ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
============================
NGÔ BÁ KHIÊM
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
============================
NGÔ BÁ KHIÊM
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN KIM ĐỈNH
HÀ NỘI - 2012
1.1. Điều kiện phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh .............................. 11
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa ............................................... 11
1.1.2. Thực trạng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000 . 15
1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch ......... 17
1.3. Chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành
phố Hồ Chí Minh ............................................................................................ 21
1.3.1. Chủ trương và biện pháp ................................................................... 21
1.3.2. Quá trình trình tổ chức thực hiện....................................................... 24
1.3.3. Kết quả hoạt động kinh tế du lịch ...................................................... 32
Chương 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO
TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2006
ĐẾN NĂM 2010 .......................................................................................38
2.1. Những điều kiện mới tác động tới sự phát triển kinh tế du lịch thành phố
Hồ Chí Minh.................................................................................................... 38
1
2.2. Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh với chủ trương đẩy mạnh phát triển
kinh tế du lịch trong những năm 2006 – 2010 ................................................ 43
2.3. Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thành phố ........................ 50
2.3.1. Quá trình chỉ đạo thực hiện ............................................................... 50
2.3.2. Kết quả: .............................................................................................. 61
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .......................... 67
3.1. Một số nhận xét ........................................................................................ 67
3.2. Một số kinh nghiệm ................................................................................. 82
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố trong phát triển kinh
tế du lịch địa phương theo hướng đồng bộ, hiện đại, đi vào chiều sâu. Nâng
nhận thức của các cấp các ngành, của nhân dân Thành phố về vai trò và
hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành kinh tế du lịch. .................................... 82
NXB:
Nhà xuất bản
TOUR:
Chuyến du lịch
Tp:
Thành phố
HCM:
Hồ Chí Minh
PRESS TOUR:
Du lịch khảo sát
UBND:
Ủy ban nhân dân
VTV:
Đài truyền hình Việt Nam
3
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất khu vực phía Nam, là
đầu tàu kinh tế của khu vực cũng là trung tâm văn hóa, khoa học giáo dục lớn
nhất khu vực. Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố phát
triển trong khu vực Đông Nam Á, với vị trí nằm ở trung tâm của khu vực với
mạng lưới giao thông đường bộ, hàng không và đường thủy, thành phố Hồ
Chí Minh là một trong những cầu nối giữa Việt Nam và quốc tế.
Với vị trí ấy, thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương giàu tiềm
năng để phát triển kinh tế du lịch với những sản phẩm du lịch mang tính đặc
thù. Xuất phát từ những tiềm năng to lớn ấy, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
đã xác định kinh tế du lịch là một ngành kinh tế trọng điểm của Thành phố.
Dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ, UBND, Ngành du lịch Thành phố không
ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhiều năm liền Thành
phố thu hút hơn 50% lượng khách du lịch trong cả nước, du lịch đã mang lại
hiệu quả kinh tế cao cũng như giải quyết nhu cầu việc làm và đáp ứng nhu cầu
của đông đảo nhân dân. Tuy nhiên trong thời gian qua, ngành du lịch Thành
phố cũng còn một số yếu kém, khuyết điểm chưa phát huy hết tiềm năng thế
mạnh của địa phương về kinh tế du lịch. Trong đó, có những nguyên nhân
khách quan mang lại, cũng có nguyên nhân chủ quan từ sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng bộ Thành phố đối với ngành kinh tế quan trọng này.
Từ thực tiễn trên có thể thấy, việc nghiên cứu, đường lối, chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh là
cần thiết để tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra bài học
kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển ngành kinh tế quan
trọng của Đảng bộ địa phương. Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng
bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000
đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam của mình.
6
T.P. Hồ Chí Minh Nxb Trẻ, 2007. Tác phẩm tập trung phân tích tiềm năng,
đưa ra giải pháp nhằm khai thác lễ hội và các sự kiện nhằm góp phần phát
triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên một số báo và tạp chí cũng đăng tải nhiều bài viết về du lịch như:
“Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam”
(2005) của Trần Đức Thanh, tạp chí du lịch Việt Nam, số 2, tr 20 -21. Bài viết
đã khái quát đường lối phát triển du lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới và
những thành tựu mà du lịch nước ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Để
du lịch Việt Nam không mãi là tiểm ẩn” (2008) của Phạm Hạnh, tạp chí Tài
chính doanh nghiệp, số 3, tr 36 – 37. Bài viết nêu những đóng góp của du lịch
Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội, so sánh du lịch Việt Nam với các
nước trong khu vực Đông Nam Á. Bước tiến của du lịch Việt Nam sau khi ra
nhập WTO và những vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp du lịch Việt Nam.
“Du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam” của
Nguyễn Đình Hòa (2006), tạp chí Kinh tế và phát triển, số 103, tr11-17…
- Hai là, các luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu:
“Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2010” (luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đoàn Liêng Diễm năm
2003). Luận án đã phân tích tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển du lịch bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và tiềm
năng phát triển, giải pháp và phác họa mô hình phát triển du lịch bền vững ở
Thành phố. “Tiềm năng văn hóa du lịch thành phố Hồ Chí Minh” (luận văn
Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Quế Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm
1998). Tác giả đã phân tích khá sâu sắc những tiềm năng văn hóa du lịch ở
Thành phố Hồ Chí Minh, luận giải những giá trị văn hóa có thể đưa vào khai
thác, phát triển ngành kinh tế du lịch của Thành phố.
triển du lịch từ năm 2000 đến năm 2010, phân tích những thành tựu và rút
8
ra kinh nghiệm.
* Nhiệm vụ:
- Trình bày đường lối, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng
bộ thành phố Hồ Chí Minh trong những năm từ năm 2000 đến năm 2005 và
từ năm 2006 đến năm 2010.
- Phân tích thực trạng quá trình thực hiện đường lối, chủ trương phát
triển kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
- Làm rõ những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm của Đảng bộ thành
phố Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh nhằm
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010
- Quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế
du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh và những kết quả đạt được
trong hoạt động kinh tế du lịch của Thành phố.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: nghiên cứu những chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ
Chí Minh về phát triển kinh tế du lịch, quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành
phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển kinh tế du lịch.
- Địa bàn: thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Nguồn tài liệu luận văn sử dụng bao gồm:
triển kinh tế du lịch từ năm 2006 – 2010
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm
10
Chương 1
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Điều kiện phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' –
106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía tây bắc giáp tỉnh Tây
Ninh, đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền
nam Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường
bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ Biển Đông 50 km theo đường chim
bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh
là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường
không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế quan trọng
của Việt Nam. Điều kiện vị trí này tạo điều kiện thuận lợi lớn cho sự phát
triển du lịch.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa –
khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ
tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới
270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình là 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C,
thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung
bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm.
Một năm, nơi đây có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các
thàng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Cũng như
Hệ thống giao thông đô thị của thành phố Hồ Chí Minh cũng phát triển
mạnh mẽ bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ với nhiều trục đường lớn
12
tỏa ra nhiều hướng trong thành phố, một số tuyến đường hiện đại có ý nghĩa
to lớn với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như khu
vực phía Nam nói chung như đại lộ Nguyễn Văn Linh, cao tốc thành phố Hồ
Chí Minh – Trung Lương và hệ thống đường nối với trục đường xuyên Á…
Hệ thống đường hàng không với cảng hàng không Tân Sơn Nhất là một trong
những cảng hàng không lớn của cả nước cùng với hệ thống giao thông đường
thủy với cảng Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển
của kinh tế.
Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) có lịch sử phát triển hơn 300 năm,
với vai trò là trung tâm của khu vực phía Nam, nơi đây cũng là nơi hội tụ của
nhiều dòng văn hóa trong lịch sử, hòa quyện tạo nên những nét riêng cho giá
trị văn hóa của Thành phố. Có thể nói, thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử
hơn 300 năm, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử, tạo nên nguồn
tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, có thế mạnh so với nhiều địa phương
trong nước.
Di tích lịch sử văn hóa: Cho đến tháng 9/ 2006 Thành phố có 86 di tích
được xếp hạng: 54 di tích cấp quốc gia trong đó 26 di tích lịch sử, 26 di tích
kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích khảo cổ; 32 di tích cấp thành phố.
Di tích văn hóa khảo cổ: Hai di tích khảo cổ được công nhận là di tích
cấp quốc gia là di tích mộ chum Giồng Cá Vồ và Lò gốm cổ Hưng Lợi và
hàng chục di tích khảo cổ khác mới phát hiện.
Di tích lịch sử: Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu
như: Hội Trường Thống Nhất. Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược:
khu căn cứ Rừng Sác, Địa đạo Củ Chi, khu dân công hỏa tuyến Mậu Thân
có hai công trình kiến trúc đặc sắc khác, đó là Đền thờ vua Hùng dựng năm
1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa từ
năm 1929.
Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên là một khu liên hợp vui chơi giải trí tại
14
quận 9. Kiểu cách kiến trúc và các thể loại vui chơi được gắn lồng vào các
hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam. Khu du lịch “Một Thoáng
Việt Nam” là một quần thể làng nghề thủ công truyền thống, có diện tích 22,5
ha. Khu du lịch bao gồm 30 hạng mục với: đền thờ đất nước, sa bàn nước
Việt Nam, lầu vọng, ba khu tiêu biểu cho ba miền đất nước. Bên cạnh là khu
văn hóa ẩm thực, đảo nuôi chim thú tự nhiên, khu chợ hàng tiểu thủ công
nghiệp, chợ trên sông, vườn cây ăn trái...
1.1.2. Thực trạng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000
Hoạt động du lịch của Thành phố được bắt đầu từ ngay những ngày đầu
giải phóng với sự ra đời của Công ty Du lịch thành phố Hồ Chí Minh (Sai
Gon Tourist) vào tháng 8 năm 1975. Bên cạnh nhiệm vụ chính trị, ngành du
lịch lúc bấy giờ từng bước tìm cách tiếp cận với thị trường quốc tế. Năm 1979
Công ty Sai Gon Tourist được phép trực tiếp ký kết hợp đồng phục vụ khách
ở một số thị trường Ấn Độ, Pháp, Nhật, Ý, Canada, Úc... và đến năm 1984 lần
đầu tiên ngành du lịch thành phố tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế ITB tại
Cộng hòa Liên Bang Đức.
Năm 1990, năm du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ
chức nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, giới thiệu
hình ảnh một điểm đến mới mẻ đến với bè bạn quốc tế.
Đồng hành với sự chuyển động tích cực của du lịch thành phố là quá
trình hoàn thiện không ngừng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch. Cho tới
trước năm 2000, đã có 04 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
lượng. Ngành du lịch phát triển góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hội
nhập quốc tế, tăng cường hiểu biết, giao lưu văn hóa giữa Thành phố với
nhiều địa phương của các nước khác.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành du lịch cũng còn một số tồn
tại như: sản phẩm du lịch còn hạn chế, ít đầu tư theo chiều sâu, chất lượng
nhiều nơi chưa đảm bảo; thiếu thông tin thị trường, hiệu quả hoạt động xúc
16
tiến quảng bá chưa cao, vốn đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực
chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, công tác quản lý còn nhiều bất cập…
Với tất cả những kết quả đạt được cũng như những điểm tồn tại đặt ra
yêu cầu cho Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cần nhận thức sâu
sắc, trên cơ sở đánh giá thực trạng để có chủ trương, giải pháp thích hợp
nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch trong thời gian tiếp theo.
1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch
Luật Du lịch Việt Nam xác định: “Du lịch là các hoạt động liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định” [29, tr.9].
Như vậy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội.
Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới không chỉ mang
lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội.
Du lịch cũng như mọi ngành kinh tế khác, muốn khai thác tốt tiềm năng
của nó để phát triển cần có đường lối đúng, chính sách phù hợp, đây là một
trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy ngành kinh tế này phát
triển. Một quốc gia dù có nhiều nguồn lực về tài nguyên du lịch, tuy nhiên
Tiếp tục những thành tựu mà ngành kinh tế du lịch đã đạt được, cùng
với những điều kiện mới có thể khai thác để góp phần thúc đẩy ngành kinh tế
du lịch tiếp tục phát triển, chủ trương phát triển du lịch Việt Nam đã được thể
hiện rõ nét hơn. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010
được nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001), chủ
trương phát triển du lịch được nâng lên: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở
thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả
hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền
18
thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển
nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực. Xây
dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm và
đẩy mạnh hợp tác liên kết với cả nước” [15, tr.178].
Như vậy ngành du lịch không những được quan tâm chú trọng mà thật
sự đã đặt ra yêu cầu đưa nước ta sớm trở thành một trung tâm du lịch có thể
so sánh trong khu vực, đồng thời trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn bên
cạnh một số ngành khác. Không chỉ xác định mục tiêu, Đảng cũng đưa ra
định hướng cụ thể hơn về phát triển du lịch: “Nâng cao chất lượng, quy mô và
hiệu quả hoạt động du lịch. Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt
động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm…
Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, văn hóa,
lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Xây dựng và nâng
cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước trong hoạt động
du lịch” [15, tr.287]. Ngoài việc đưa ra đường lối phát triển chung cho ngành
du lịch trên phạm vi cả nước, trong “định hướng phát triển các vùng lãnh
thổ”, Đại hội Đảng toàn quốc lần IX cũng nêu chủ trương phát triển du lịch
gắn với điều kiện của từng vùng lãnh thổ nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so
toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy truyền thống văn
hóa, bản sắc dân tộc và nhân phẩm của con người Việt Nam” [5, tr.1 – 2 ].
Nhằm định hướng phát triển lâu dài cho ngành du lịch, Chính phủ đã ra
Quyết định số 97/2002/QĐ – TTg ngày 22/07/2002 phê duyệt Chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010. Trong đó khẳng định “Từng bước
đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu
sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du
lịch phát triển trong khu vực” [51, tr.1].
Đến năm 2005 trên cơ sở kế thừa những giá trị của Pháp lệnh du lịch
năm 1999, đồng thời để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngày 14/06/2005,
20
Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật du lịch. Luật du lịch năm
2005 gồm 11 chương, 88 điều bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thực
hiện điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở tầm cao hơn, khẳng định
một lần nữa vị thế của ngành du lịch không chỉ ở chủ trương, chính sách mà
còn được thể chế hóa một cách cụ thể bằng luật. Không chỉ điều chỉnh các
mối quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở trong nước, luật du lịch năm 2005 còn là
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm mở rộng giao lưu, hợp tác giữa du lịch Việt
Nam và du lịch quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm cho việc thực hiện
chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và
có hoạt động liên quan đến du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần phát
triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là cơ sở quan trọng cho
các địa phương đưa ra chủ trương phát triển của địa phương mình.
1.3. Chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện của
[40, tr.17]. Nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Thành phố, cũng như
khai thác tài nguyên du lịch nhà vườn, du lịch sinh thái, kết hợp nông nghiệp
với du lịch, Hội nghị chủ trương: “Kinh tế vườn kết hợp với du lịch sinh thái
ở ngoại thành nhằm phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài nước. Xây
dựng và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ” [40, tr.16].
Không chỉ phát huy những giá trị du lịch, sản phẩm du lịch truyền thống, chủ
trương đa dạng hóa sản phẩm du lịch là một hướng đi tích cực không chỉ
mang lại giá trị kinh tế cho ngành kinh tế du lịch mà còn thúc đẩy các ngành
kinh tế khác phát triển, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho
nhân dân, đặc biệt là các hộ nông dân khu vực ngoại thành.
Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
(khoá VII) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27 tháng 10 năm
22