Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh sóc trắng - Pdf 34

1

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1. Lý do chọn đề tài
Ngành xây dựng là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái sản xuất tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm
lực kinh tế của đất nước. Hơn thế nữa, đầu tư xây dựng gắn liền với việc ứng dụng
các công nghệ hiện đại nên góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đối với các ngành sản xuất vật chất. Phát triển doanh nghiệp xây dựng còn có mối
quan hệ tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ
tích lũy nói riêng với nguồn vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong
lĩnh vực xây dựng. So với các ngành sản xuất khác, xây dựng có những đặc điểm
kinh tế kỹ thuật đặc thù, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng
tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng.
Đặc thù sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, cơ cấu lao động không đồng đều, kiến trúc đặc
trưng, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ
xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần
phải phù hợp với văn hóa dân tộc. Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây
dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia và do đó chất lượng của các công trình
xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý. Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của
công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng.
Phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là quan tâm đến sản phẩm xây dựng
mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về chính sách nhà nước, nguồn tài chính,
nguồn nhân lực, kết nối thị trường, môi trường, công nghệ, kiến trúc xây dựng,... Nó
rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo
một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định,
nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành
được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Những đặc điểm này có tác động lớn
tới quá trình phát triển doanh nghiệp xây dựng.

công nghệ phù hợp, cơ sở hạ tầng đầy đủ.
Từ vấn đề đặt ra, định hướng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng,
tác giả sử dụng mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) để làm sáng tỏ lý
thuyết trong nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Với những lý do


3
trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển
doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng”.
2. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Neck (1977) đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát
triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến Gibb (1993) đã phát triển một khung khái
niệm cho việc đánh giá sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các
nước khu vực miền Trung và Đông Âu. Sau này các khung lý thuyết hình thành và
phát triển, điển hình một số công trình nghiên cứu thực nghiệm về phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng nghiên cứu
như Bangladesh (Rahman, 2004; Khan, 2012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) và
tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kenya (Wekesa Bunyasi; Henry
Bwisa and Gregory, 2014).
Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Bangladesh của Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy có 06 yếu
tố tác động đến phát triển doanh nghiệp bao gồm: các khả năng của các doanh nhân
(CE), hỗ trợ tài chính (F), hỗ trợ của chính phủ (G), công nghệ phù hợp (T), kết nối
thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), cơ sở hạ tầng đầy đủ (I). Môi trường
nghiên cứu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bangladesh cũng phù hợp với tình
trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Đặc biệt, phần lớn các doanh nghiệp Việt
Nam thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trường hợp nghiên cứu doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực xây dựng thì vận dụng mô hình nghiên cứu của Chowdhury, Islam,
Alam (2013) phải điều chỉnh lại một số yếu tố và bổ sung thêm một số yếu tố mới
để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Vì

Những đóng góp của luận án thể hiện qua các mặt sau:
1) Luận án đã góp một phần vào vận dụng lý thuyết phát triển doanh nghiệp
nhằm làm sáng tỏ trường hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng.
2) Luận án đã góp phần phát hiện một số yếu tố mới bổ sung vào mô hình phát
triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng
3) Luận án đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh
Sóc Trăng trong thời gian tới.


5
6. Kết cấu luận án
Luận án nghiên cứu với những nội dung chính được chia thành 5 chương cụ
thể như sau.
Tổng quan về nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự
phát triển các doanh nghiệp xây dựng.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp xây
dựng tỉnh Sóc Trăng.
Chương 4: Thực trạng về phát triển các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng.
Chương 5: Giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời
gian tới.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Các phụ lục


6
Chương 1


7
đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính
đáng của người tiêu dùng.
Doanh nghiệp xây dựng: Doanh nghiệp xây dựng cũng là một tổ chức kinh
tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn,
thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi
nhuận. Doanh nghiệp xây dựng hình thành trên cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia, phụ
thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định. Trong kinh tế thị
trường sự đa dạng, phong phú của loại hình doanh nghiệp xây dựng là một tất yếu
khách quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (Luật doanh nghiệp số
60/2005/QH11).
1.1.2 Khái niệm phát triển doanh nghiệp
Một khái niệm có thể được mô tả như là một sự trình bày tổ chức có trật tự,
hay cách mô tả về một hệ thống và hiện tượng. Trong khi một khái niệm có thể đơn
giản hoá quá trình giải quyết vấn đề thì nó lại thiếu chính xác để đưa ra các dẫn xuất
có hệ thống. Đứng trên nguyên tắc phân loại - trong đó mô tả hiện tượng thực
nghiệm bằng cách lắp chúng thành một tập hợp. Tuy nhiên, không chặt chẽ, do đó
tính ứng dụng của nó cho các nghiên cứu trong tương lai là hạn chế (Nachmias,
Nachmias, 1991: 40-41). Ngược lại, các mô hình là một công cụ để trợ giúp tư duy
hợp lý (Buffa, Dyer,1977: 10; Saaty và Alexander, 1981: 4-5; Williams, 1990: 3).
Cụ thể, mô hình là một bài thuyết minh đơn giản của một hệ thống hoặc hiện tượng
phức tạp (Buffa, Dyer, 1977: 10). Như mô hình toán học gồm các ký hiệu đại số
hoặc mô hình các hệ thống kinh tế Hoa Kỳ (Williams, 1990: 3; Nachmias and
Nachmias, 1991: 50). Trước tiên tiến hành tìm hiểu khái niệm phát triển doanh
nghiệp.
Khái niệm đánh giá phát triển doanh nghiệp
Gibb (1993) đã phát triển một khung khái niệm cho việc đánh giá sự phát
triển doanh nghiệp trong bối cảnh các nước khu vực miền Trung và Đông Âu. Khái
niệm thể hiện sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào:

nhất với phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nguồn nhân lực, và cấu trúc quy
trình làm việc sẽ đạt được hiệu quả nhất.
Hossain (1998) trong kết quả báo cáo đã nhấn mạnh phát triển doanh nghiệp
chính là rào cản pháp lý, điều kiện pháp luật và trật tự nghèo đói của xã hội, là một
số trong những vấn đề khác có tác động đến bất lợi về phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ.


9
Qudus, Rashid (2000) cũng cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã
phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu khi bắt đầu xây dựng một doanh
nghiệp.
Rahman (2004) đã chỉ ra rằng các khó khăn phát triển doanh nghiệp là ảnh
hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: thiếu các kỹ
năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp, kích thước giới hạn của thị
trường và tốc độ tăng trưởng thấp, và thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây
dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn.
Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần tử kết hợp
bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên
kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm.
Chowdhury, Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là
đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp và giả định rằng có mối quan hệ tích cực
giữa các yếu tố tăng trưởng được mô tả như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài
chính, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho
các sản phẩm, cơ sở hạ tầng đầy đủ. Cùng với khái niệm phát triển doanh nghiệp
chính là sự tăng trưởng của doanh nghiệp được Gladys N. Wekesa Bunyasi; Bwisa,
Gregory (2014) tiếp tục đưa ra khung khái niệm phát triển doanh nghiệp tiếp cận
thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển độc lập của doanh
nghiệp vừa và nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và
doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

tạo, thiếu kỹ năng cần thiết trong việc bắt đầu và quản lý các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có công nhân có tay nghề cao và có kinh nghiệm
với giáo dục đại học có thể sẽ hiệu quả hơn (Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan 2003).
Các nghiên cứu khác (Lee, 2001, Yousuf, 2003, Camp, Anderson, 2000) tìm ra rằng
khả năng công nghệ thấp là một hạn chế lớn trong phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Khan (2004) cho rằng các khó khăn sau đây tác động đến sự tăng trưởng của
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: (a) thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ,
(b), thiếu tổ chức công nghiệp, (c) kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng
trưởng thấp, và (d) thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công
nghệ nghèo nàn. Trường hợp nghiên cứu này cho thấy thiếu các kỹ năng ở tất cả các
cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp thì ở các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam là
không phù hợp; phần lớn các kỹ năng nghề nghiệp của nhân viên, kỹ sư, kiến trúc
sư và cả nhân công đều được đào tạo đúng ngành nghề, đồng thời được làm việc


11
trong môi trường ngành xây dựng nhiều năm. Nhưng kích thước giới hạn thị trường,
thiếu chính sách đúng đắn và trình độ công nghệ đối với nền kinh tế chuyển đổi như
ở Việt Nam thì phát triển các doanh nghiệp xây dựng là vấn đề cần được quan tâm
và vận dụng vào nghiên cứu để phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng. Một
số công trình nghiên cứu trước như Qudus, Rashid (2000) cho rằng các nhà kinh
doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu
khi bắt đầu xây dựng một doanh nghiệp. Begum (1993) báo cáo về mức trung bình
những nỗ lực của chính phủ và chính sách các ưu đãi đã làm chậm quá trình tăng
trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.
Ngân hàng phát triển Châu Á (2009) đã nêu bật những khó khăn sau đây
như: hạn chế tiếp cận tài chính, khan hiếm tín dụng trung và dài hạn, hạn chế kết
nối với thị trường, thiếu hệ thống thông tin xếp hạng tín dụng cho khách hàng vay.
Thiếu sót trong thị trường nội bộ là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp

Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và
nhỏ phụ thuộc vào giải quyết những vấn đề còn hạn chế đến phát triển doanh
nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Bangladesh phải đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát triển và tăng
trưởng. Những trở ngại này làm cho các doanh nghiệp địa phương ngày càng khó
khăn. Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cung
cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể.
Nhìn chung, cũng giống nghiên cứu của Khan (2004) được Jahangir H.
Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012)
tiếp tục kế thừa các yếu tố như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, cơ sở
hạ tầng đầy đủ, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, kết nối thị trường. Nếu chúng
ta vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt
Nam. Tuy nhiên, nếu kế thừa một số yếu tố sẽ phù hợp với điều kiện phát triển
doanh nghiệp ở Việt Nam như yếu tố hỗ trợ chính phủ có thể chuyển thành yếu tố
chính sách nhà nước; kế thừa các yếu tố công nghệ phù hợp; kết nối thị trường, đều
này cho thấy công nghệ phù hợp là vấn đề rất quan trọng đối với các doanh nghiệp
xây dựng ở Việt Nam. Khi thi công một công trình xây dựng thì doanh nghiệp xây
dựng ngoài những yếu tố khác thì công nghệ phù hợp là vấn đề chính góp phần xây
dựng thành công công trình. Đối với yếu tố kết nối thị trường ở các doanh nghiệp
xây dựng Việt Nam chưa được liên kết mạnh mẽ giữa thị trường các tỉnh trong khu
vực đồng bằng sông Cửu Long, có nghĩa là doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh nào thì


13
phát triển ở thị trường tỉnh đó, chưa tạo thêm sức mạnh kết nối thị trường trong xây
dựng. Từ yếu tố kết nối thị trường là vấn cần thiết cho các doanh nghiệp xây dựng
hiện nay.
Căn cứ vào các thảo luận kết quả nghiên cứu ở trên thì các khó khăn để phát
triển doanh nghiệp xây dựng trong bối cảnh tỉnh Sóc Trăng có thể được phân loại
thành: chính sách của nhà nước, tiếp cận nguồn vốn, thị trường, nguồn nhân lực,


Khan, Nazmul, Hossain,

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

tố 1

tố 2

tố 3

tố 4

tố 5

tố 6

tố 7

(2002);

Tan



(2003);

Chowdhury, Amin (2011)


Chen, Lasker (2010)
Njuangang,

Douglas,

Liyanage

(2010);

Fairfield,

Joel



Kent

Harmon,


2006). Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các quan điểm của các cơ quan cho vay
(thường là khó khăn với việc xử lý các khoản vay nhỏ).
Các thủ tục cho vay hiện nay của các tổ chức tín dụng Việt Nam được cho là
cồng kềnh, quá quan liêu và tài sản thế chấp được xem là quá mức. Trước tiên, các
quan chức nói rằng hầu hết các doanh nghiệp huy động nguồn vốn không trình bày
các nghiên cứu khả thi hoặc thuyết phục bằng kế hoạch kinh doanh hấp dẫn. Do đó,
được coi rủi ro cao. Thứ hai, ngay cả những doanh nghiệp với kế hoạch kinh doanh
hấp dẫn không được vay bởi thiếu tài sản thế chấp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp
không có tài khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng chính thức, mà ngân hàng yêu
cầu cần vay. Một lý do nữa là doanh nghiệp đã không đưa ra bất kỳ một nhượng bộ
về điều kiện cho vay của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có
thể tồn tại trong nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam. Điều này cho thấy một số cải cách
của việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp.
Trong giai đoạn phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trải qua tình trạng
thiếu nguồn vốn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có thể được hiển thị để tồn
tại cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain,
Rahmatullah, 2012). Trong khi các ngân hàng muốn thay đổi các quy tắc cho vay
đối với các doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của Kamunge, Njeru, Tirimba
(2014), yếu tố khả năng tiếp cận nguồn vốn vay có tác động đến doanh nghiệp ở
Kenya. Nghiên cứu cho thấy nguồn vốn (hỗ trợ tài chính) được xem xét tác động ở
khía cạnh thành công của doanh nghiệp xây dựng, khả năng huy động tài chính từ
bên ngoài tác động vào nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng, mối liên quan giữa
tiếp cận nguồn vốn và sự phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ nguồn


16
vốn tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhóm tác giả Khan,
Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy
nguồn vốn sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Như thảo luận ở trên
về nguồn vốn phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ lý thuyết đã tiếp cận, tác giả

vốn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xây dựng thâm hụt nguồn vốn. Các rủi ro
điều hành chính sách của nhà nước cũng làm cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là
những người nước ngoài, ngày càng không tin vào môi trường kinh doanh triển
vọng của doanh nghiệp.
Một số mục tiêu chiến lược dài hạn rất quan trọng trong bối cảnh này, cũng
như sự kiên nhẫn và quyết tâm để xem chính sách đó từ đầu đến cuối, và điều này
sẽ đòi hỏi một mức độ cao của tính nhất quán trong hoạch định chính sách. Việc
phân tích các yếu tố chính sách và thể chế rõ ràng đã cho thấy rằng Việt Nam đã
cung cấp chính sách và hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển chưa đáp ứng kịp nhu
cầu phát triển của doanh nghiệp.
Các chính sách hỗ trợ của nhà nước đã nhấn mạnh vào yếu tố quyết định
chính như đào tạo và cung ứng của các doanh nhân, thị trường mối quan hệ, và công
nghệ đặc biệt cho ngành xây dựng. Tuy nhiên, một tầm nhìn dài hạn rõ ràng và tiến
bộ về vai trò của các phát triển doanh nghiệp chưa được phản ánh nhiều trong chính
sách nhà nước. Điều này cho thấy một số nghiên cứu điển hình về hỗ trợ chính sách
của nhà nước như Khan (2004) cho rằng khó khăn về thiếu chính sách đúng đắn và
mang tính xây dựng sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa. Chính sách và thể chế phù hợp sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012). Việc phân tích
các chính sách và các yếu tố thể chế rõ ràng đã tiết lộ rằng Bangladesh đã không
được cung cấp chính sách và hỗ trợ thể chế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc khó
tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Kết quả nghiên cứu của Chowdhury,
Islam, Alam (2013) khẳng định hỗ trợ chính phủ có tác động đến phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh.
Từ kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính sách nhà nước có tác động vào phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp
theo. Dựa vào sơ lược yếu tố hỗ trợ chính sách nhà nước có mối quan hệ kết nối với
phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả
đưa ra giả thuyết thứ 3 như sau:


tố quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới.
Mặt khác, các chế độ chính sách và thể chế của nhà nước cũng không tạo ra
một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù hợp. Theo Huq, Love


19
(2001) các liên doanh nói chung rất bảo thủ trong việc thay đổi công nghệ mới.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về các đặc điểm như hạn chế công nghệ sẽ ảnh
hưởng đến phát triển doanh nghiệp (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003). Công nghệ
xây dựng được đo lường thông qua yếu tố của kiến thức tạo nên cấu trúc mô hình
hóa doanh nghiệp theo hệ thống tổ chức (Chen, Lasker, 2010). Công nghệ phù hợp
có tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul,
Hossain, Rahmatullah, 2012). Nghiên cứu của Chowdhury, Islam Alam (2013) tiếp
tục có kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng công nghệ phù hợp sẽ tác động đến
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh.
Từ kết quả nghiên cứu công nghệ phù hợp sẽ tác động vào phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp theo. Dựa
vào sơ lược yếu tố công nghệ phù hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh
nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết
thứ 5 như sau:
H5: Công nghệ phù hợp có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp
xây dựng.
(6) Kiến trúc xây dựng
Trong kiến trúc xây dựng không thiếu sự sáng tạo nhưng họ thường thiếu sự
tự do để có thể mặc sức khai thác khả năng sáng tạo của mình. Khách hàng luôn đặt
ra những yêu cầu, xây dựng phải được sự thỏa hiệp giữa ý tưởng sáng tạo và điều
kiện thực tế. Nếu những giới hạn đó được dỡ bỏ, các kiến trúc sư sẽ cho ra đời
những tòa nhà độc đáo tới mức nào. Những công trình kiến trúc dần mọc lên ở
thành phố Hồ Chí Minh không giống với những ngôi nhà bình thường, đó có thể coi
là những tác phẩm nghệ thuật của kiến trúc xây dựng.

vệ môi trường. Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có phần
lớn nằm trong khối doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quan trắc và
phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, hầu như
các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về bảo
vệ môi trường như: chưa lập hoặc đã có nhưng thực hiện không đúng các yêu cầu
trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo
vệ môi trường…) chưa thực hiện quan trắc môi trường định kỳ trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, không đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn Việt
Nam trước khi thải ra môi trường.
Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù


21
hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái
niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 7 như sau:
H7: Môi trường xây dựng có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp
xây dựng.
1.4 Thiết kế mô hình lý thuyết phát triển doanh nghiệp
1.4.1 Cơ sở đề xuất mô hình
Bản chất cơ bản của mô hình là bao gồm các tính năng quan trọng, các yếu
tố, các hệ thống hay vấn đề được nghiên cứu, và quan trọng hơn là khả năng giải
thích và dự đoán các mối quan hệ có liên quan trong số các yếu tố nguyên nhân và
các hiệu ứng (Buffa và Dyer, 1977: 10). Nó cho phép xây dựng các đề xuất thực
nghiệm để kiểm tra bản chất của các mối quan hệ nhân quả (Nachmias và 1991: 4546).
Mô hình này được xây dựng dựa trên một nghiên cứu thực nghiệm đặc trưng
được thiết kế để cho phép quan sát các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Chowdhury, Islam, Alam, 2013) có 06 yếu tố tác
động đến phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát

vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ.
Yếu tố kiến trúc xây dựng: Kiến trúc xây dựng vừa mang tính khoa học kỹ
thuật vừa mang tính nghệ thuật. Nghiên cứu thiết kế công trình từ đơn lẻ đến quần
thể thỏa mãn hai yêu cầu: công năng và thẩm mỹ (ví dụ: nhà ở, trường học, trụ sở
cơ quan, cầu đường,…). Như vậy, kiến trúc xây dựng phải hài hòa với khung cảnh
thiên nhiên, khí hậu; Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường
sông nước; Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian; Tính kế thừa dòng kiến trúc
truyền thống.
Yếu tố môi trường: Hiện nay các doanh nghiệp xây dựng là áp lực môi
trường lớn đối với cộng đồng xã hội, nhà nước nơi doanh nghiệp đang thi công công
trình. Các doanh nghiệp cần thực hiện tiêu chuẩn yêu cầu cần thiết môi trường và
sản phẩm công trình xây dựng, các kết cấu của nó và vật liệu xây dựng dưới tác
động của môi trường bên ngoài, như sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong
thi công ít gây ô nhiễm, mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong sản xuất/xây
dựng công trình, hàng năm doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và
kinh doanh xây dựng.


23
Yếu tố nguồn nhân lực: nguồn nhân lực doanh nghiệp xây dựng hiện nay
thông việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh vực xây dựng là áp lực lớn đối với
các nhà quản lý doanh nghiệp. Đồng thời nguồn nhân lực có vai trò vị trí quan trọng
đối với phát triển doanh nghiệp xây dựng.
Yếu tố phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp theo Qureshi, Herani
(2011); Bunyasi; Henry, Gregory (2014) là sự tăng trưởng doanh nghiệp (tăng lợi
lợi nhuận, tăng doanh thu bán hàng và tăng trưởng doanh nghiệp). Trong trường
hợp nghiên cứu này được điều chỉnh lại phát triển doanh nghiệp xây dựng là: Tăng
cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh
nghiệp; Cải thiện thu nhập doanh nghiệp; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng
trưởng doanh nghiệp như mong muốn.

Tổng nguồn

Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn

vốn
I.

Nông,

vốn

lâm 20 tỷ đồng trở từ

trên

10 từ trên 20 tỷ từ trên 200

nghiệp và thủy xuống

người

sản

200 người

II. Công nghiệp 20 tỷ đồng trở từ

tỷ đồng

300 người

10 từ trên 10 tỷ từ

trên

người đến 50 đồng đến 50 tỷ người
người

đồng

đến

50
đến

100 người

Nguồn: Từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ

2. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà
cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
Hiện nay, doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm trên 97% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển
doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011). Do đó, các doanh nghiệp xây dựng
tại tỉnh Sóc Trăng là một địa bàn của cả nước, nên các phát triển các doanh nghiệp
xây dựng Sóc Trăng cũng là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp khi vận
dụng mô hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh của Mohammed

(CN)

H6
H7

Môi trường (MT)

Kiến trúc xây dựng
(KTXD)

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7);
Trong đó:
X1: yếu tố nguồn vốn (NV);
X2: yếu tố kết nối thị trường (TT);
X3: yếu tố chính sách nhà nước (CS);
X4: yếu tố nguồn nhân lực (NL);
X5: yếu tố công nghệ phù hợp (CN);
X6: yếu tố môi trường (MT);
X7: yếu tố kiến trúc xây dựng (KT)
Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)
Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng
phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề được mô tả trong hình 1.1. Đánh giá
tổng quan nghiên cứu nêu trên hỗ trợ tất cả các vấn đề trong mô hình của tác giả đề
xuất. Vì vậy, mô hình của tác giả đề xuất là phù hợp với nghiên cứu mô hình lý
thuyết trên.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status