Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng - Pdf 41

Header Page 1 of 89.

1

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1. Lý do chọn đề tài
Ngành xây dựng là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái sản xuất tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm
lực kinh tế của đất nước. Hơn thế nữa, đầu tư xây dựng gắn liền với việc ứng dụng
các công nghệ hiện đại nên góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đối với các ngành sản xuất vật chất. Phát triển doanh nghiệp xây dựng còn có mối
quan hệ tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ
tích lũy nói riêng với nguồn vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong
lĩnh vực xây dựng. So với các ngành sản xuất khác, xây dựng có những đặc điểm
kinh tế kỹ thuật đặc thù, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng
tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng.
Đặc thù sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, cơ cấu lao động không đồng đều, kiến trúc đặc
trưng, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ
xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần
phải phù hợp với văn hóa dân tộc. Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây
dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia và do đó chất lượng của các công trình
xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý. Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của
công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng.
Phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là quan tâm đến sản phẩm xây dựng
mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về chính sách nhà nước, nguồn tài chính,
nguồn nhân lực, kết nối thị trường, môi trường, công nghệ, kiến trúc xây dựng,... Nó
rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo
một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định,
nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành

khác nhau như: ngành công nghiệp xây dựng, tác động của các dịch vụ hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp nhỏ khá hạn chế trong bối cảnh các nước đang phát triển
(Timberg, 1992). Điển hình là nghiên cứu khảo sát các yếu tố tác động đến sự tăng
trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Khan (2004); Khan,
Nazmul, Hossain, Rahmatullah, (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013). Phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được nghiên cứu ở các khía cạnh như các yếu tố khả
năng doanh nhân, hỗ trợ tài chính, kết nối thị trường, hỗ trợ chính sách nhà nước,
công nghệ phù hợp, cơ sở hạ tầng đầy đủ.
Từ vấn đề đặt ra, định hướng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng,
tác giả sử dụng mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) để làm sáng tỏ lý
thuyết trong nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Với những lý do

Footer Page 2 of 89.


Header Page 3 of 89.

3

trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển
doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng”.
2. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Neck (1977) đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát
triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến Gibb (1993) đã phát triển một khung khái
niệm cho việc đánh giá sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các
nước khu vực miền Trung và Đông Âu. Sau này các khung lý thuyết hình thành và
phát triển, điển hình một số công trình nghiên cứu thực nghiệm về phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng nghiên cứu
như Bangladesh (Rahman, 2004; Khan, 2012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) và
tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kenya (Wekesa Bunyasi; Henry

 Khám phá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng
 Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến phát triển doanh nghiệp xây
dựng tỉnh Sóc Trăng.
 Đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố tác động đến phát triển doanh
nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.
 Phạm vi nghiên cứu của luận án là các doanh nghiệp xây dựng đang hoạt
động trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
 Phạm vi thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận án được thu thập bao gồm
dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí, Niên
giám thống kê tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh. Dữ liệu sơ cấp thu được
thông qua các bảng khảo sát 257 doanh nghiệp xây dựng và được thiết kế
phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp của luận án thể hiện qua các mặt sau:
1) Luận án đã góp một phần vào vận dụng lý thuyết phát triển doanh nghiệp
nhằm làm sáng tỏ trường hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng.
2) Luận án đã góp phần phát hiện một số yếu tố mới bổ sung vào mô hình phát
triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng
3) Luận án đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh
Sóc Trăng trong thời gian tới.

Footer Page 4 of 89.


Header Page 5 of 89.


Mục đích của chương này là phát triển lý thuyết các khái niệm nghiên cứu
trong luận án. Phân tích một số mô hình hiện tại có liên quan đến việc thúc đẩy và
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng,
đồng thời đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp. Một số giả
thuyết cũng được phát triển liên quan đến các vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên
cứu được đặt ra ở trên.
1.1 Một số khái niệm và phát triển doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Luật doanh nghiệp quy định về
việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
(sau đây gọi chung là doanh nghiệp) theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11
ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006). Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra
sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối
Footer Page 6 of 89.


Header Page 7 of 89.


• Văn hóa;
• Sự khởi đầu và tồn tại của doanh nghiệp;
• Sự tăng trưởng doanh nghiệp;
Footer Page 7 of 89.


Header Page 8 of 89.

8

• Hỗ trợ cơ sở hạ tầng.
Chính sách, hoạt động hỗ trợ, tổ chức, và nhu cầu của các doanh nghiệp nhỏ
để hỗ trợ và của xã hội cho các doanh nghiệp nhỏ. Chính sách phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, cả từ quan điểm vĩ mô cũng như từ quan điểm cụ thể cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong từng ngành.
Neck (1977) đã đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc
phát triển các doanh nghiệp. Như thể hiện mô hình khái niệm có ba yếu tố quan
trọng, đó là: Quản lý, Tổ chức và Môi trường. Có hai bước trong mô hình:
Bước 1: Giai đoạn bắt đầu
Để phân tích sự cần thiết nghiên cứu và phù hợp của các yếu tố chính
Bước 2: Hoạt động khắc phục hậu quả
Để có biện pháp khắc phục cần thiết, dựa trên những phát hiện trong giai
đoạn bắt đầu nhằm có hành động khác để hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Do đó, mô hình cung cấp khung khái niệm cho việc phát triển các
doanh nghiệp nhỏ bằng cách cải thiện các kỹ năng, kiến thức và thái độ của chủ
doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ của các đại lý.
Gibb and Manu (1990) đã phát triển một mô hình trong bối cảnh phát triển
doanh nghiệp nhỏ, hiệu quả của tổ chức hỗ trợ, là phụ thuộc vào tình hình, có thể
được đánh giá theo mức độ phù hợp giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các tổ
chức hỗ trợ về con người, cấu trúc và quy trình làm việc. Giả thuyết cơ bản được sử

đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp và giả định rằng có mối quan hệ tích cực
giữa các yếu tố tăng trưởng được mô tả như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài
chính, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho
các sản phẩm, cơ sở hạ tầng đầy đủ. Cùng với khái niệm phát triển doanh nghiệp
chính là sự tăng trưởng của doanh nghiệp được Gladys N. Wekesa Bunyasi; Bwisa,
Gregory (2014) tiếp tục đưa ra khung khái niệm phát triển doanh nghiệp tiếp cận
thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển độc lập của doanh
nghiệp vừa và nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và
doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cuối cùng, theo quan điểm tác giả vận dụng và đề nghị làm sáng rõ khái
niệm phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là đo lường
sự tăng trưởng của doanh nghiệp và có mối quan hệ tác động giữa các yếu tố đến
tăng trưởng, được mô tả như nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, thị trường,
công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng, môi trường và chính sách nhà nước.
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển doanh
nghiệp
Nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự phát triển doanh nghiệp là cơ sở
khái niệm. Mặc dù, không có nhiều công trình nghiên cứu cơ sở về những hạn chế
của sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp vừa và
Footer Page 9 of 89.


Header Page 10 of 89.

10

nhỏ, nhưng có một số lớn lượng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp như (Bannock,
2002; Batra, Tan, 2003; Chowdhury, 2007) đã chỉ ra những thách thức mà các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt thường xuyên. Doanh nghiệp vừa và nhỏ
khác nhau về các đặc điểm như hạn chế nguồn nhân lực (nguồn vốn, nhân lực, công

Header Page 11 of 89.

11

trong môi trường ngành xây dựng nhiều năm. Nhưng kích thước giới hạn thị trường,
thiếu chính sách đúng đắn và trình độ công nghệ đối với nền kinh tế chuyển đổi như
ở Việt Nam thì phát triển các doanh nghiệp xây dựng là vấn đề cần được quan tâm
và vận dụng vào nghiên cứu để phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng. Một
số công trình nghiên cứu trước như Qudus, Rashid (2000) cho rằng các nhà kinh
doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu
khi bắt đầu xây dựng một doanh nghiệp. Begum (1993) báo cáo về mức trung bình
những nỗ lực của chính phủ và chính sách các ưu đãi đã làm chậm quá trình tăng
trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.
Ngân hàng phát triển Châu Á (2009) đã nêu bật những khó khăn sau đây
như: hạn chế tiếp cận tài chính, khan hiếm tín dụng trung và dài hạn, hạn chế kết
nối với thị trường, thiếu hệ thống thông tin xếp hạng tín dụng cho khách hàng vay.
Thiếu sót trong thị trường nội bộ là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp
nhỏ và vừa, và xoay quanh các kỹ năng quản lý, kiến thức tài chính, thiếu chuyên
môn trong tiếp thị và quản lý nguồn nhân lực (Ligthelm and Cant, 2002). Không
cần phải đề cập đến các yếu tố tiếp thị như không có khả năng tiến hành nghiên cứu
thị trường, sản phẩm hoặc dịch vụ kém, hiểu sai xu hướng khách hàng và nhu cầu
cũng tác động đến phát triển của doanh nghiệp nhỏ.
Jahangir H. Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura
Rahmatullah (2012) đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển
doanh nghiệp bao gồm: Doanh nhân (E), hỗ trợ tài chính (F), chính sách phù hợp và
thể chế (P), các mối liên kết (L), công nghệ phù hợp (T), và mối quan hệ thị
trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), và f là định dạng của các mô hình, D là mục
tiêu hoặc tăng trưởng của doanh nghiệp. Mô hình có dạng D = f (E, F, P, L, T,
M,............). P là mẫu số nguyên tố là viết tắt của phần cứng và phần mềm của tổ
chức là chịu trách nhiệm cho sự phát triển doanh nghiệp). Rõ ràng từ những nghiên

Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012)
tiếp tục kế thừa các yếu tố như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, cơ sở
hạ tầng đầy đủ, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, kết nối thị trường. Nếu chúng
ta vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt
Nam. Tuy nhiên, nếu kế thừa một số yếu tố sẽ phù hợp với điều kiện phát triển
doanh nghiệp ở Việt Nam như yếu tố hỗ trợ chính phủ có thể chuyển thành yếu tố
chính sách nhà nước; kế thừa các yếu tố công nghệ phù hợp; kết nối thị trường, đều
này cho thấy công nghệ phù hợp là vấn đề rất quan trọng đối với các doanh nghiệp
xây dựng ở Việt Nam. Khi thi công một công trình xây dựng thì doanh nghiệp xây
dựng ngoài những yếu tố khác thì công nghệ phù hợp là vấn đề chính góp phần xây
dựng thành công công trình. Đối với yếu tố kết nối thị trường ở các doanh nghiệp
xây dựng Việt Nam chưa được liên kết mạnh mẽ giữa thị trường các tỉnh trong khu
vực đồng bằng sông Cửu Long, có nghĩa là doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh nào thì
Footer Page 12 of 89.


Header Page 13 of 89.

13

phát triển ở thị trường tỉnh đó, chưa tạo thêm sức mạnh kết nối thị trường trong xây
dựng. Từ yếu tố kết nối thị trường là vấn cần thiết cho các doanh nghiệp xây dựng
hiện nay.
Căn cứ vào các thảo luận kết quả nghiên cứu ở trên thì các khó khăn để phát
triển doanh nghiệp xây dựng trong bối cảnh tỉnh Sóc Trăng có thể được phân loại
thành: chính sách của nhà nước, tiếp cận nguồn vốn, thị trường, nguồn nhân lực,
môi trường, công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng. Chính sách nhà nước nghĩa là
chính phủ sẽ trực tiếp hỗ trợ sự phát triển và tăng trưởng của khu vực này bằng cách
cung cấp tất cả các phương tiện để khuyến khích và hỗ trợ, giải quyết các vấn đề về
phát triển bao gồm các yếu tố hỗ trợ chính phủ (North 1990; Binks & Coyne 1983).


Khan, Nazmul, Hossain,

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

Yếu

tố 1

tố 2

tố 3

tố 4

tố 5

tố 6

tố 7

(2002);

Tan



(2003);

Chowdhury, Amin (2011)


Chen, Lasker (2010)
Njuangang,

Douglas,

Liyanage

(2010);

Fairfield,

Joel



Kent

Harmon,


rộng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự khan hiếm nghiêm trọng các
nguồn vốn cần thiết (Chowdhury, 2007). Người ta có thể tranh luận rằng các doanh
nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ thất bại cao hơn do các hạn chế về tài chính. Một số
nghiên cứu điển hình như (Marsden, 1992; Steel, 1994; Chowdhury, 2007; Mintoo,
2006). Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các quan điểm của các cơ quan cho vay
(thường là khó khăn với việc xử lý các khoản vay nhỏ).
Các thủ tục cho vay hiện nay của các tổ chức tín dụng Việt Nam được cho là
cồng kềnh, quá quan liêu và tài sản thế chấp được xem là quá mức. Trước tiên, các
quan chức nói rằng hầu hết các doanh nghiệp huy động nguồn vốn không trình bày
các nghiên cứu khả thi hoặc thuyết phục bằng kế hoạch kinh doanh hấp dẫn. Do đó,
được coi rủi ro cao. Thứ hai, ngay cả những doanh nghiệp với kế hoạch kinh doanh
hấp dẫn không được vay bởi thiếu tài sản thế chấp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp
không có tài khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng chính thức, mà ngân hàng yêu
cầu cần vay. Một lý do nữa là doanh nghiệp đã không đưa ra bất kỳ một nhượng bộ
về điều kiện cho vay của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có
thể tồn tại trong nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam. Điều này cho thấy một số cải cách
của việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp.
Trong giai đoạn phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trải qua tình trạng
thiếu nguồn vốn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có thể được hiển thị để tồn
tại cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain,
Rahmatullah, 2012). Trong khi các ngân hàng muốn thay đổi các quy tắc cho vay
đối với các doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của Kamunge, Njeru, Tirimba
(2014), yếu tố khả năng tiếp cận nguồn vốn vay có tác động đến doanh nghiệp ở
Kenya. Nghiên cứu cho thấy nguồn vốn (hỗ trợ tài chính) được xem xét tác động ở
khía cạnh thành công của doanh nghiệp xây dựng, khả năng huy động tài chính từ
bên ngoài tác động vào nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng, mối liên quan giữa
tiếp cận nguồn vốn và sự phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ nguồn
Footer Page 15 of 89.



gồm cả các khoản vay, các cơ sở đào tạo, các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, và
cung cấp các nguyên liệu ở mức trợ cấp cho các doanh nghiệp phát triển ổn định và
lâu dài. Các nhóm chuyên gia cũng chỉ ra sự thiếu hụt nguồn vốn và đặc biệt là của
ngoại hối là một trở ngại nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp hiện nay. Hơn nữa,
diễn biến này đã ảnh hưởng tới kế hoạch để biết thêm tích lũy và hình thành nguồn
Footer Page 16 of 89.


Header Page 17 of 89.

17

vốn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xây dựng thâm hụt nguồn vốn. Các rủi ro
điều hành chính sách của nhà nước cũng làm cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là
những người nước ngoài, ngày càng không tin vào môi trường kinh doanh triển
vọng của doanh nghiệp.
Một số mục tiêu chiến lược dài hạn rất quan trọng trong bối cảnh này, cũng
như sự kiên nhẫn và quyết tâm để xem chính sách đó từ đầu đến cuối, và điều này
sẽ đòi hỏi một mức độ cao của tính nhất quán trong hoạch định chính sách. Việc
phân tích các yếu tố chính sách và thể chế rõ ràng đã cho thấy rằng Việt Nam đã
cung cấp chính sách và hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển chưa đáp ứng kịp nhu
cầu phát triển của doanh nghiệp.
Các chính sách hỗ trợ của nhà nước đã nhấn mạnh vào yếu tố quyết định
chính như đào tạo và cung ứng của các doanh nhân, thị trường mối quan hệ, và công
nghệ đặc biệt cho ngành xây dựng. Tuy nhiên, một tầm nhìn dài hạn rõ ràng và tiến
bộ về vai trò của các phát triển doanh nghiệp chưa được phản ánh nhiều trong chính
sách nhà nước. Điều này cho thấy một số nghiên cứu điển hình về hỗ trợ chính sách
của nhà nước như Khan (2004) cho rằng khó khăn về thiếu chính sách đúng đắn và
mang tính xây dựng sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa. Chính sách và thể chế phù hợp sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa

của họ có tác động đến phát triển doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury,
Amin, 2011).
Từ kết quả nghiên cứu nguồn nhân lực có tác động vào phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, yếu tố nguồn nhân lực có mối quan hệ kết nối với phát triển
doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả
thuyết thứ 4 như sau:
H4: Nguồn nhân lực có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây
dựng.
(5) Công nghệ phù hợp
Các doanh nhân thường đến từ khu vực nông thôn thiếu đào tạo chính quy và
thiếu kinh nghiệm công nghệ hoặc kinh doanh và kỹ năng. Trong ngắn hạn, họ thiếu
sự năng động để bắt tay vào thay đổi. Mặt khác, các chế độ chính sách của nước
cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù
hợp. Rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách của chính phủ và đặc biệt là các nhà
quy hoạch đã thể hiện nhận thức của họ về sự cần thiết phải thúc đẩy năng lực công
nghệ, bởi đây là động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mới, đặc
biệt Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quy hoạch phải có ý quy định một số yếu
tố quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới.
Mặt khác, các chế độ chính sách và thể chế của nhà nước cũng không tạo ra
một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù hợp. Theo Huq, Love
Footer Page 18 of 89.


Header Page 19 of 89.

19

(2001) các liên doanh nói chung rất bảo thủ trong việc thay đổi công nghệ mới.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về các đặc điểm như hạn chế công nghệ sẽ ảnh
hưởng đến phát triển doanh nghiệp (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003). Công nghệ


Header Page 20 of 89.

20

chỉ có ở doanh nghiệp xây dựng và lĩnh vực doanh nghiệp khác không có chức năng
tư vấn kiến trúc xây dựng, việc đưa yếu tố kiến trúc xây dựng vào nghiên cứu doanh
nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là phù hợp với lĩnh vực của doanh nghiệp. Việc
định hướng phát triển kiến trúc xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng nhằm đáp ứng với nhu
cầu xây dựng công trình và kiến trúc tạo dấu ấn trong không gian đô thị và nông
thôn trên cơ sở khai thác tốt những tiến bộ, văn minh thế giới, đồng thời phải đảm
bảo phát huy tốt những đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc.
Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù
hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái
niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 6 như sau:
H6: Kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tích cực đến phát triển doanh
nghiệp xây dựng.
(7) Môi trường xây dựng
Doanh nghiệp quan tâm đến môi trường có khả năng tác động đến việc ra
quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010). Vấn đề môi trường có mối quan
hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác động của ngành xây
dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011). Thực trạng tại tỉnh Sóc Trăng,
hầu hết các doanh nghiệp xây dựng đều vi phạm các quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường. Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có phần
lớn nằm trong khối doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quan trắc và
phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, hầu như
các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về bảo
vệ môi trường như: chưa lập hoặc đã có nhưng thực hiện không đúng các yêu cầu

ngày càng khó khăn. Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thể cung cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể.
Mô hình nghiên cứu lý thuyết các yếu tố tác động đến phát triển các doanh
nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng sử dụng mô hình lặp lại của Chowdhury, Islam,
Alam (2013), mô hình này được điều chỉnh cho phù hợp với ngành xây dựng ở Sóc
Trăng. Kết quả nghiên cứu định tính (ở chương 2), thông qua thảo luận nhóm, giữ
lại 4 yếu tố (nguồn vốn, công nghệ phù hợp, hỗ trợ chính sách nhà nước, kết nối thị
trường) của mô hình gốc, loại bỏ 2 yếu tố (khả năng doanh nhân, cơ sở hạ tầng đầy
đủ), đồng thời mô hình được bổ sung thêm 3 yếu tố mới (kiến trúc xây dựng, môi
trường, nguồn nhân lực).
Các yếu tố bổ sung là: Yếu tố kiến trúc xây dựng chính là kiến trúc thiết kế
xây dựng thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến việc
Footer Page 21 of 89.


Header Page 22 of 89.

22

thực hiện trong bản vẽ thông qua dự án và theo cách thông thường của thiết kế xây
dựng công trình đối với doanh nghiệp (Souza, 2009). Yếu tố môi trường có khả
năng tác động đến việc ra quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010), môi
trường có mối quan hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác
động của ngành xây dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011). Yếu tố
nguồn nhân lực là nguyên nhân chính của phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
(Ligthelm, Cant, 2002; Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan, 2003) và nguồn nhân lực
tác động đến doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury, Amin, 2011). Do
tính đặc thù doanh nghiệp xây dựng, bởi sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng tạo
ra là công trình dân dụng, xây dựng nhà ở, khách sạn, trụ sở làm việc, trường học.

đối với phát triển doanh nghiệp xây dựng.
Yếu tố phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp theo Qureshi, Herani
(2011); Bunyasi; Henry, Gregory (2014) là sự tăng trưởng doanh nghiệp (tăng lợi
lợi nhuận, tăng doanh thu bán hàng và tăng trưởng doanh nghiệp). Trong trường
hợp nghiên cứu này được điều chỉnh lại phát triển doanh nghiệp xây dựng là: Tăng
cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh
nghiệp; Cải thiện thu nhập doanh nghiệp; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng
trưởng doanh nghiệp như mong muốn.
Tóm lại, từ lập luận như trên tác giả rút ra 7 yếu tố quan trọng để làm cơ sở
nghiên cứu tiếp theo, bao gồm: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà
nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ phù hợp; Môi trường; Kiến trúc xây dựng. Đồng
thời kết hợp với phân tích thực trạng và những vấn đề đặc thù phát triển doanh
nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, và vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu các
yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.
1.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ tác động đến phát triển
doanh nghiệp xây dựng được dựa trên mô hình gốc của Mohammed S.Chowdhury,
Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Bangladesh, được điều chỉnh cho phù hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây
dựng Sóc Trăng. Trước tiên chúng ta tìm hiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy
mô, lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng được quy định ở Việt Nam. Tại Điều 3, Nghị
định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ được định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ như
sau:
1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Footer Page 23 of 89.


10 từ trên 20 tỷ từ trên 200

nghiệp và thủy xuống

người

sản

200 người

II. Công nghiệp 20 tỷ đồng trở từ
và xây dựng

xuống

đến đồng đến 100 người

trên

người

tỷ đồng

III. Thương mại 10 tỷ đồng trở từ
xuống

trên

đến



Nguồn: Từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ

2. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà
cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
Hiện nay, doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm trên 97% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển
doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011). Do đó, các doanh nghiệp xây dựng
tại tỉnh Sóc Trăng là một địa bàn của cả nước, nên các phát triển các doanh nghiệp
xây dựng Sóc Trăng cũng là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp khi vận
dụng mô hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh của Mohammed
S.Chowdhury, Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) vào nghiên cứu trường hợp phát
triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.
Mô hình nghiên cứu đề xuất phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc
Trăng như sau:

Footer Page 24 of 89.


Header Page 25 of 89.

25
Nguồn vốn (NV)

Kết nối thị trường
(TTXD)
H1
Chính sách nhà nước
(CS)


X3: yếu tố chính sách nhà nước (CS);
X4: yếu tố nguồn nhân lực (NL);
X5: yếu tố công nghệ phù hợp (CN);
X6: yếu tố môi trường (MT);
X7: yếu tố kiến trúc xây dựng (KT)
Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)
Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng
phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề được mô tả trong hình 1.1. Đánh giá
tổng quan nghiên cứu nêu trên hỗ trợ tất cả các vấn đề trong mô hình của tác giả đề
xuất. Vì vậy, mô hình của tác giả đề xuất là phù hợp với nghiên cứu mô hình lý
thuyết trên.
Footer Page 25 of 89.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status