21% hiện nay (bảng 2 và biểu đồ 2).
Kể cả trong giai đoạn nền kinh tế cả nước
phải đối mặt với nhiều thách thức thì TP. HCM
vẫn giữ mức tăng trưởng GDP cao hơn so với
mức tăng trưởng chung của cả nước bao gồm
10.7% (2008) và 8,6% (2009) và 9,3% (2013).
Dù Tp.HCM có trên 8% dân số, 7,9% lao
động làm việc cả nước, nhưng TP.HCM đã
đóng góp từ gần 18% trên 21% thu nhập quốc
dân theo giá thực tế giai đoạn (2005-2013)
(xem bảng 2 và biểu đồ 2 dưới đây).
Trang 29
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng GDP của TP.HCM so với cả nước
Nguồn: Niên giám Thống kê TP.HCM và Việt Nam (1990-2013)
Bảng 2: Tỷ trọng GDP của TPHCM đối với cả nước và phần còn lại của Việt Nam tính theo giá thực tế
giai đoạn (2005-2013)
Năm
2010
422.270
2.157.828
19,6%
2011
512.721
2.779.881
18,4%
2012
591.863
3.245.419
18,2%
2013
764.561
3.584.300
của TP.HCM từ gần 6% năm 1990 xuống còn
1% năm 2013. Cơ cấu kinh tế khu vực III Thương mại - Dịch vụ của TP.HCM hơn 20
năm qua luôn giữ vị trí thống trị và có xu
hướng tăng trong những năm gần đây, đặc biệt
là năm 2013 (trên 52% năm 1990 đến 58,4%
năm 2013). Khu vực II - Công nghiệp - Xây
dựng của TP.HCM có cơ cấu trên 40% GDP
của TP.HCM, tuy nhiên xu hướng tỷ trọng tăng
chậm trong thập niên đầu của thế kỷ 21 (20002012) chiếm từ trên 44% đến trên 48% và giảm
ở năm 2013 (40,6%) - xem bảng 3.
Do tỷ trọng kinh tế TP.HCM trong kinh tế
cả nước chiếm trên dưới 20% nên sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế TP.HCM có tác động
nhất định trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế cả
nước. Bảng 4 thể hiện sự dịch chuyển cơ cấu
kinh tế cả nước có xu hướng gần tương đồng
với kinh tế TP.HCM. Theo đó, khu vực Nông Lâm - Ngư giảm dù giảm chậm (trên 20%
xuống trên 18%), khu vực dịch vụ có xu hướng
tăng (từ trên 42% đến trên 43%), trong khi khu
vực công nghiệp ổn định ở mức 37%-38%.
Như vậy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế cả nước
đang tăng dần khu vực công nghiệp và dịch vụ
về giá trị tuyệt đối (qui mô) lẫn tương đối (tỷ
trọng) cho thấy có sự đóng góp của các ngành
công nghiệp TP.HCM (trên dưới 20%) và dịch
vụ TP.HCM (trên 25%). So với cả nước, TP.
HCM có cơ cấu kinh tế tương đối hợp lý hơn
khi phát triển theo hướng hiện đại hoá - công
nghiệp hoá, theo đó nông - lâm nghiệp và thủy
75.862
84.852
96.403
113.326
137.087
Nông - Lâm - Ngư
nghiệp
Giá trị
Cơ cấu
404
1.227
1.487
1.595
1.632
1.821
1.923
5,9%
3,2%
2,0%
1,9%
1,7%
1,6%
1,4%
Công nghiệp và Xây
dựng
Giá trị
Cơ cấu
39.190
46,2%
44.067
51,9%
45.060
46,7%
49.711
51,6%
55.668
49,1%
55.837
49,3%
67.011
48,9%
68.153
48,2%
85.822
50,6%
191.246
45,3%
225.926
53,5%
228.332
44,5%
278.080
54,3%
268.329
45,3%
316.709
53,5%
19,3
2008
20,41
2009
19,17
2010
18,89
2011
20,08
38,13
42,57
37,08
42,51
37,39
43,44
38,23
42,88
44,5
54,2
45,3
53,5
44,5
54,3
45,3
53,5
40,6
58,4
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê Tp. HCM và Việt Nam 2005-2013
Đóng góp phát triển các ngành công
nghiệp và dịch vụ
Mặc dù TP.HCM chủ trương ưu tiên phát
triển các nhóm ngành công nghiệp trọng yếu
nhưng hiện nay các nhóm ngành còn lại vẫn
chiếm tỷ trọng trên 40% trong GTSX công
nghiệp của TP.HCM. Trong đó nhiều ngành
vẫn đóng vai trò quan trọng đối với công
nghiệp của cả nước cũng như giữ vị trí khá
quan trọng đối với phát triển công nghiệp của
TP.HCM trong hơn 30 năm qua. Đó là nhóm
ngành công nghiệp chủ lực như công nghiệp
dệt may, da giày; sản xuất VLXD, công nghiệp
in, giấy, sản xuất giường, tủ bàn, ghế. Xét về
2010
Cả nước
TP.HCM
Công nghiệp
988.540
247.230
25,01
2.963.500
622.958
21,02
4.627.733
825.718
17,84
Chế biến LTTP
201.524
457.952
160.952
35,15
Cơ khí- chế tạo
163.992
38.241
23,32
497.960
125.033
25,11
758.077
146.844
19,37
Điện tử- CNTT
34.782
483.970
19,94
Dệt may
79.031
32.025
40,52
236.940
71.891
30,34
384.670
94.780
24,64
Da
42.313
18.007
33.152
13,30
Giấy
18.601
5.881
31,62
55.606
16.941
30,47
95.727
21.645
22,61
In
12.757
9.588
29.031
24,47
6 ngành chủ lực
240.999
84.407
35,02
674.645
200.493
29,72
1.028.830
243.300
23,65
6 ngành chủ lực
240.999
84.407
%
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ Niên giám Thống kê TP.HCM và Việt Nam
Trang 33
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
Vai trò là trung tâm tài chính, TP. HCM có
trung tâm giao dịch chứng khoán lớn nhất Việt
Nam. Tính đến hết năm 2013 số lượng ngân
hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam là 49
ngân hàng. Các ngân hàng có hội sở chính chủ
yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội
(gần 30) và TP. Hồ Chí Minh (trên 20). Hầu
hết các ngân hàng thương mại trong nước đều
có chi nhánh, phòng giao dịch tại các tỉnh
thành trong cả nước, riêng ở TP. Hồ Chí Minh
có gần 300 chi nhánh, Hà Nội cũng tương tự,
TP. Đà Nẵng có trên 50 chi nhánh ngân hàng
đang hoạt động, trong khi các tỉnh, thành phố
còn lại chỉ có gần 30 chi nhánh ngân hàng hoạt
động.
Biểu đồ 4: Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ của TP.HCM so với cả nước
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2013
Về đóng góp thu ngân sách nhà nước
Qua số liệu từ Niên giám thống kê (NGTK),
công tác xoá đói giảm nghèo với tỷ lệ hộ nghèo
thấp nhất cả nước và giảm dần qua các năm.
Với chuẩn mới về hộ nghèo là thu nhập dưới
12 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo đã
giảm từ 8% năm 2009 xuống còn 5,9% năm
2010, tiếp tục giảm còn 5,1% năm 2011 và đến
cuối năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 3,4%,
trong khi tỷ lệ hộ nghèo của cả nước dù với
mức chuẩn nghèo thấp, nhưng tỷ lệ nghèo
chiếm từ 13-14%/năm (số liệu thống kê điều
tra mức sống dân cư năm 2012).
Biểu đồ 6: Thu nhập bình quân đầu người của TP.HCM so với cả nước
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê TP. HCM và Việt Nam năm 2011
Trang 35
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
4. Các yếu tố tác động đến phát triển kinh
tế TP.HCM
Yếu tố tăng NSLĐ đã góp phần tăng tốc độ
tăng trưởng kinh tế của TP.HCM qua 13 năm
(tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn này là
Yếu tố lao động và năng suất lao động
10,7%/năm). Bảng 6 dưới đây sẽ so sánh
(NSLĐ)
NSLĐ
TPHCM
/ cả nước
Năm
GDP (tỷ
đồng)
2000
75.862
2.241.989
33.837
441.646
37.075.300
11.912
2,84
2001
84.852
2.315.184
2.503.213
45.272
613.443
40.403.900
15.183
2,98
2004
137.087
2.585.906
53.013
715.307
41.578.800
17.204
3,08
2005
Trang 36
GDP/lao động
(1.000đ/người/
năm)
Số lao
động
(người)
Số lao
động
(người)
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 17, SỐ Q3-2014
2007
229.197
3.183.953
71.985
1.246.769
45.208.000
27.579
37.893
2,49
2010
422.270
3.772.431
111.936
2.157.828
49.048.500
43.994
2,54
2011
512.721
4.000.900
128.151
2.779.880
3.584.262
52.207.800
68.654
2,54
Nguồn: Tính toán từ Niên giám Thống kê Việt Nam và TP.HCM
Yếu tố vốn và hiệu quả đầu tư qua chỉ số ICOR
Vốn đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội
TP.HCM tăng mạnh trong những năm qua.
Tính theo giá cố định, ước tính vốn tăng bình
quân khoảng trên 12%/năm, theo giá thực tế
tăng trên 20%/năm trong giai đoạn (20002013). Vốn đầu tư vào TP.HCM có nhiều
nguồn, từ Nhà nước, từ các doanh nghiệp tư
nhân trong nước và vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI. Tốc độ tăng vốn FDI bình quân giai
đoạn (2000-2013) là 18,7%/năm so với cả nước
17,4%/năm - bảng 8. Theo số liệu bảng 8, thì
theo số dự án thì tỷ trọng dự án FDI vào
TP.HCM chiếm trên 30% đến trên 46%, tuy
nhiên tính theo số vốn thì tỷ trọng FDI vào
TP.HCM đang giảm dần (dù tốc độ tăng vốn
FDI bình quân vẫn cao hơn cả nước) từ trên
31,5% năm 1995 còn 9,3% năm 2013 (bảng 8).
Nguyên nhân của sự giảm sút tỷ trọng vốn FDI
của TP.HCM so với cả nước là do trong những
HCM
2000
19.701
9,0
25,97
2,89
6,79
34,23
5,04
1,75
2005
54.531
12,2
32,16
2,64
12,6
42,7
3,39
8,50
42,68
5,02
1,48
2008
121.101
10,7
42,12
3,94
6,23
38,16
6,13
6,80
38,48
5,66
1,66
2011
201.500
10,3
39,3
3,82
6,00
33,26
5,54
1,45
2012
217074
1,78
Nguồn: Tính từ Niên giám Thống kê TP.HCM và cả nước
Trang 37
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
Bảng 8: FDI vào TP.HCM và tỷ trọng FDI của TP.HCM so với cả nước
Cả nước
TPHCM
Năm
Số dự án
Số vốn FDI
(triệu USD)
19881990
87
976
1995
155
2000
224
391
2.763
31,20
8,11
2005
309
604
970
6.840
31,86
8,83
2006
283
1.627
71.727
46,63
11,72
2009
389
1.035
1.208
23.108
32,20
4,48
2010
375
1.883
1.237
19.887
8,37
2013
477
2.080
1.530
22.352
31,18
9,31
TĐ BQ
Số dự
án
18,7%/năm
17,44%/năm
Nguồn: Tính từ Niên giám Thống kê TP.HCM và cả nước
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Ngoài yếu tố vốn, lao động thì yếu tố năng
suất nhân tố tổng hợp do thay đổi công nghệ,
thay đổi chính sách, phương pháp quản lý cũng
Biểu 9: Tác động của yếu tố vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đến tốc độ tăng
GDP trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2006-2011(tính theo giá so sánh 1994)
Năm
Tốc độ tăng (%)
Tốc độ tăng GDP do (điểm phần
trăm)
GDP
Vốn cố
định
Lao động
Tăng vốn
cố định
Tăng lao
động
Tăng TFP
2006
12,16
14,66
7,09
2,78
0,85
2009
8,65
11,15
5,77
5,47
2,94
0,24
2010
11,75
10,78
6,15
5,29
1,94
Nguồn: Kết quả tính toán năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) do Cục Thống kê TP.HCM phối hợp
với Sở Khoa học & Công nghệ TP.HCM thực hiện năm 20121
lại từ báo cáo báo cáo đề tài: Tái cấu trúc kinh tế TP.HCM giai đoạn (2011-2020) của Viện nghiên cứu phát
triển TP.HCM”, tr. 33
1Trích
Trang 39
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
Yếu tố xuất – nhập khẩu
Cán cân thương mại cũng là yếu tố đóng góp
tăng trưởng kinh tế. Bảng 10 dưới đây thể hiện
tình hình xuất - nhập khẩu và cán cân thương
mại của TP.HCM so với cả nước. Trong thành
phần của GDP có chênh lệch xuất nhập khẩu
(cán cân thương mại). Trừ một số năm chênh
lệch xuất nhập khẩu của TP.HCM là nhập siêu
- số âm, đa số các năm còn lại là xuất siêu, số
dương. Đặc biệt tỷ trọng xuất khẩu trên địa bàn
TP.HCM từ 32,6% năm 1990% lên gần 54%
năm 1995, lên 56,46% năm 2000, trước khủng
hoảng kinh tế tỷ trọng xuất khẩu tỷ trọng xuất
khẩu trên địa bàn TP.HCM đạt trên dưới 40%
đến trên 50% tổng xuất khẩu của cả nước,
nhưng sau khủng hoảng tài chính thế giới, tỷ
trọng xuất khẩu trên địa bàn TP.HCM trên
nhiều hơn.
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 17, SỐ Q3-2014
Bảng 10: Giá trị xuất nhập khẩu của TP.HCM và so với cả nước
Năm
1990
1995
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Xuất khẩu
(triệu
USD)
784
23.284
19.477
21.955
21.397
26.303
25.873
Tỷ trọng TPHCM/Cả
nước (%)
Cả nước
TPHCM
Cán cân
TM
Xuất khẩu
(triệu USD)
Nhập khẩu
(triệu USD)
Cán cân TM
Xuất khẩu
Nhập khẩu
(183)
(1.325)
132.033
2.752
8.155
15.637
16.218
19.746
25.256
31.969
36.761
44.891
62.765
80.714
69.949
84.839
106.750
113.780
132.033
(348)
(2.707)
(1.154)
(1.189)
(3.040)
(5.107)
(5.484)
(4.314)
(5.065)
(14.203)
(18.029)
33,73
32,55
28,84
28,85
27,84
25,88
20,04
23,12
19,60
Nguồn: Tính từ Niên giám Thống kê TP.HCM và cả nước
Trang 41
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
Yếu tố môi trường
Yếu tố môi trường đang là yếu tố cản trở
trong phát triển kinh tế TP.HCM. Do một thời
gian dài tăng trưởng nóng, cùng với quá trình
đô thị hóa diễn ra nhanh mà các chất thải mô
trường ngày càng nhiều. Các nghiên cứu về
môi trường trên địa bàn TP.HCM đã chỉ ra rằng
khối lượng khí CO2 thải ra ngoài không khí và
tổng lượng nước ngầm sử dụng cho sinh hoạt,
sản xuất làm cho chất lượng tài nguyên nước
ngầm của các tầng giảm dần. Ngoài ra, các chỉ
số như NO2, bụi, BOD5, coliform cũng đạt ở
mức cao qua các năm. Nghiên cứu của Viện
nghiên cứu phát triển TP.HCM cũng chỉ ra
trong phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao so với cả nước nên thu nhập bình quân
đầu người của TP.HCM cao hơn gấp hai lần cả
nước và kết quả công tác xóa đói giảm nghèo
cũng đi đầu trong cả nước, với tỷ lệ nghèo thấp
nhất.
Thứ hai, những yếu tố đóng góp tích cực vào
tăng trưởng kinh tế TP.HCM là yếu tố vốn và
lao động, thể hiện ở chỗ hiệu quả đầu tư qua
chỉ số ICOR thấp hơn trên 1,5-1,78 lần và
NSLĐ tăng hơn hai lần NSLĐ cả nước, đóng
góp của yếu tố vốn và lao động trong tăng
trưởng kinh tế cao.
Thứ ba, dù có vị trí là trung tâm kinh tế có
đóng góp cho phát triển kinh tế quốc gia và
những yếu tố tích cực cho tăng trưởng và phát
triển kinh tế thành phố, nhưng có những dấu
hiệu cho thấy sự phát triển kinh tế TP.HCM
thiếu tính bền vững thể hiện gồm (1) xu hướng
xuất khẩu và đầu tư nước ngoài đang phát triển
chậm lại (tốc độ tăng trưởng thấp hơn tốc độ
tăng bình quân cả nước và tỷ trọng giảm đáng
kể); (2) xu hướng khu vực công nghiệp cũng
đang giảm dần về tỷ trọng đặc biệt là các ngành
công nghiệp trọng yếu có hàm lượng công nghệ
cao phát triển còn chậm, các ngành công
nghiệp chủ lực ngày càng giảm dần, khu vực
dịch vụ tăng trưởng cao, nhưng dịch chuyển
nội ngành chưa đẩy nhanh được các ngành dịch
dịch vụ (chiếm 56,4% - 57,4%) - công nghiệp
& xây dựng (chiếm 41,6% - 42,6%) - nông
nghiệp & lâm nghiệp & thủy sản (chiếm 0,9%).
Nhưng xu hướng hiện nay khu vực công
nghiệp-xây dựng đang giảm về tỷ trọng (dưới
40%). Nguyên nhân, giảm tỷ trọng công nghiệp
có thể là do nhiều ngành công nghiệp thâm
dụng lao động của TP.HCM bị các tỉnh lân cận
cạnh tranh; (ii) năng suất các nhân tố tổng hợp
(TPF) bị giảm là do công nghệ, quản lý chậm
đổi mới, chất lượng lao động kém, thiếu đầu tư
chiều sâu. Dù chất lượng lao động của
TP.HCM cao hơn mức bình quân cả nước
nhưng lại thấp hơn chất lượng lao động của TP.
Đà Nẵng và Hà Nội; (iv) chất lượng môi
trường sống thấp là do phát triển nóng với công
nghệ lạc hậu tạo chất thải CO2 lớn, cùng với
gia tăng nhập cư cơ học vào TP.HCM ngày
càng cao và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.
Từ những kết luận nêu trên, dưới đây chúng
tôi xin có một số kiến nghị thúc đẩy phát triển
kinh tế TP.HCM theo hướng bền vững gồm:
5.2. Các kiến nghị
Thứ nhất, cần xác định lại mô hình phát
triển kinh tế, theo đó không cần đặt ra tốc độ
tăng trưởng quá cao mà cần sự ổn định.
Chuyển đổi nền kinh tế từ chiều rộng sang
chiều sâu, lấy chất lượng tăng trưởng làm nền
tảng cho sự phát triển.
nghề đào tạo trên địa bàn thành phố.
Thứ năm, tiếp tục cải thiện môi trường đầu
tư tại TP.HCM và cả nước trong đó cần chú
Trang 43
Science & Technology Development, Vol 17, No.Q3-2014
trọng cơ sở hạ tầng mềm bên cạnh đầu tư về cơ
sở hạ tầng cứng để tạo sự đồng bộ trong chính
sách thu hút đầu tư và hạ thấp chi phí đầu tư.
Thứ sáu, cải thiện môi trường sống và bảo
vệ môi trường thiên nhiên, hạn chế tác động
của biến đổi khí hậu. Cụ thể TP.HCM cần xem
xét lại quy hoạch hạn chế các ngành, các doanh
nghiệp có nhiều chất thải bẩn, các dự án gây ô
nhiễm và hạn chế triều cường. Ngoài ra,
TP.HCM cần có vành đai xanh trong phát triển
khu vực ngoại thành giữ quy mô đất canh tác
nhất định để phát triển nông – lâm nghiệp kết
hợp môi trường sinh thái. TP.HCM cần có biện
pháp kết hợp với các tỉnh lân cận và các
chương trình quốc gia về phòng chống biến đổi
khí hậu cũng như phối hợp với các tỉnh điều
chỉnh chính các luồng nhập cư theo quy hoạch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Niên giám thống kê TP.HCM năm
1990,1995, 2000, 2005,2012, 2013.