Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn các trường trung học phổ thông huyện hải hậu, tỉnh nam định - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

MAI QUẢNG ĐẠI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HẢI HẬU,
TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

MAI QUẢNG ĐẠI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN


CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HẢI HẬU,
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH VIỆT HÒA

HÀ NỘI - 2016



Mai Quảng Đại

3


MỤC LỤC
Lời cảm ơn
i
Lời cam đoan
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng
vii
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
viii
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ
CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
5
1.2. Một số khái niệm liên quan của đề tài
8
1.2.1. Quản lý và chức năng quản lý
8
1.2.2. Quản lý giáo dục

12

1.5. Vị trí trường trung học phổ thông trong Hệ thống giáo dục quốc dân
28
1.6. Một số yêu cầu đổi mới đối với trường trung học phổ thông trong giai đoạn
hiện nay
30
1.6.1. Đổi mới nội dung giảng dạy
30
1.6.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy

31

1.6.3. Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh

32

1.6.4. Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn

32

1.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn
1.7.1. Yếu tố chủ quan

33
33

1.7.2. Yếu tố khách quan

35

Tiểu kết chương 1

2.2.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn
46
2.3. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn
47
2.3.1. Thực trạng công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch chuyên môn và kế
hoạch giảng dạy bộ môn của tổ chuyên môn

47

2.3.2. Thực trạng sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn

48

2.3.3. Thực trạng thực hiện quy chế chuyên môn và hồ sơ chuyên môn

50

2.3.4. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng các chuyên đề

51

2.3.5. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng thiết bị dạy học của
giáo viên trong tổ chuyên môn

52

2.3.6. Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá cho điểm của giáo viên

52




2.5.2. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn

70

Tiểu kết chương 2
71
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ
CHUYÊN MÔN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN
HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
73
3.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
73
3.1.1. Nguyên tắc đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo

73

3.1.2. Nguyên tắc mang tính thực tiễn

73

3.1.3. Nguyên tắc kế thừa và phát triển

74

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

74


92

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
95
3.4. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
97
3.4.1. Khảo sát về mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt động của tổ
chuyên môn các trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 97
3.4.2. Khảo sát về mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động của tổ
chuyên môn các trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu
Tiểu kết chương 3

99
104

6


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

105
105
106
108
111

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2. 1.
Biểu đồ 3. 1.
Sơ đồ 1. 1.
Sơ đồ 3. 1.

Kết quả khảo sát 4 chức năng quản lý hoạt động của tổ
chuyên môn
70
Điểm khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi các biện pháp quản
lý hoạt động của tổ chuyên môn
102
Quan hệ các chức năng quản lý
11
Sơ đồ tổ hợp mối quan hệ giữa 5 biện pháp đề xuất quản lý 96

9


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng Giáo dục và đào tạo là một yêu cầu hết sức cấp
thiết hiện nay nhằm đào tạo ra những công dân có đủ phẩm chất, năng lực đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Để thực hiện tốt vấn đề này, một
trong những giải pháp có tính chất quyết định là nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp về xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp
ứng yêu cầu trong tình hình mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã xác định:“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dụcViệt Nam theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,

hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng còn mang tính chủ quan, làm theo
kinh nghiệm, thiếu tính khoa học. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, quản lý hoạt động tổ chuyên
môn của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông ở huyện Hải Hậu, tỉnh
Nam Định là một vấn đề quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động tổ
chuyên môn các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh Nam
Định” làm vấn đề nghiên cứu..
2. Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn và quản lý hoạt động tổ chuyên
môn tại các trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu đang diễn ra như thế
nào?
2) Có những biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn nào góp phần
nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn các trường Trung học phổ
thông huyện Hải Hậu?
3. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học phổ
thông huyện Hải Hậu nếu được áp dụng một cách khoa học, phù hợp với điều
kiện cụ thể của nhà trường sẽ góp phần đem lại hiệu quả trong việc nâng cao
năng lực đội ngũ, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của học sinh.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các văn bản chỉ đạo và thực trạng của

11


các đơn vị về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học phổ
thông huyện Hải Hậu, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ
chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao hiệu quả các hoạt


đến đề tài.
2) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp điều tra (phỏng vấn, phiếu điều tra);
- Phương pháp chuyên gia (hỏi ý kiến chuyên gia);
- Sử dụng toán thống kê để xử lý các kết quả nghiên cứu.
9. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
9.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc quản lý
hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học phổ thông.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở đúc kết những kinh nghiệm quản lý hoạt động tổ chuyên
môn đã có, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn phù
hợp với thực tế và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần
tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở
trường trung học phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các
trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn các
trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

13


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ
CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG



Chất lượng giáo dục của nhà trường phụ thuộc các yếu tố điều kiện cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học và giáo dục; yếu tố con người (đội ngũ giáo viên,
năng lực học sinh, mặt bằng dân trí); sự quan tâm của xã hội; truyền thống,
văn hóa của nhà trường và nhất là năng lực lãnh đạo và quản lý của người
hiệu trưởng. Người hiệu trưởng có vai trò như một thuyền trưởng, xác định
mục đích xa cần đến và các mục tiêu ngắn hơn để từng bước đạt được mục
đích mà mình đã đề ra. Để đạt được mục tiêu đó người hiệu trưởng phải biết
linh hoạt sử dụng các nguồn “năng lượng” để tạo động lực, vận hành các bộ
phận để vận hành chung con tàu; phải biết các điểm mạnh, điểm yếu để hạn
chế khuyết điểm, phát huy ưu điểm của từng bộ phận; phải biết “sửa chữa”,
“tinh chỉnh” tạo sự hài hòa và sự liên kết giữa các bộ phận để giúp con tàu
vận hành trơn tru. Trong tất cả các vận hành ấy, hoạt động chuyên môn được
xem là loại vận hành chính - vận hành xương sống của nhà trường.
Hoạt động của tổ chuyên môn trong các trường trung học phổ thông
thời gian qua phần lớn hoạt động theo các quy định chung của Ngành, ngoài
ra tùy theo đặc thù của từng trường mà hoạt động chuyên môn ở mỗi trường
cũng có những nét riêng. Tùy đặc điểm, tình hình về nhiều yếu tố từ chủ quan
người quản lý đến điều kiện khách quan như : điều kiện cơ sở vật chất – thiết
bị dạy học; chất lượng đội ngũ; chất lượng đầu vào của học sinh; sự quan tâm
của gia đình, của xã hội đến sự nghiệp giáo dục của nhà trường. Ngày nay,
với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, giáo dục
không những phải quan tâm giáo dục học sinh một cách toàn diện mà còn
phải quan tâm đến sự phát huy năng lực cá nhân của mỗi em. Do đó, các vấn
đề liên quan đến hoạt động chuyên môn của nhà trường từ chương trình
khung, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức dạy –
học, kiểm tra đánh giá… cho đến công tác đào tạo đội ngũ nhà giáo của các
trường sư phạm trong tương lai cũng phải dần thay đổi, hướng tới việc không
những phải trang bị kiến thức khoa học vững chắc, trang bị nghiệp vụ sư

Tuy nhiên, tại các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh
Nam Định chưa có đề tài khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động
chuyên môn để có biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn hiệu quả hơn.
Với mục đích giúp công tác quản lý hoạt động chuyên môn của nhà trường có
hệ thống; bài bản và khoa học hơn để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
tác giả xin hệ thống các lý luận liên quan, khảo sát thực trạng quản lý hoạt
động tổ chuyên môn tại các trường trung học phổ thông huyện Hải Hậu, tỉnh

16


Nam Định. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ
chuyên môn tại nhà trường.
1.2. Một số khái niệm liên quan của đề tài
1.2.1. Quản lý và chức năng quản lý
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là một từ Hán Việt, theo Bửu Kế : “Quản : Bao trùm, trông coi
tất cả ”, “Lý: chỉnh đốn”, quản lý thường dùng để chỉ người trông coi, sắp
đặt công việc [15, tr. 1516].
Theo Hoàng Phế và các đồng tác giả trong Từ điển Tiếng Việt của Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội năm 1988: Quản lý là một động từ, có nghĩa là
trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức và điều khiển
các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [23, tr. 829].
Quản lý là khái niệm được hình thành, tồn tại trong lao động của xã hội
loài người. Sử gia Daniel A. Wren nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như
chính con người vậy”, nhưng ông cũng ghi nhận rằng chỉ mới gần đây, người
ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình
thành nên các “lý thuyết” Quản lý[9, tr. 23].
Từ thế kỷ XIX tới nay, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Trong đó, Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) – cha đẻ thuyết quản lý

thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt
động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có
trong cả xã hội nguyên thủy, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu
tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ
chức phân phối” [16, tr. 45]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [24, tr. 35].
Trong tác phẩm Đại cương khoa học quản lý, hai tác giả Nguyễn Quốc
Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức ” [9, tr. 9].
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất của hoạt động quản lý
gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình quản gồm sự coi sóc, giữ gìn,
duy trì ở trạng thái ổn định, quá trình lý gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ
đưa vào hệ phát triển. Trong quản phải có lý, trong lý phải có quản để động

18


thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu
quả trong mối tương tác giữa các cá nhân bên trong (nội lực) với các cá nhân
bên ngoài (ngoại lực)”. [1, tr. 14].
Tựu chung lại, quản lý là quá trình tác động có kế hoạch, có chủ đích, hợp
quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm sử dụng hiệu quả các
tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định
[4,tr.43].
1.2.1.2. Các chức năng quản lý
Là 04 chức năng cơ bản mà nhà quản lý thực hiện trong quá trình quản

+ Quyền lực hành chính: Là quyền lực mà người quản lý có được là
nhờ vị trí mình đảm nhận, được công nhận của cấp trên, căn cứ trên quyết
định hành chính. Quyền lực này là quyền lực cấp thấp.
+ Quyền lực uy tín cá nhân: Là loại quyền lực mà người quản lý có
được nhờ sự tin tưởng của các cá nhân trong tổ chức. Nó được hình thành
qua thời gian, thẩm thấu vào trong nhận thức, tiềm thức của các thành viên
khác trong tổ chức qua nhiều yếu tố cá nhân của nhà quản lý;
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Kiểm tra là một chức năng quan trọng
của quản lý, nhờ có chức năng kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết
quả công việc trong từng thời điểm thực hiện hoặc khi đã kết thúc một chu
trình quản lý để có sự điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp,
giải pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo – chỉ đạo lại. quản
lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý.
Các chức năng này quan hệ mật thiết với nhau, có thể biểu diễn theo sơ
đồ quan hệ như sau:
KẾ HOẠCH
Ó

KIỂM TRA
Á

THÔNG TIN
QUẢN LÝ

TỔ CHỨC

Sơ đồ 1. 1. Quan hệ các chức năng quản lý
Qua nghiên cứu về các chức
năng
quản lý, ta thấy: quá trình quản lý

Giáo dục hình thành và tồn tại trong xã hội loài người, là một hoạt
động thực tiễn tồn tại khách quan. Giáo dục là một quá trình hoạt động, để
quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao nhất thiết cần có sự quản lý. Có nhiều
tác giả đã khái quát về quản lý giáo dục như:
- Tác giả M.I.Kônđacốp cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các
biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính.. nhằm đảm bảo vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển
và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [18, tr. 93].

21


- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng
quát là hoạt động phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2, tr. 31].
- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác
của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám
sát một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực)
phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế- xã hội”[17, tr. 10].
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục)
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà
tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo
dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” [13, tr. 61].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt

cũng thực hiện chủ trương đường lối, chính sách giáo dục của Đảng, Nhà
nước, biến các phương châm các hoạt động giáo dục thực tiễn trong nhà
trường thông qua các lực lượng giáo dục nhằm đạt đến mục đích mà nhà
trường đã đề ra.
1.3. Hoạt động tổ chuyên môn
1.3.1. Tổ chuyên môn ở trường trung học phổ thông
Tổ chuyên môn là một loại hình tổ chức trong nhà trường, do hiệu
trưởng quyết định trong cơ cấu tổ chức của nhà trường. Điều 16, Điều lệ
trường trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông
nhiều cấp học được ban hành kèm theo Thông tư 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày
28 tháng 3 năm 2011 – gọi tắt là Điều lệ trường trung học đã quy định: “Mỗi
tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của
Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm vụ vào đầu năm học.”
[5, tr. 10]. Nếu là tổ ghép, gồm nhiều bộ môn khác nhau, có thể phân công
thêm 01 nhóm trưởng phụ trách chuyên môn 01 nhóm.
Khoản 5, điều 8 của Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ

23


thông được ban hành kèm theo Thông tư 28/2009/TT-BGD&ĐT, có quy định
về chế độ làm việc của tổ trưởng chuyên môn: “Tổ trưởng bộ môn được giảm
3 tiết/tuần.” [3, tr. 3]
Trong thực tế, tổ chuyên môn được thành lập khi có đủ từ 03 thành
viên trở lên. Tổ chuyên môn có thể chỉ gồm các thành viên cùng chuyên môn
nhưng cũng có thể gồm các thành viên giảng dạy ở các bộ môn khác nhau, gọi
là tổ ghép. Tổ chuyên môn phải có 01 tổ trưởng, số lượng phó tổ trưởng
chuyên môn phụ thuộc vào số lượng thành viên hoặc do đặc thù ghép tổ. Xét
về mặt số lượng, nếu tổ có đủ từ 07 thành viên trở lên thì hiệu trưởng có thể ra
quyết định bổ nhiệm 01 phó tổ trưởng. Như vậy, tổ chuyên môn là một tổ

việc lập kế hoạch chuyên môn và kế hoạch giảng dạy bộ môn của tổ chuyên
môn và giáo viên trước hết là tạo nên khả năng ứng phó với sự bất ổn trong
thay đổi hoạt động chuyên môn nói chung và dạy học nói riêng. Mặt khác,
từng bước cơ bản tạo sự thích nghi cho đội ngũ đối với sự thay đổi chung của
ngành. Việc xây dựng kế hoạch chuyên môn theo hướng đổi mới, phát huy
tính tích cực sáng tạo của học sinh của tổ chuyên môn thực hiện đầy đủ các
bước xây dựng kế hoạch chuyên môn, bao gồm:
- Tổ trưởng chuyên môn thực hiện phân tích điểm mạnh, điểm yếu về cơ
hội và thách thức cũng như các điều kiện thuận lợi và khó khăn của tổ chuyên
môn, của nhà trường và môi trường bên ngoài để thực hiện xây dựng kế hoạch
đổi mới hoạt động tổ chuyên môn. Thông qua việc phân tích, tổ trưởng
chuyên môn sẽ đánh giá được tình hình tổ chuyên môn, nhà trường, học sinh
và môi trường bên ngoài nhà trường về mọi mặt, nhất là yếu tố con người –
chất lượng và tính thích ứng đối với yêu cầu thay đổi của đội ngũ giáo viên để
có cơ sở kế hoạch hóa đổi mới hoạt động chuyên môn.
- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ năm học mới: Trên cơ sở phân tích
thông tin cần thiết, tổ trưởng chuyên môn nắm bắt tình hình, phát hiện ra các
vấn đề cần giải quyết trong năm học, xác định mục tiêu chuyên môn trong
năm học mới, như: mục tiêu dạy học, mục tiêu hoạt động dạy, mục tiêu hoạt
động học, mục tiêu giáo dục. Căn cứ trên hệ thống các mục tiêu, tổ trưởng
chuyên môn xác định nhiệm vụ của tổ và phải làm rõ nhiệm vụ nào là nhiệm
vụ trọng tâm.
- Xây dựng yêu cầu và các chỉ tiêu: Mỗi nhiệm vụ đã được xác định
đều phải có những yêu cầu nhằm đạt được những chỉ tiêu cụ thể. Nên yêu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status